Hoàn thiện cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở việt nam - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
--------------

NGÔ THANH HOÀNG

Hoàn thiện cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
--------------

NGÔ THANH HOÀNG

Hoàn thiện cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính - Ngân hàng
Mã số

Danh mục các bảng, biểu, hình vẽ, sơ đồ
MỞ ĐẦU

1

Chƣơng 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CƠ CHẾ LẬP DỰ TOÁN CHI NGÂN
SÁCH NHÀ NƢỚC GẮN VỚI KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI

6

1.1. Một số vấn đề cơ bản về lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
trong nền kinh tế thị trƣờng
1.1.1. Khái niệm, yêu cầu lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

6
6

1.1.2. Phương thức, quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

14

1.1.3. Vai trò của lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

25

Những vấn đề cơ bản về lập dự toán ngân sách nhà nƣớc

26



1.3.3. Các công cụ chủ yếu đảm bảo gắn kết lập dự toán ngân sách nhà
nước với lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Tiểu kết chƣơng 1

53
65


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ LẬP DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC GẮN VỚI LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

Thực trạng cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nƣớc hàng năm gắn
với lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua
2.1.1. Cơ chế lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm
2.1.2. Phân tích cơ chế lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm theo
phương pháp truyền thống xét ở góc độ gắn kết với việc lập kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội
2.2. Thực trạng thí điểm cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nƣớc
theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn gắn với lập kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội trung hạn
2.2.1. Tổng quan kế hoạch thí điểm
2.2.2. Thực trạng thực hiện thí điểm xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn
và kế hoạch chi tiêu trung hạn ở tầm quốc gia
2.2.3. Thực trạng thực hiện thí điểm ở một số Bộ và địa phương
2.3. Đánh giá thực trạng cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nƣớc với
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo khuôn khổ trung hạn và
những vấn đề rút ra
2.3.1. Đánh giá chung về kết quả và những tồn tại, nguyên nhân
2.3.2. Những kết luận rút ra từ công tác thí điểm lập dự toán theo khuôn

125
126

SÁCH NHÀ NƢỚC GẮN VỚI LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRUNG HẠN GIAI ĐOẠN 2011-2020 Ở VIỆT NAM

128

Chiến lƣợc, kế hoạch và một số định hƣớng lớn phát triển kinh
tế giai đoạn 2011 - 2020 và những vấn đề đặt ra đối với lập dự
toán ngân sách nhà nƣớc theo khuôn khổ trung hạn
3.1.1. Chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2011 - 2020

128
129

3.1.


3.1.2. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015

132

3.1.3. Những định hướng lớn phát triển kinh tế giai đoạn 2011-2020

136

3.1.4. Những vấn đề đặt ra đối với lập dự toán ngân sách nhà nước theo
khuôn khổ trung hạn gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở
Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

theo khuôn khổ trung hạn

157

3.2.6. Hoàn thiện các công cụ quản lý đảm bảo gắn kết lập dự toán ngân
sách nhà nước với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo khuôn
3.3.

khổ trung hạn

162

Các điều kiện thực hiện giải pháp

173

3.3.1. Về nhận thức và quan tâm chính trị

173

3.3.2. Môi trường pháp lý

174

3.3.3. Về tổ chức bộ máy, sự phối kết hợp trách nhiệm, chia sẻ thông tin
giữa các Bộ, ngành và nâng cao trình độ nhân lực
KẾT LUẬN
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


IPSAS:

Chuẩn mực kế toán công

KBNN:

Kho bạc Nhà nước

KH&ĐT:

Kế hoạch và đầu tư

KH:

Kế hoạch

KHPT:

Kế hoạch phát triển

KT:

Kinh tế

KTXH:

Kinh tế - xã hội

MTEF:


XDCB:

Xây dựng cơ bản


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN ÁN
Số hiệu

Nội dung

Trang

Bảng 1.1: So sánh lập NSNN theo phương thức truyền thống và lập
NSNN theo kết quả đầu ra trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn

36

Bảng 2.1: Tóm tắt quy trình lập dự toán NSNN theo Luật NSNN 2002

70

Bảng 2.2: Biến động thu NSNN so với GDP qua các năm

72

Bảng 2.3: Cơ cấu chi ngân sách nhà nước qua các năm

74


Hình 2.2: Mô hình gắn kết giữa lập dự toán NSNN với KH phát triển
KTXH tại Việt Nam hiện hành

