Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
MỤC LỤC
Mục lục ................................................................................................................... 02
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 06
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Đầu tư kinh tế ................................................................................................. 09
1.1.1. Khái niệm về đầu tư............................................................................ 09
1.1.2. Đầu tư kinh tế...................................................................................... 11
1.2. Đầu tư kinh tế từ vốn ngân sách nhà nước.................................................. 12
1.2.1. Khái niệm............................................................................................ 12
1.2.2. Phân loại vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ...................................... 14
1.2.3. Mục đích của đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước ............................... 15
1.2.4. Vai trò của đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước ................................... 19
Chương 2:
THỰC TRẠNG VỀ CƠ CHẾ ĐẦU TƯ
TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM
2.1. Khái quát tình hình đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước tại Việt Nam thời
gian qua .................................................................................................................. 20
2.1.1. Hiệu quả của đồng vốn đầu tư ............................................................ 20
2.1.2. Hiệu quả của đồng vốn đầu tư từ ngân sách....................................... 23
2.2. Thực trạng cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt
Nam......................................................................................................................... 27
2.2.1. Về phân cấp trong quản lý đầu tư và xây dựng .................................. 29
2.2.2. Về công tác quy hoạch........................................................................ 30
2.2.3. Về quy trình quản lý dự án ................................................................. 32
2.2.4. Về giám sát thi công và chất lượng công trình................................... 32
2.2.5. Về mục tiêu, hiệu quả của vốn đầu tư ................................................ 33
2.2.6. Vai trò, năng lực của chủ đầu tư......................................................... 35
Chương 3: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐẦU TƯ
TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
Những kỳ họp quy mô, những cuộc họp nội bộ được tổ chức nhằm mục đích đưa
ra giải pháp. Nhưng có đến nay, vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể nào, trong khi
luồng vốn đầu tư từ ngân sách vẫn cứ tiếp tục chảy ồ ạt, và tất nhiên, đi kèm với nó
là sự gia tăng mức độ lãng phí trong sử dụng vốn ngân sách nhà nước, lãng phí công
sức của toàn dân, xói mòn lòng tin của dân…
Trong bối cảnh đó, việc “Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách
nhà nước hiện nay tại Việt Nam” là vô cùng cấp thiết.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài “Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện
nay tại Việt Nam”, như tên gọi của nó, ra đời với mục đích đưa ra đề xuất đối với
cơ chế hiện hành về quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà hiện nay tại Việt Nam.
3. Nhiệm vụ của đề tài
Với mục đích trên, đề tài phải hoàn thành nhiệm vụ khó khăn là đề xuất một quy
trình mới, cách nghĩ mới trong việc quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước, qua
Nguyễn Phú Đông Hà
2
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
đó, hiệu quả của đồng vốn ngân sách, nhờ áp dụng quy trình mới, có thể sẽ được cải
thiện hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng từ vốn
ngân sách nhà nước, được giới hạn trong phạm vi các văn bản pháp quy còn hiệu
lực tính đến tháng 09 năm 2005.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết Kinh tế học công cộng, Tài
chính công, lý thuyết Đầu tư và các kiến thức trong suốt quá trình học ở bậc Cao
học của Tác giả dưới sự hướng dẫn tận tình của các giảng viên, đặc biệt là PGS-TS
Nguyễn Ngọc Hùng.
Dựa trên nền tảng lý luận nêu trên, đề tài tiến hành nghiên cứu theo các phương
quý bạn hữu, quý đồng nghiệp và những người có quan tâm.
Nhân đây, tác giả đề tài xin gửi đến thầy Nguyễn Ngọc Hùng – PGS.TS - lời
cảm ơn chân thành nhất vì những hỗ trợ của Thầy về tất cả mọi mặt để đề tài này có
thể hoàn thành một cách tốt đẹp.
Vô cùng trân trọng!
Tp.HCM, tháng 09 năm 2005.