83

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Số hiệu

Nội dung

Trang

Sơ đồ 1.1: Quan hệ giữa các loại kế hoạch trong hệ thống kế hoạch hóa

13

Sơ đồ 1.2: Quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

25

Sơ đồ 1.3: Các yếu tố cơ bản của lập dự toán NS theo đầu ra

35


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cải cách, đổi mới và công khai minh bạch về kinh tế, tài chính luôn là

thí điểm áp dụng cơ chế quản lý NSNN theo đầu ra gắn với kế hoạch tài chính
và khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Cơ chế lập dự toán Ngân sách Nhà nước theo khuôn khổ chi tiêu trung
hạn đã bắt đầu được nghiên cứu và thử nghiệ m ở Việt Nam, tuy nhiên làm thế
nào để có được cơ chế đồng bộ , hoàn thiện nhằm gắn kết cơ chế lập dự toán
với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội để đạt được các mục tiêu kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội vẫn là một

thách thức không chỉ cho những nhà nghiên

cứu mà còn cho cả các nhà quản lý thực tiễn . Việc tách rời giữa việc lập dự
toán NSNN hàng năm với các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong thực tế đang là vấn đề nổi cộm trong công tác quản lý kinh tế, tài
chính hiện nay ở nước ta.
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài : “Hoàn thiện cơ chế lập
dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội ở Việt Nam” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài này có phạm vi rộng , có nhiều vấn đề cần giải quyết , mục tiêu
nghiên cứu của luận án là:
Chỉ rõ các cơ sở khoa học và thực tiễn về cơ chế lập dự toán chi NSNN
đảm bảo sự gắn kết chặ t chẽ với KH phát triển KTXH theo khuôn khổ chi tiêu
trung hạn. Đánh giá cơ chế gắn kết giữa lập dự toán chi NSNN với KH phát
triển KTXH ở Việt Nam những năm qua. Đánh giá, phân tích thực trạng thí
điểm của lập dự toán chi NSNN gắn với KH phát triển KTXH theo khuôn khổ
trung hạn, hay nói cách khác đó là quá trình thí điểm lập MTFF

& MTEF ở

Việt Nam trong thời gian qua . Trên cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như bài
học kinh nghiệm của một số nước đã áp dụng luận án đưa ra một số giải phá p

bằng việc hình thành các dự án nhằm Cải cách Tài chính công trên các nội
dung chính của Tài chính công bao gồm: Lập dự toán Ngân sách Nhà nước


4

theo khuôn khổ trung hạn; Quản lý nợ công; Tích hợp thông tin quản lý Tài
chính công (TABMIS).
TS Phạm Văn Khoan và TS Hoàng Thị Thúy Nguyệt trong “Giáo trình
lý thuyết quản lý Tài chính công” NXB Tài chính 2010 đã đưa ra một số lý
thuyết hiện đại về quản lý tài chính công theo kết quả đầu ra, nhưng chưa đề
cập cụ thể tới phương thức lập dự toán trung hạn và lập KH Tài chính trung
hạn. Luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Minh, với đề tài: “Đổi mới quản lý chi
NSNN trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” bảo vệ năm 2008, đã
nghiên cứu việc đổi mới quản lý chi NSNN, trong luận án này cũng đã đề cập
một phần tới ngân sách trung hạn. Luận án của Vũ Cương với đề tài: “Đổi
mới lập KH phát triển KTXH địa phương gắn với nguồn lực”, bảo vệ năm
2010 đã đi nghiên cứu vấn đề đổi mới lập KH phát triển KTXH địa phương
gắn với các nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực, luận án này chủ yếu đi
sâu nghiên cứu các mô hình kế hoạch trong điều kiện khai thác hiệu quả nhất
các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực từ NSNN.
Cho tới nay ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt
nghiên cứu sâu về cơ chế gắn kết giữa lập dự toán chi NSNN với KH phát triển
KTXH, do đó Luận án này với mục tiêu tiếp theo là hệ thống hóa, đi sâu phân
tích tìm ra nội dung mới nhằm bổ sung cho cơ chế gắn kết giữa lập dự toán
NSNN với KH phát triển KTXH cả trên hai mặt lý luận và thực tiễn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng

, thống kê , so



6

Chƣơng 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CƠ CHẾ LẬP DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH
NHÀ NƢỚC GẮN VỚI KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Để có thể nghiên cứu thiết lập cơ chế gắn kết giữa lập dự toán chi
NSNN với KH phát triển KTXH, điều quan trọng là phải hiểu rõ những vấn
đề mang tính lý thuyết về KH phát triển KTXH và xây dựng dự toán NSNN
trong nền kinh tế thị trường.
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG

1.1.1. Khái niệm, yêu cầu lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Hệ thống kế hoạch là sản phẩm chủ quan của Nhà nước, Nhà nước dựa
vào sự vận động khách quan của tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
đặt ra các mục tiêu, đưa ra các định hướng, thiết lập các chỉ tiêu phấn đấu,
nghiên cứu đề ra các giải pháp thực hiện nhằm điều chỉnh sự vận động của tình
hình kinh tế - xã hội để đạt được mục đích mong muốn. Đó là quá trình hoạt động
xây dựng hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là kết quả chủ quan của Nhà
nước trước sự vận động khách quan của các quy luật của kinh tế thị trường, hệ
thống này hướng tới sự vận động của các quy luật của kinh tế thị trường, tạo ra
sự phân bổ nguồn lực hiệu quả, có lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
Ở nước ta, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN có không ít quan niệm cho rằng đã phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường thì công cụ kế hoạch sẽ không có
đất dung thân, đó là một quan niệm sai lầm. Lý luận cũng như thực tiễn đã minh

chế có lợi nhờ thị trường; (iii) Cơ chế thị trường bao giờ cũng có tính linh
hoạt, gọn nhẹ, cơ động hơn cơ chế kế hoạch hóa. Tuy nhiên, cơ chế thị trường
không phải là một loại thần dược chữa trị bách bệnh, cơ chế thị trường không


8

phải là cây đũa thần quản lý được mọi hoạt động, bản thân cơ chế thị trường
cũng chứa đựng nhiều khuyết tật vốn có của nó. Cụ thể: (i) về mặt xã hội phát
sinh sự phân cực giàu nghèo một cách rõ rệt dẫn đến những mâu thuẫn đối
kháng trong xã hội; (ii) về khía cạnh kinh tế sự phân bổ nguồn lực dựa vào cơ
chế thị trường không phải lúc nào cũng tiết kiệm, đạt hiệu quả cao trong sử
dụng nguồn lực khan hiếm do động cơ chạy theo lợi nhuận đơn thuần dẫn đến
tình trạng ô nhiễm môi trường, phí phạm tài nguyên của đất nước, phát triển
thiếu bền vững.
Do đó, để bảo đảm cho việc phân phối một cách công bằng theo chuẩn
mực của xã hội và bảo đảm phát triển nền kinh tế một cách cân đối bền vững,
hạn chế sự lãng phí nguồn lực, cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước.
Nhà nước can thiệp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo nhiều cách
và công cụ khác nhau, một trong những phương thức và công cụ đó là kế
hoạch hóa. Kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường tồn tại với chức năng cơ
bản là tổ chức những can thiệp của Chính phủ nhằm bảo đảm được các mục
tiêu với chi phí thấp nhất.
- Do có những hạn chế của việc phân bổ nguồn lực khan hiếm của cơ
chế thị trường.
Phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường thường hướng vào chuyển
nguồn lực đầu tư sang lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao nhất, ít chú trọng đến
những lợi ích mà xã hội mong muốn, dẫn đến sự phát triển tổng thể của nền
kinh tế trở nên què quặt, sự bất bình đẳng trong xã hội gia tăng. Các khuyết
tật của thị trường được nghiên cứu chỉ ra bao gồm: Độc quyền, hàng hóa dịch

Nhà nước. Trong hệ thống kế hoạch hóa mỗi loại hình kế hoạch khác nhau có
vai trò khác nhau và chúng có thể phân loại theo góc độ khác nhau.
Nếu phân loại theo góc độ nội dung thì hệ thống kế hoạch hóa bao
gồm các bộ phận cấu thành như: Chiến lược phát triển KTXH; quy hoạch
phát triển KTXH; kế hoạch phát triển KTXH và các chương trình, dự án
phát triển.