Tác giả đề tài.
Nguyễn Phú Đông Hà
4
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Đầu tư kinh tế
1.1.1. Khái niệm về đầu tư
Đầu tư – theo định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã
hộI và nhân văn quốc gia – là “việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực, các nguồn lực giới
hạn vào công việc gì trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội.”
Đầu tư trong khái niệm trên được nhìn nhận trong phạm vi rộng lớn, không có
giới hạn. Một hoạt động bất kỳ được gọi là hoạt động đầu tư nếu hội đủ hai điều
-
Hiệu quả đầu tư: Là hiệu số giữa kết quả do việc đầu tư mang lại và vốn đầu
tư đã bỏ ra. Đây là nội dung quan trọng nhất của khái niệm đầu tư
Với ba yếu tố trên, hoạt động đầu tư luôn hàm chứa sự cân nhắc của chủ đầu tư
trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư (sự đánh đổi) nhằm mục đích tối đa hoá hiệu quả
đầu tư trong phạm vi nguồn lực hạn chế.
Như vậy, mục đích của việc đầu tư là hiệu quả kinh tế - xã hội của việc đầu tư;
theo đó, chủ đầu tư bỏ vốn ra đầu tư nhằm mục đích có được kết quả cao hơn nguồn
lực đã bỏ ra, nói cách khác, đó là hiệu quả đầu tư.
Thông qua mục đích như trên, hoạt động đầu tư có vai trò vô cùng to lớn trong
việc tạo ra của cải, nguồn lực tăng thêm.
Hình 1.1: Hoạt động đầu tư CHỦ
ĐẦU
TƯ
LĨNH
VỰC
CHỦ
ĐẦU
TƯ
Kết
quả
đầu
tư
Vốn
đầu
tư
LĨNH
VỰC
KINH
TẾ
Theo mô hình hoạt động đầu tư kinh tế như trên, yếu tố thứ hai của hoạt động
đầu tư được thay đổi. Theo đó, lĩnh vực đầu tư được bó hẹp lại trong lĩnh vực kinh
tế.
Với các điều kiện và các yếu tố đầu tư đã được chỉnh sữa, ta rút ra:
- Mục đích của việc đầu tư kinh tế: Mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ đầu tư.
- Vai trò: Tạo giá trị kinh tế tăng thêm
Nguyễn Phú Đông Hà
7
Nguyễn Phú Đông Hà
8
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
Hình 1.3: Hoạt động đầu tư kinh tế từ vốn ngân sách nhà nước
Yếu tố chủ đầu tư ở đây có tính đặc thù hơn ở hai hoạt động đầu tư đã đề cập ở
phần trên. Trong tất cả các văn bản luật và tài liệu hiện hành về đầu tư từ ngân sách
nhà nước, chủ đầu tư của các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước luôn
được hiểu là Nhà nước.
NHÀ
NƯỚC
Vốn
ngân
sách
LĨNH
VỰC
KINH
- Theo phân cấp (TW, ĐP): (Tiêu chí về cấp quản lý ngân sách)
Ngân sách trung ương: Là ngân sách do nhà nước trung ương trực tiếp quản lý;
nguồn thu của ngân sách trung ương là các nguồn thu do trung ương trực tiếp thu,
do địa phương thu nhưng khoản thu đó phải chuyển về cho nhà nước trung ương
100% hoặc do địa phương thu nhưng điều tiết một tỷ lệ phần trăm nhất định về cho
ngân sách trung ương; các khoản viện trợ, đóng góp; các khoản sinh lợi từ hoạt động
đầu tư từ vốn ngân sách trung ương; v.v… .
Ngân sách địa phương: Là ngân sách do chính quyền địa phương (Tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương; quận - huyện, phường – xã) trực tiếp quản lý. Nguồn
thu của ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng
100%; các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng một tỷ lệ phần trăm giữ lại
nhất định (các khoản thu điều tiết); các khoản viện trợ, đóng góp chính quyền địa
phương được phép nhận theo quy định; các khoản sinh lợi từ hoạt động đầu tư từ
nguồn vốn ngân sách địa phương theo quy định; các khoản thưởng, điều chuyển vốn
từ ngân sách Trung ương xuống địa phương hoặc từ cấp tỉnh xuống các cấp huyện,
xã; v.v… .
Việc sử dụng ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được thực hiện
theo quy định về nhiệm vụ chi và phân cấp đầu tư trong luật ngân sách nhà nước của
quốc gia sở tại.
- Theo nguồn tạo lập: (tiêu chí về các nguồn thu Ngân sách)
Từ thuế, phí, lệ phí: Nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí là các khoản thu từ sự đóng
trực tiếp mang tính cưỡng chế của dân chúng.
Nguyễn Phú Đông Hà
10
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
Từ vay nợ: Nguồn thu này có được từ quan hệ với các tổ chức tín dụng trong
và ngoài nước
Từ lợi tức kinh tế: Thông qua hoạt động đầu tư từ ngân sách, lợi tức được bổ
sung vào nguồn vốn ngân sách.
động ngoại vi; vốn đầu tư ngân sách nhà nước sẽ không còn tác động thay thế
hay cạnh tranh với vốn đầu tư toàn xã hội do lợi ích cục bộ tạo nên, nhưng thay
vào đó là tính bổ trợ cho đầu tư toàn xã hội, tạo động lực tăng trưởng toàn bộ nền
kinh tế.
Với mục đích như vậy, nội dung này khắc phục nhược điểm của nội dung thứ
nhất. Nhưng ngược lai, nội dung này vướng phải một vấn đề khó khăn vốn là ưu
điểm của nội dung trước. Đó là hiệu quả không trực tiếp, khó đo lường, không có
quy chuẩn rõ ràng để đánh giá.
Rất nhiều chính quyền trung ương của các quốc gia trên khắp thế giới đi tìm mô
hình định lượng nhằm đánh giá thành quả của đầu tư công, nhưng những cố gắng
đó cho đến nay vẫn chưa có kết quả rõ ràng. Bởi lẽ việc đánh giá kết quả đầu tư
công phải chịu tác động bởi rất nhiều biến số kinh tế, xã hội, chính trị, tài
nguyên, thị trường, v.v…
Biện pháp đánh giá, đo dường hiệu quả của đầu tư công theo kinh nghiệm một số
quốc gia đã phát triển là phải dựa vào mục tiêu phát triển ngắn và dài hạn từng
thời kỳ để thực hiện đầu tư ngân sách, và kết quả đầu tư được thẩm định dựa trên
việc đạt được mục tiêu của từng thời kỳ hay không (?).
Vì vậy, nội dung này, đòi hỏi Nhà nước phải hoạch định mục tiêu đầu tư cho từng
thời kỳ, quy hoạch đầu tư, để thông qua đó, tạo cơ sở cho việc thẩm định đầu tư
từ vốn ngân sách.
Với cách thức như vậy, việc đánh giá hiệu quả đầu tư ngân sách không những
phụ thuộc vào nỗ lực của chính việc đầu tư đang xét mà còn chịu ảnh hưởng bởi
việc hoạch định mục tiêu, quy hoạch đầu tư – nhân tố chủ quan. Vì thế, việc
hoạch định mục tiêu và quy hoạch đầu tư là vô cùng quan trọng, nếu hoạch định
và quy hoạch sai, không được thẩm tra đầy đủ, quá trình đầu tư sẽ không thể có
hiệu quả trong dài hạn.
Xem hình 1.4, ta thấy rằng Nhà nước là cơ quan hoạch định mục tiêu cho nền
kinh tế và vạch ra lộ trình đầu tư để đưa nền kinh tế đi đến mục tiêu đã xác định.