10

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hệ thống các phân tích, đánh giá,
lựa chọn về quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển trên các lĩnh vực của
đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản trong đó bao gồm các chính sách về cơ
cấu, cơ chế vận hành hệ thống kinh tế - xã hội nhằm đạt được những mục tiêu
đề ra trong một khoảng thời gian dài. Xây dựng và quản lý bằng chiến lược là
một yêu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trường bởi lẽ: (i) xây dựng và
quản lý bằng chiến lược sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo xem xét, xác định được
đất nước sẽ đi theo hướng nào và khi nào sẽ đạt được những mục tiêu mà mình
mong muốn và để đạt được mục tiêu đó cần có những giải pháp cơ bản nào; (ii)
trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở, môi trường kinh tế - xã hội luôn chịu
nhiều nhân tố tác động, có nhân tố tích cực, có nhân tố tiêu cực quản lý theo
chiến lược sẽ giúp cho các nhà quản lý phát huy được những nhân tố tích cực
và hạn chế những nhân tố tiêu cực; (iii) với việc quản lý bằng chiến lược sẽ
giúp cho các nhà lãnh đạo và quản lý đưa ra được những quyết định tác nghiệp
phù hợp. Chiến lược có chức năng chủ yếu là định hướng, vạch ra các đường
nét chủ yếu cho sự phát triển của đất nước trong thời gian dài. Vì vậy, chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội mang tính chất định tính là chủ yếu (xác định
quan điểm, phương hướng, chính sách…). Tuy nhiên, ở những mức độ nhất
định chiến lược cũng phải có tính định lượng nghĩa là phải có tính toán, có các
dự báo, các luận chứng cụ thể. Nói chung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,

hóa được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta, cùng với quá trình
đổi mới và mở cửa nền kinh tế, phương pháp kế hoạch hóa quản lý theo
chương trình, dự án mà trọng tâm là các chương trình trọng điểm quốc gia
cũng áp dụng rộng rãi kể từ năm 1992.
Nếu phân loại hệ thống kế hoạch hóa theo tiêu chí thời gian thì hệ
thống kế hoạch hóa bao gồm: kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế
hoạch ngắn hạn.
- Kế hoạch dài hạn: Khi nói đến kế hoạch dài hạn ta có thể hiểu đó là
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội có khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm,


12

thậm chí còn dài hơn như chiến lược 50 năm của Trung Quốc, nếu kế hoạch
dài hạn có thời gian trên 20 năm thì người ta gọi là tầm nhìn. Nói chung, khác
với chiến lược, tầm nhìn thường có nội dung tổng quát hơn, linh động hơn,
mềm dẻo hơn và có tính chất định tính hơn so với chiến lược. Kế hoạch dài
hạn thường giải đáp các câu hỏi như: Chúng ta đang đứng ở đâu? Chúng ta
muốn đi tới đâu? Chúng ta đi đến đó bằng cách nào? Và làm thế nào để biết
được chúng ta đang đi đến đó?
- Kế hoạch trung hạn: Có khoảng thời gian từ 3 đến dưới 10 năm,
song thực tế đa phần các nước trên thế giới khi nói đến kế hoạch trung hạn là
kế hoạch 5 năm. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm là sự cụ thể hóa
chiến lược và quy hoạch phát triển. Nó xác định các mục tiêu, chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội trong thời kỳ kế hoạch và xác định
các cân đối, các chính sách phân bổ nguồn lực, vốn cho chương trình phát
triển của khu vực kinh tế nhà nước và khuyến khích phát triển kinh tế của
khu vực tư nhân.
- Kế hoạch ngắn hạn (kế hoạch năm, kế hoạch tác nghiệp): Kế hoạch 5
năm là công cụ định hướng thì kế hoạch hàng năm là công cụ thực hiện. Kế hoạch

LÃNH

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI
HÀNG NĂM

QUY
HOẠCH
PHÁT
TRIỂN
NGÀNH
LĨNH
VỰC

THỔ

Nguồn: Sổ tay hướng dẫn lập kế hoạch, Bộ KH&ĐT [2]

Nhằm phù hợp với sự vận động khách quan của các quy luật của kinh tế
thị trường, trong quá trình xây dựng hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước cần thiết phải quán triệt đầy đủ các yêu cầu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, phân tích, đánh giá đúng thực trạng nền kinh tế - xã hội, hiểu
rõ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai đặt trong bối cảnh
những cơ hội và thách thức của tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
có nhiều biến động theo những chiều hướng khác nhau.
Thứ hai, xác định rõ các mục tiêu cần đạt được của quá trình phát triển
kinh tế - xã hội trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn và các mục tiêu đó phải
có tính khả thi.