Nguyễn Phú Đông Hà
12
Quản lý
MỤC
TIÊU
Từng
thời kỳ NỀN
KINH TẾ
NHÀ
NƯỚC
Hoạch
đ
ịnh
Quy
ho
ạch
Đầu
t
ư
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
1.2.4. Vai trò của đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước
Thông qua mục đích như đã nêu trên, việc đầu tư từ ngân sách thể hiện
một số vai trò chủ yếu sau:
Vai trò đối với chủ đầu tư (dân chúng):
:THỰC TRẠNG VỀ CƠ CHẾ ĐẦU TƯ
TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM
2.1. Khái quát tình hình đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước tại Việt
Nam thời gian qua
Chương trước chúng ta đã làm rõ một số vấn đề cốt yếu của đầu tư từ vốn
ngân sách, phần này sẽ mô tả một số nét nhìn tổng quát đứng từ phương diện vĩ mô
đối với đầu tư từ ngân sách trong suốt thời gian từ 1997 cho đến nay. Từ đó chúng
ta có bức tranh tổng thể về tình hình đầu tư từ ngân sách hiện nay trên nhiều góc
cạnh khác nhau. Phần tiếp theo của chương này sẽ nêu các mặt tích cực và tiêu cực
của cơ chế đầu tư hiện hành.
Với hai bước tiếp cận trên đây, chúng ta có cơ sở thực tiễn để đưa ra giải pháp
nâng cao hiệu quả của đầu tư từ vốn ngân sách.
2.1.1. Hiệu quả của đồng vốn đầu
Bảng 2.1 dưới đây cho chúng ta thấy số liệu tổng đầu tư toàn xã hội trong
suốt 8 năm liên tiếp (từ 1997 đến 2004) và số liệu đầu tư từ các bộ phận khác nhau
(từ ngân sách, từ dân chúng và từ nước ngoài) tính theo số tiền
Bảng 2.1: GDP và đầu tư qua các năm
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Tổng GDP (ngàn tỷ đồng)
Tổng đầu tư(Ngàn tỷ đồng)
-ĐT ngân sách
-ĐT dân chúng
-ĐT nước ngoài
313,8
88,8
26,4
29,1
33,3
316,7
104,9
69,7
100,8
69,7
Tổng đầu tư (%/GDP)
-ĐT ngân sách
-ĐT dân chúng
-ĐT nước ngoài
28,3
8,4
9,3
10,6
29,0
7,2
13,7
8,1
27,6
8,5
11,2
7,9
29,6
9,9
12,5
7,2
31,2
9,9
...
...
32,1
9,2
14,6
Bảng 2.2: Tỷ số Đầu tư / Tăng trưởng.
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Tỷ lệ tăng trưởng (%)
Tổng đầu tư /tăng trưởng
-ĐT ngân sách /tăng trưởng
-ĐT dân chúng /tăng trưởng
-ĐT nước ngoài /tăng trưởng
8,2
3,45
1,02
1,13
1,30
5,8
8,29
2,06
3,91
2,32
4,8
6,57
2,02
2,67
1,88
6,8
5,38
1,80
2,27
1,31
6,9
6,24
Hiệu suất các thành phần của tổng đầu tư như liệt kê ở bảng 2.2 (đầu tư từ
vốn ngân sách, từ dân chúng và từ nước ngoài) cũng cho thấy nhịp độ biến động
tương tự như con số tổng quát.
Mặc dù việc giảm hiệu suất đầu tư có thể được giải thích bởi quy luật hiệu
suất biên tế giảm dần; theo đó, nếu nền kinh tế càng phát triển, hiệu quả đồng vốn
càng thấp. Tuy nhiên, có hai biểu hiện để thấy nền kinh tế vận hành kém hiệu quả:
- Thứ nhất-về mặt thời gian, hiệu suất đầu tư giảm một cách bất thường vào năm
1998 sau đó tăng dần cho đến năm 2004 là đi ngược với quy luật khách quan.
Điều này cho thấy đầu tư của xã hội còn lãng phí, chưa phát huy hết hiệu quả;
- Thứ hai-về mặt không gian, các quốc gia phát triển cao hơn ở cùng khu vực cũng
chỉ có hệ số tổng đầu tư / tăng trưởng xấp xỉ bằng 4; như vậy, Việt Nam là điểm
vận hành trái quy luật khách quan theo hướng tiêu cực xét về mặt không gian. Bởi
lẽ, với mức độ phát triển kinh tế thấp, theo quy luật khách quan phải có hiệu suất
đầu tư cao hơn, nhưng với nền kinh tế Việt Nam, quy luât này lại hoàn toàn bị
đảo lộn.
Chúng ta khẳng định được điều gì? Hoàn toàn có thể khẳng định được rằng,
nền kinh tế Việt Nam đang vận hành thiếu hiệu quả, đầu tư xã hội chưa mang lại
hiệu suất tương thích với quy luật khách quan.
2.1.2. Hiệu quả của đồng vốn đầu tư từ ngân sách
Tuy nhiên, chúng ta chỉ mới đề cập đến hiệu quả đầu tư từ vốn ngân sách với
tư cách là một thành tố trong tổng đầu tư toàn xã hội. Nhưng mặt khác, như đã phân
tích ở chương 1, việc đầu tư từ vốn ngân sách còn gây hiệu ứng lên toàn xã hội, bổ
trợ đầu tư, hiệu quả đầu tư toàn xã hội nhờ đó sẽ được nâng cao hơn.
Để làm rõ vấn đề này, trước tiên chúng ta tiến hành phép biến đổi toán học
đơn giản như sau:
Nguyễn Phú Đông Hà
17
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
Đầu tư ngân sách Đầu tư ngân sách Tổng đầu tư
1,80
0,33
5,38
1,98
0,32
6,24
1,58
0,29
5,53
1,40
0,29
4,81
1,43
0,29
4,93
Nguồn: Tổng hợp từ IMF – 2005.
Hàng số liệu thứ hai của bảng 2.3 không có biến động nhiều, cho thấy hiệu
ứng kích thích đầu tư toàn xã hội thông qua đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước có
tính ổn định rất cao. Trong khi đó, chất lượng của đầu toàn xã hội lại giảm sút (hàng
thứ ba của bảng 2.3).
Nguyễn Phú Đông Hà
18
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
Như vậy, mặc dù hiệu ứng về lượng (tác động theo chiều rộng) của vốn đầu
tư từ ngân sách nhà nước không đổi. Nhưng hiệu ứng về chất (tác động theo chiều
sâu) lại giảm đi rất nhiều.
Nếu nói rằng chúng ta chưa có môi trường thông thoáng để kích thích đầu tư?
điều đó đúng, nhưng không phải là cấp thiết, điều cấp thiết là chúng ta phải tăng
chất lượng đầu tư của đồng vốn ngân sách nhà nước, cải thiện hiệu quả tới mức cao
7,7
2,3
6,8
4,6
10,1
5,3
6,9
3,0
10,4
6,1
7,0
4,1
9,4
6,5
7.3
4,2
10,0
6,7
7.2
4,0
11,0
7,0
Cơ cấu (%/GDP)
-Nông nghiệp
-Công nghiệp
-Dịch vụ
100,0
25,8
32,1
42,2
trưởng thì quy luật tất yếu là nó sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng thể nền
Nguyễn Phú Đông Hà
19
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
kinh tế. Vậy, trong khi khu vực Công nghiệp đã, đang (và sẽ) có những bước tiến
vững chắc về tăng trưởng cũng như về tỷ trọng, khu vực Nông nghiệp vẫn không có
nhiều biến chuyển trong cơ cấu tổng thể thì lỗ đen duy nhất là khu vực dịch vụ, thật
vậy, việc tăng trưởng quá èo uột đã làm cho cơ cấu ngành không tiệm cận với xu
hướng tiến bộ.