15

Hầu hết các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ban đầu đều được xây dựng
trên cơ sở mô hình kinh tế vĩ mô. Về lý thuyết mô hình kinh tế vĩ mô được chia
làm hai loại cơ bản: Mô hình tăng trưởng tổng quát và mô hình đầu vào, đầu ra
liên ngành. Ngoài ra, còn có cách tiếp cận thứ ba là đánh giá dự án và phân tích lợi
ích - chi phí xã hội.
Thứ nhất, phương thức lập kế hoạch theo mô hình tăng trưởng tổng quát.
- Khái quát về mô hình tăng trưởng
Ở hầu hết các nước đang phát triển thường vận dụng mô hình tăng trưởng
tổng quát để lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bản chất của mô
hình này là mô tả toàn bộ nền kinh tế dưới dạng các biến số kinh tế vĩ mô quan
trọng nhất liên quan đến việc xác định mức và tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc
gia như: Tiết kiệm, vốn tích lũy, xuất nhập khẩu, trợ giúp nước ngoài…
Mô hình này là sự biến dạng của mô hình Harrod-Domar do R.E.Harrod và
E. Domar phát triển vào những năm 40 của thế kỷ XX, về cơ bản mô hình này
dựa trên lý thuyết kinh tế của J.M Keynes, mô hình này cho rằng:
(i) Nền kinh tế luôn cân đối ở dưới mức sản lượng tiềm năng, do đó phải
làm thế nào huy động được các yếu tố dư thừa nguồn lực sẽ làm gia tăng mức độ
của sản phẩm tiềm năng;
(ii) Để có thể huy động được các yếu tố nguồn lực dư thừa phải quan tâm
đến vai trò quyết định của đầu tư dưới dạng tích tụ tư bản và coi vấn đề tiết kiệm
là nền tảng của tăng đầu tư;
(iii) Trong ngắn hạn, sự kết hợp giữa lao động và vốn trong quá trình tạo ra
sản phẩm đầu ra là cố định, do đó giữa mức tăng trưởng kinh tế và mức đầu tư
vốn có mối quan hệ với nhau theo tỷ lệ đầu tư tư bản không đổi hay còn gọi là hệ
số ICOR (Hệ số tăng vốn - sản lượng đầu ra).
Như vậy, giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế (g) và tỷ lệ tiết kiệm không đổi
của thu nhập thực tế (s) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được xác định theo

mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã được cấp có thẩm quyền quyết định trước thì
nhiệm vụ của các nhà lập kế hoạch phát triển kinh tế là phải xác định các nhu cầu
về các yếu tố nguồn lực (vốn, lao động); cân đối và phân bổ các yếu tố nguồn lực
nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng. Chẳng hạn mục tiêu tăng trưởng được xác
định là 7% thì s = 7%  k . Giả sử, k = 5 thì s = 35%. Từ cách tính toán này
cho thấy, nếu mục tiêu tăng trưởng kinh tế là 7% thì cần thiết phải huy động
được nguồn vốn đầu tư khoảng 35% GDP của xã hội.
Nói chung, phương thức lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dựa
trên mô hình tăng trưởng tổng quát cho phép xác lập được các con số kế
hoạch dựa trên những yếu tố trọng yếu quyết định đến quá trình phát triển đó
là tiết kiệm và đầu tư. Tuy nhiên, việc lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã


17

hội dựa trên mô hình tăng trưởng tổng quát có nhược điểm cơ bản là thường
chỉ đưa ra một ước lượng sơ bộ đầu tiên về những phương hướng chung của
nền kinh tế, nó không tạo được kế hoạch phát triển tác nghiệp, kế hoạch
chuyển dịch cơ cấu kinh tế… Áp dụng mô hình này trong lập kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội thiếu vắng những thông tin về các ngành công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ - là những ngành quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế của đất nước.
Thứ hai, phương thức lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo
bảng cân đối liên ngành.
- Khái quát bảng cân đối liên ngành
Năm 1941 GS Wassily Leontief, nhà kinh tế học người Mỹ gốc Nga,
giải thưởng Nobel kinh tế học năm 1973, trình bày Mô hình cân đối liên
ngành (còn gọi là mô hình I/O) trong công trình “Cấu trúc nền kinh tế Hoa
Kỳ”, được cho là cha đẻ của mô hình I/O. Ngày nay, mô hình I/O được vận
dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lập kế hoạch phát triển kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status