Việc giảm tỷ trọng khu vực dịch vụ chứng minh rằng: Trong một Thế giới
bùng nổ thông tin, bùng nổ khoa học công nghệ, đòi hỏi khu vực dịch vụ (hơn bất
cứ các khu vực nào khác) cần phải thích ứng nhanh với diễn tiến này; như vậy, khu
vực dịch vụ của Việt Nam thực sự đã đi lệch khỏi tiến trình phát triển và ngày càng
tụt hậu; không những không thể đón đầu được các xu hướng cầu mới mà ngay cả
sức cầu cơ bản cũng khó có khả năng đáp ứng một cách đầy đủ.
Sự suy giảm của khu vực Dịch vụ được giải thích bởi các nhân tố cơ bản nào?
Đây là vấn đề chúng ta phải đi tìm nguyên nhân ở góc độ vĩ mô. Bảng 2.5 cho
chúng ta thấy cơ cấu cơ bản của khu vực Dịch vụ.
Bảng 2.5: Cơ cấu cơ bản của khu vực Dịch vụ.
ĐVT: %
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2005 2004
Dịch vụ
-Khu vực Nhà nước
Trong đó, Quản lý Nhà nước
-Khu vực ngoài Nhà nước
42,2
23,9
20,6
Tỷ trọng của khu vực Dịch vụ ngoài Nhà nước là ổn định ngoại trừ những dao
động ngắn hạn không đáng kể; ngược lại, tỷ trọng của khu vực dịch vụ Nhà nước,
đặc biệt là dịch vụ Hành chính công, lại sút giảm nghiêm trọng; sự sút giảm này cho
thấy hai nguyên nhân làm cho tỷ trọng Khu vực Dịch vụ giảm sút:
Nguyễn Phú Đông Hà
20
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
- Thứ nhất, nguyên nhân tĩnh tại, do khu vực dịch vụ Nhà nước là một bộ
phận cấu thành trong tổng thể khu vực dịch vụ nói chung, nên sự sút giảm của khu
vực này sẽ khiến toàn bộ khu vực dịch vụ giảm theo;
- Thứ hai, nguyên nhân truyền dẫn, trong toàn bộ nền kinh tế của một quốc
gia, Dịch vụ nhà nước (dù có tỷ trọng cao hoặc thấp) luôn giữ vai trò trung tâm: Đó
là trung tâm điều phối mọi hoạt động kinh tế; đó là trung tâm có sức hút làm cho các
hoạt động kinh tế, dịch vụ xoay quanh mình; đó là trung tâm mà nếu vận hành có
hiệu quả sẽ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Trong hai nguyên nhân vừa nêu, nguyên nhân truyền dẫn là rất quan trọng;
trong một chừng mực nhất định có thể coi đây là nguyên nhân trì trệ của khu vực
dịch vụ, kéo theo sự trì trệ của toàn bộ nền kinh tế.
Trên đây là nhận định về tình hình kinh tế Việt nam qua lăng kính các số liệu
tổng quát, cho chúng ta một bức tranh tổng thể về tình hình đầu tư của nền kinh tế
Việt nam, đặc biệt là đầu tư từ vốn ngân sách. Những điều trình bày trên đặt ra rất
nhiều vần đề lớn, trong đó vần đề nổi cộm nhất là chất ượng của đồng vốn đầu tư từ
ngân sách nhà nước.
Chất lượng quá thấp của đồng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có nhiều
nguyên nhân: Thiếu vốn, thiếu nhân sự, trình độ phát triển nền kinh tế còn lạc hậu,
thiên tai, dịch bệnh, v.v…. Theo đánh giá của Quỹ tiền tệ thế giới – IMF – Nguyên
nhân đầu tiên, quan trọng nhất làm trì trệ tính hiệu quả nền kinh tế của Việt Nam
chính là cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách còn quá lỏng lẽo, thiếu tính chặt chẽ và
không có một quy trình rõ ràng và hiệu quả.
các Nghị định đã tỏ ra không còn phù hợp với yêu cầu của cuộc sống và tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mặt khác, trong những năm qua, nhiều cơ
chế chính sách khác có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định cũng đã được sửa đổi,
bổ sung: Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp,
Luật Đầu tư nước ngoài ... nên một số qui định trong các Nghị định nói trên đã
không còn thích hợp.
Hoạt động đầu tư và xây dựng là lĩnh vực rất phức tạp, có liên quan đến nhiều
ngành, nhiều cấp trong khi việc xây dựng quy chế quản lý thường được tiến hành
trong một thời gian ngắn, mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ, mới đáp ứng được yêu
cầu trước mắt mà chưa có tính dài hạn. Một số vấn đề mới nảy sinh cũng chưa được
đề cập đến... Do đó, trong bối cảnh hiện nay, việc sửa đổi, bổ sung, thậm chí đổi
mới toàn diện cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng là rất cần thiết.
Một số vấn đề của cơ chế đầu tư hiện hành được nêu một cách khái quát như
sau:
2.2.1. Về phân cấp trong quản lý đầu tư và xây dựng
Sau khi Nghị định 52/CP ra đời, trải qua hai lần sửa đổi, bổ sung tại Nghị
định 12/CP và Nghị định 07/CP; thẩm quyền quản lý Nhà nước trong quản lý đầu tư
và xây dựng được phân cấp rất mạnh mẽ xuống các Bộ ngành và địa phương.
Chủ trương phân cấp trong quản lý đầu tư từ nguồn vốn ngân sách là hoàn
toàn hợp lý, phù hợp với xu thế cải cách bộ máy hành chính nhà nước trong giai
đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, việc phân cấp, uỷ quyền cho các Bộ, ngành và các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương đã phát huy tính chủ động, tính thực tiễn của cơ
quan quản lý, của địa phương
Tuy nhiên do đây là một chủ trương mới phát sinh và mới trong giai đoạn
triển khai thực hiện bước đầu nên trong các văn bản pháp quy về vấn đề này còn
chưa được chặt chẽ. Các Nghị định 52/CP, 12/CP, 07/CP còn thiếu các quy định chi
tiết, thiếu các chế tài để kiểm tra, kiểm soát; vì vậy, rất dễ phát sinh các vi phạm
trong quản lý đầu tư và xây dựng.
Việc phân cấp và uỷ quyền trong đầu tư cho cấp thấp hơn là một xu thế tất
yếu. Nhưng khi trình độ xây dựng, phân tích, thẩm định dự án của cán bộ các cấp
Uỷ ban nhân dân tỉnh lập, quy hoạch ngành do Bộ ngành lập: Phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế-xã hội; phân bổ các nguồn lực hợp lý; tính thống nhất quy
hoạch vùng, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng; tính khả thi của quy hoạch.
- Đối với công tác thẩm định dự án quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn do
Ủy ban nhân dân tỉnh lập: Phù hợp chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn, phù
hợp phân bổ dân cư; thống nhất với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, lãnh thổ
ngành; tính khả thi và biện pháp quản lý.
Các tiêu chuẩn trên được nêu trong Nghị định số 07/CP là một bước tiến dài
đối với việc đảm bảo chất lượng đầu ra của công tác lập, thẩm định các dự án quy
hoạch.
Tuy nhiên, những tiêu chuẩn trên so với yêu cầu của công tác quy hoạch là
chưa đủ đáp ứng đòi hỏi cả về số lượng tiêu chuẩn lẫn cơ chế vận hành để đáp ứng
tiêu chuẩn.
Thật vậy, tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng không chỉ đầy đủ mà điều cần thiết
phải tạo nên cơ chế để tiêu chuẩn đặt ra có điều kiện được thực thi. Và trong thực tế,
các quy chế đầu tư xây dựng hiện hành không có điều kiện thứ hai – và là điều kiện
tiên quyết - để đảm bảo chất lượng đầu ra của công tác quy hoạch.
Hệ quả là chất lượng của công tác quy hoạch hiện nay chưa cao, các qui
hoạch chưa thực sự là cơ sở vững chắc cho việc hoạch định các kế hoạch phát triển
Nguyễn Phú Đông Hà
23
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Các Bộ, ngành, địa phương đều tiến
hành xây dựng các quy hoạch; nhưng chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa qui hoạch
ngành và qui hoạch lãnh thổ; chưa có cách tiếp cận tổng thể, toàn diện; kết quả phổ
biến là tình trạng đầu tư còn chồng chéo, dư thừa công suất chế biến, nhưng lại thiếu
nghiêm trọng nguồn nguyên liệu, đầu tư thiếu đồng bộ, chắp vá, đầu tư nhiều lần,
thiết bị cũ nát, lạc hậu, gây lãng phí nguồn vốn đầu tư, hiệu quả kém.
Nhiều quy hoạch chưa đủ cụ thể để định hướng đầu tư, không phù hợp với
Chất lượng nhiều công trình rất thấp, đặc biệt đối với các dự án hoàn toàn sử
dụng nhà thầu trong nước. Các nhà thầu cố đưa giá thầu thấp để thắng thầu rồi sau
đó tìm mọi cách hạ giá thành bù lại phần chênh lệch. Mặt khác, các nhà thầu cũng
Nguyễn Phú Đông Hà
24
Góp phần hoàn thiện cơ chế đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hiện nay tại Việt Nam
như tư vấn giám sát không tuân thủ nghiêm ngặt đúng quy trình, quy phạm và thiết
kế kỹ thuật nên công trình không đảm bảo chất lượng.
Trong những năm gần đây, tần suất xuất hiện sự cố công trình ngày một
nhanh; tỷ lệ công trình phải sửa chữa ngay khi đưa vào sử dụng ngày càng tăng; sai
phạm xảy ra ở hầu hết các công đoạn, bộ phận hình thành kết cấu công trình. Do
thông tin ban đầu không chính xác nên giải pháp thiết kế thường không phù hợp với
điều kiện địa hình, địa chất. Công tác giám sát rất hình thức.
Đặc biệt, chủ đầu tư có vai trò và quyền lực lớn, nhưng năng lực hạn chế và
bị môi trường nhiều tiêu cực chi phối nên dễ dàng chấp nhận bàn giao các công trình
kém chất lượng.
Một nguyên nhân quan trọng khác là các nhà thầu thường chấp nhận bỏ thầu
thấp; nhưng khi triển khai thi công thì đổ lỗi cho khách quan để xin bổ sung vốn,
hoặc thi công với mức tiết kiệm tối đa, chấp nhận chất lượng các công trình thấp.
Vai trò giám sát thi công còn rất hạn chế, tác dụng không đáng kể. Tình trạng
dễ dãi với các nhà thầu của các tư vấn giám sát và của các chủ đầu tư là một trong
những nguyên nhân rất đáng quan tâm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của các
công trình xây dựng. Với cơ chế giám sát như hiện nay, cơ quan tư vấn giám sát
không độc lập được, nên gây ra tình trạng không khách quan, gây nên chất lượng
kém và tạo điều kiện thất thoát vốn đầu tư.
2.2.5. Về mục tiêu, hiệu quả của vốn đầu tư.
Mục tiêu đầu tư đã được xác định trong nhiều thời kỳ kế hoạch 5 năm và hàng
năm là tập trung đầu tư để chuyển dịch nhanh cơ cấu đầu tư, tăng hiệu quả của nền
kinh tế, nhanh chóng hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng