MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết lập cơ quan
tài phán hành chính ở Việt Nam 6
1.1. Cơ sở lý luận 6
1.1.1. Sự phân công quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà
nước Việt Nam 6
1.1.2. Về hành chính quản lý và hành chính tài phán 10
1.1.3. Về khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện hành chính ở
nước ta hiện nay 12
1.2. Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1. Tình hình khiếu kiện và khiếu kiện hành chính ở
nước ta hiện nay 15
1.2.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của toà hành chính
(thuộc TAND) 19
1.2.3. Yêu cầu giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt
Nam sau khi ký Hiệp định Thương mại song phương Việt
Nam – Hoa Kỳ và gia nhập WTO 22
1.2.4. Cải thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính
theo yêu cầu cải cách hành chính nhà nước 24
Chương 2: Mô hình cơ quan tài phán hành chính ở Việt nam
dựa trên sự đúc kết kinh nghiệm của nước ngoài và thực tiễn
Việt Nam 26
2.1. Sự cần thiết phải thiết lập cơ quan tài phán hành chính ở
Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 26
2.2. Mô hình đề xuất về tổ chức cơ quan tài phán hành chính ở
Việt Nam 33
2.2.1. Tổ chức của cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam - 33
Danh mục các chữ viết tắt
TAND
: Toà án nhân dân
UBND
: Uỷ ban nhân dân
VKSND
: Viện Kiểm sát nhân dân
WTO
: Tổ chức Thương mại Thế giới
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý hành chính là một trong những hoạt động quan trọng của bộ
máy nhà nước. Trong quá trình quản lý hành chính, các chủ thể quản lý sẽ phải
ban hành các quyết định hành chính hoặc thực hiện những hành vi hành chính.
Quyết định hoặc hành vi hành chính này có thể được chấp hành hoặc không
được chấp hành do không đồng ý, dẫn đến khiếu nại. Khiếu nại là một quyền
quan trọng của công dân. Nó không chỉ đảm bảo tính công bằng, dân chủ mà
còn góp phần làm minh bạch cho quá trình quản lý hành chính. Quyền khiếu
- Cơ sở khoa học của việc thiết lập hệ thống Toà án hành chính ở Việt
Nam (đề tài khoa học cấp Bộ của Thanh tra Chính phủ, nghiệm thu năm 1993)
- Đổi mới cơ chế khiếu nại tố cáo trên địa bàn thành phố Hà Nội (Đặng
Văn Trác, Đề tài khoa học cấp thành phố, nghiệm thu năm 1995).
- Việc giải quyết khiếu nại của công dân trong hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước sau khi toà án hành chính được thành lập (Lê Đình Đấu, Đề
tài khoa học cấp ngành, nghiệm thu năm 1996).
- Toà án hành chính - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Đề tài khoa học
độc lập cấp Nhà nước, nghiệm thu năm 1997).
- Cải cách thủ tục hành chính trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
(Trần Thị Luyện, Đề tài khoa học cấp tỉnh, nghiệm thu năm 1998).
- Cải cách thủ tục hành chính trong tổ chức tiếp dân và giải quyết khiếu
nại, tố cáo (Lê Đình Đấu, Đề tài khoa học cấp Bộ, nghiệm thu năm 1999).
- Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay (Luận văn
Thạc sỹ Luật học của Phan Văn Long, năm 2002).
- Thẩm quyền của toà án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện
hành chính (Luận văn Tiến sỹ Luật học của Nguyễn Thanh Bình, năm 2003).
Các đề tài nghiên cứu trên đã góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện
cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta trong thời gian đó với việc
thành lập toà hành chính (thuộc hệ thống TAND) và việc sửa đổi, bổ sung một 3
số điều của Luật Tổ chức TAND (được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 8 thông
qua tháng 10/1995).
Tuy nhiên, trong tình hình mới, với một cơ chế giải quyết khiếu kiện
hành chính như vậy chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Do đó, cần có
thêm nhiều nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn ở nước ta và từ hoạt
động của cơ chế giải quyết khiếu kiện ở các nước trên thế giới để có thể hoàn
thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện ở nước ta và xây dựng được một hệ thống tài
để hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta trong gần 2
thập kỷ qua, song thông qua việc nghiên cứu thực trạng giải quyết khiếu kiện
hành chính và mô hình cơ quan tài phán ở một số nước trên thế giới, luận văn
này hy vọng sẽ đưa ra được những kiến giải thích hợp cho tính cấp thiết phải
thành lập cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam, cũng như đưa ra được một
mô hình cơ quan tài phán thích hợp cho điều kiện hiện nay ở nước ta và quá
trình hội nhập quốc tế.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các
chữ viết tắt, luận văn được xây dựng theo 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết lập cơ quan tài phán
hành chính ở Việt Nam
- Chương 2: Mô hình cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam dựa trên sự
đúc kết kinh nghiệm của nước ngoài và thực tiễn Việt Nam.
- Chương 3: Các giải pháp và đề xuất để thiết lập cơ quan tài phán hành
chính ở Việt Nam./. 5
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
THIẾT LẬP CƠ QUAN TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Sự phân công quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước Việt
Nam.
Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) qui định: “Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
biểu Quốc hội. Nhờ đó, tác động tích cực vào hoạt động lập pháp và tạo cơ sở
cho đại biểu Quối hội thực hiện các nguyện vọng của cử tri, cũng như quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước; phát hiện những khiếm khuyết của
các văn bản pháp luật để nhanh chóng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự
phát triển của kinh tế - xã hội.
Quyền hành pháp là quyền chấp hành pháp luật và điều hành xã hội theo
pháp luật nhằm tổ chức đời sống xã hội và Nhà nước phù hợp với chính sách
và nguyện vọng của nhân dân. Theo pháp luật hiện hành, quyền lập pháp ở
nước ta tập trung chủ yếu vào hệ thống hành chính nhà nước. Hệ thống cơ
quan hành chính nhà nước ta có đặc điểm: đều do cơ quan quyền lực nhà nước
(Quốc hội và Hội đồng nhân dân hoặc cơ quan hành chính nhà nước cấp trên)
lập ra - yếu tố đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước ở Việt Nam; có
thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (lập quy) và các văn bản
cá biệt cụ thể (điều hành trực tiếp); kiểm tra việc thực hiện văn bản và xử lý
khi có vi phạm pháp luật, cưỡng chế khi có sự lẩn tránh hoặc cố tình không
thực hiện quyết định hành chính, xem xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo
của công dân đối với các quyết định hành chính và hành vi hành chính làm
phương hại đến lợi ích hợp pháp của công dân, kiến nghị các biện pháp tư
pháp khác; tạo thành một hệ thống thống nhất, tập trung, thứ bậc.
Quyền tư pháp chủ yếu được thực hiện bằng hoạt động xét xử, công tố
và các công tác bổ trợ tư pháp (kiểm tra, công chứng, luật sư, trợ giúp pháp
lý…). Các chức năng trên được thực hiện bởi Toà án, Viện Kiểm sát và các cơ 7
quan nhà nước khác theo trật tự tố tụng tư pháp. Như vậy, khâu trọng tâm của
quyền tư pháp là việc xét xử của Toà án, mọi hoạt động tư pháp khác cũng đều
nhằm đạt được việc xét xử công minh, đúng pháp luật để bảo vệ quyền chủ thể,
lợi ích hợp pháp và trật tự pháp luật trong xã hội.
Trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật”, nhà tư tưởng người
công cho cơ quan toà án, nhân danh Nhà nước để đưa ra các phán quyết giải
quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội. Trong các tranh chấp đó, tranh
chấp liên quan đến hoạt động quản lý hành chính (giữa cơ quan nhà nước với
công dân và cơ quan nhà nước với nhau) được giải quyết trước tiên chính tại
các cơ quan hành chính. Khi việc giải quyết không đạt kết qủa như mong
muốn, tranh chấp sẽ được đưa ra giải quyết tại cơ quan toà án (toà hành chính).
Cơ chế này thực sự chưa thoả mãn được nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp
quyền với các cơ chế kiểm tra, kiểm sát nhân danh quyền lực Nhà nước. Vì
thế, thiết lập một cơ quan tài phán hành chính tồn tại song song với cơ quan
hành chính và toà hành chính để tập trung giải quyết các khiếu kiện hành chính
là một biện pháp có nhiều tính ưu việt trong tình hình hiện nay ở nước ta, vừa
đảm bảo nguyên tắc tổ chức của bộ máy nhà nước, vừa đảm quyền của công
dân cũng như sự công bằng, vô tư trong quá trình giải quyết.
Thêm vào đó, Hiến pháp tạo cơ sở cho phép Chính phủ có thể có các cơ
chế giải quyết khiếu kiện hành chính khác ngoài cơ chế thanh tra. Điều này
được chứng minh bằng qui định tại Điều 127 và 134 Hiến pháp 1992 (sửa đổi
năm 2001), cho phép tách tài phán hành chính ra khỏi tài phán tư pháp và
Khoản 7 Điều 112 về việc Chính phủ có nhiệm vụ tổ chức và lãnh đạo công tác
thanh tra và kiểm tra nhà nước, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân. Đây là những cơ sở Hiến định cho việc thành lập cơ quan tài phán hành
chính thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ) và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của
Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, theo Luật Thanh tra và Luật Khiếu nại, Tố
cáo, các khiếu kiện hành chính hiện nay đều được giải quyết trước tiên theo cơ
chế thanh tra (do cơ quan hành pháp tiến hành) trước khi đưa ra cơ quan tư
pháp (toà hành chính) nếu cần thiết.
1.1.2. Về hành chính quản lý và hành chính tài phán 9
Theo nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước và cơ chế giải quyết khiếu
10
năng quản lý, đảm bảo nguyên tắc tổ chức của bộ máy nhà nước về sự phân
công, phân nhiệm hợp lý giữa các cơ quan nhà nước.
“Tài phán hành chính” được xây dựng dựa trên học thuyết về trách
nhiệm của Nhà nước trước công dân (gắn liền với học thuyết nhà nước của
dân, do dân và vì dân), nghĩa là phủ nhận học thuyết về quyền miễn trừ cho
Nhà nước trong các quyết định của mình. Tài phán hành chính là hoạt động
xem xét tính hợp pháp của các hành vi hành chính (tức là hành chính điều
hành) thông qua việc giải quyết các khiếu kiện của người dân khi họ phản đối
quyết định của cơ quan hành chính vì cho rằng quyết định đó trái pháp luật,
gây thiệt hại hoặc cản trở việc thực hiện các quyền và lợi ích của họ đã được
pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Vì thế, tài phán hành chính nhằm bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, bảo vệ những hành vi công vụ đúng pháp
luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp giữa công dân với cơ quan hành
chính nhà nước. Vì thế, việc đầu tiên của hoạt động tài phán hành chính là xác
định trách nhiệm công vụ. Theo đó, trách nhiệm công vụ cũng giống các loại
trách nhiệm khác (hình sự, dân sự…) là một khái niệm chỉ ra các yếu tố cấu
thành hành vi vi phạm, nhưng khác các loại trách nhiệm khác ở chỗ không
được ghi nhận trong các đạo luật, bộ luật. (12, tr1). Mặc dù không có một bộ
luật hành chính để qui định rõ trách nhiệm công vụ là gì, song về cơ bản có thể
hiểu, trách nhiệm công vụ là “trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước,
viên chức nhà nước khi thực hiện một hành vi hành chính trong quá trình thi
hành công vụ mà hành vi đó trái pháp luật hoặc quyết định của cơ quan cấp
trên, không đúng thẩm quyền hoặc quá quyền hoặc không hợp với lẽ công
bằng xã hội mà hành vi này hoặc gây thiệt hại hoặc làm thiệt thòi cho một
hoặc một vài công dân cụ thể” [12, tr2]. Công dân có quyền và lợi ích bị xâm
phạm bởi các quyết định hay hành vi hành chính đó có thể khởi kiện ra các cơ
quan tài phán hành chính đòi “xác định trách nhiệm công vụ” của cơ quan đã
ban hành quyết định đó hoặc cá nhân đã thực hiện hành vi hành chính đó.
quyền hạn mang tính công quyền của các cơ quan nhà nước nắm quyền hành
pháp, các cơ quan chính quyền địa phương, các cơ quan, công sở, các nhân
viên, công chức của các cơ quan đó…
Hành chính quản lý và hành chính tài phán có mối quan hệ mật thiết với
nhau và cùng hướng tới mục tiêu làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước 12
được hoàn thiện. Thực tiễn cho thấy, khiếu kiện hành chính có nhiều điểm đặc
biệt, rất khác so với các khiếu kiện khác. Vì thế, để có cơ chế giải quyết tương
ứng cần phân biệt rõ hai lĩnh vực này trên cơ sở có sự phân định giữa luật công
và luật tư.
1.1.3. Về khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta
hiện nay.
Khiếu nại, tố cáo là một quyền hiến định của mọi công dân Việt Nam.
Đây là công cụ để công dân tự bảo vệ trước sự xâm hại đến quyền, lợi ích
của mình, thực hiện quyền làm chủ, xây dựng chính quyền và tham gia quản
lý nhà nước. Trong quá trình lập hiến và lập pháp ở nước ta, quyền khiếu
nại luôn được coi là một trong những quyền cơ bản và giữ vị trí quan trọng
trong chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Quyền khiếu nại được
nhìn nhận như một trong những điều kiện để các quyền khác được thực thi
và bảo vệ, thể hiện quyền dân chủ. Vì thế, Đảng và Nhà nước ta rất chú
trọng đến công tác giải quyết khiếu nại của công dân và đã ban hành nhiều
văn bản liên quan như: Luật Khiếu nại, Tố cáo 1998 (sửa đổi, bổ sung năm
2004, 2005), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 (sửa
đổi, bổ sung năm 1998, 2006). Khoản 1 điều 1 Luật Khiếu nại, Tố cáo qui
định: “Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành
chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng
quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp
Như vậy, với cơ chế giải quyết khiếu kiện nêu trên, cơ quan hành chính
vừa là người ra quyết định hành chính trong quá trình quản lý hành chính, vừa
là người giải quyết các khiếu nại liên quan đến quyết định của mình. Việc thực
hiện đồng thời hai chức năng hành chính quản lý và hành chính tài phán sẽ
không thể đảm bảo tính vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết khiếu kiện
hành chính.
Từ những vấn đề lý luận được nêu trên, có thể thấy, việc thiết lập một cơ
quan tài phán hành chính để tách chức năng tài phán hành chính ra khỏi hoạt
động của cơ quan hành chính là một yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay
ở nước ta. 14
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình khiếu kiện và khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay
Trong quá trình toàn cầu hoá hiện nay, đất nước ta đang không ngừng
đổi mới để theo kịp các quốc gia khác. Quá trình này đòi hỏi nhiều tiềm lực,
nhiều thay đổi cho phù hợp với thực tiễn, trong đó có hệ thống pháp luật. Thực
tế, hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay đang trong quá trình xây dựng nên
chưa thể hoàn toàn đồng bộ, trong khi nhiều mối quan hệ mới phát sinh, dẫn
đến nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết những vấn đề như đất đai, giải
phóng mặt bằng, nhà ở
Thực tế cho thấy, tình hình khiếu nại hành chính ở nước ta đã có nhiều
giai đoạn diễn biến phức tạp. Theo Báo cáo xét khiếu tố của Thanh tra Chính
phủ (2000 – 2004), từ năm 2000 đến năm 2001, số lượng các vụ khiếu nại năm
sau luôn nhiều hơn năm trước, số vụ khiếu nại vượt cấp, đông người gia tăng
theo từng năm (trực tiếp khiếu nại, tố cáo lên trung ương tăng 20%/năm), một
số vụ trở thành “điểm nóng” như vụ khiếu nại ở xã Giao Thuỷ (Nam Định), vụ
khiếu nại của hơn 3.000 hộ dân ở 3 huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Thạch Phú
(Bến Tre), vụ tranh chấp đất đai của hơn 300 hộ nông dân ở Nông trường 30/4
14.930
402
2002
104.647
15.107
468
2003
96.351
11.743
352
2004
81.329
11.222
256
(*)
Tính theo số lượng đơn khiếu nại, tố cáo vượt cấp gửi đến Chính phủ và Thanh tra Chính
phủ
(Báo cáo xét khiếu tố - Thanh tra Chính phủ các năm từ 2000 – 2004)
Nội dung các khiếu nại về hành chính chủ yếu liên quan đến đất đai
(63% tổng số các vụ khiếu nại), trong đó bức xúc nhất là những khiếu nại về
giá bồi thường khi thu hồi đất để giải phóng mặt bằng cho các dự án xây dựng
(khu công nghiệp, đô thị mới, làm đường, các công trình công cộng). Bên cạnh
đó là các khiếu nại đòi đất canh tác cũ; đất nông trường, lâm trường; nhà ở…;
các khiếu nại về chính sách đối với người có công, thương binh, gia đình liệt
sỹ, chế độ đối với người lao động chiếm 11% (tr2.25).
Nguyên nhân chính dẫn đến các khiếu nại có thể gồm:
- Một số chính sách, pháp luật về đất đai, nhà ở chậm được ban hành hoặc
có sự chồng chéo, chưa cụ thể, không thực sự phù hợp với thực tiễn, nhiều văn
bản không phù hợp với văn bản của cấp trên (4-5%).
- Công tác quản lý nhà nước trong nhiều lĩnh vực bị buông lỏng; một số
- Cuối cùng phải kể đến nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật về
khiếu nại, tố cáo của người dân chưa đồng đều và đầy đủ; một số người tuy
hiểu nhưng vì lợi ích cá nhân hoặc bị kẻ xấu xúi giục đã lợi dụng quyền khiếu
nại, tố cáo để bôi nhọ danh dự cán bộ, đảng viên, gây rối trật tự tại địa phương.
Bảng 2: Tình hình giải quyết khiếu kiện hành chính
của ngành Toà án
Đơn vị: vụ
Năm
Vụ việc
Đã
giải quyết
Tỷ lệ %
1998
282
267
94,68 17
1999
408
319
78,18
2000
593
419
70,65
2001
803
564
1.2.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của toà hành chính
Từ ngày 1/7/1996, toà hành chính được thiết lập thuộc cơ cấu tổ chức
của TANDTC và TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo qui định
của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức TAND (được Quốc
hội thông qua ngày 28/10/1995). Tính đến tháng 12/2005, trong 64 tỉnh, thành
thì đã có 59 toà hành chính được thành lập, còn lại được ghép với toà lao động,
toà kinh tế thành toà hành chính – kinh tế - lao động. Việc thành lập các toà
hành chính trong thực tế phụ thuộc vào số lượng vụ việc phải giải quyết và
đặc điểm tình hình nhân sự ở từng địa phương. Ở các TAND cấp huyện chỉ có
các thẩm phán hành chính. 18
Nhân sự của toà hành chính được điều chuyển từ các toà chuyên trách
khác như toà dân sự, toà hình sự… cùng cấp; một số TAND cấp tỉnh, Chánh
toà hoặc Phó Chánh toà hành chính còn phải kiêm nhiệm; tuỳ từng địa phương,
Toà Hành chính có biên chế từ 1-3 thẩm phán (bao gồm cả Chánh toà hoặc
Phó Chánh toà), một số Thẩm tra viên hoặc Thư ký Toà án.
Với thực trạng tổ chức nêu trên, hàng năm toà hành chính vẫn có nhiều
cố gắng để đưa các vụ khiếu kiện hành chính ra xét xử đúng thời hạn luật định
và đảm bảo chất lượng xét xử, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý
hành chính nhà nước. Tuy số lượng đơn khiếu kiện hành chính mà toà hành
chính phải thụ lý hàng năm không đáng kể so với số lượng lớn đơn khiếu nại
mà các cơ quan hành chính nhà nước phải giải quyết nhưng tính chất của các
vụ khiếu kiện hành chính ngày càng phức tạp. Một thực tế đáng lưu ý là suốt
10 năm qua, lượng án mà các toà hành chính cấp tỉnh đã giải quyết chỉ khoảng
vài chục vụ, nhiều TAND cấp huyện chưa giải quyết được vụ khiếu kiện hành
chính nào. Cụ thể, theo báo cáo tổng kết của ngành TAND, kể từ năm 1996
đến 2004, Toà Hành chính TAND thành phố Hà Nội mới xử 53 vụ; Toà Hành
chính TAND thành phố Đà Nẵng: 28 vụ (5). Toà Hành chính tại các địa
ngại không muốn thụ lý các vụ án hành chính vì ngại va chạm với cơ quan nhà
nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước đã ban
hành quyết định hay có hành vi hành chính bị khiếu kiện.
- Hành chính là một lĩnh vực xét xử mới của TAND, thêm nữa, có nhiều
khiếu kiện liên quan đến những lĩnh vực chuyên môn phức tạp mà không phải
thẩm phán nào cũng có thể am hiểu tường tận để giải quyết thoả đáng các vụ
việc có liên quan, đặc biệt là lĩnh vực tài chính, thuế, đất đai, xây dựng, xuất
nhập khẩu, môi trường. Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới, người ta đã
thành lập các toà chuyên trách như toà tài chính để xét xử mà không gộp vào
toà hành chính như ở nước ta hiện nay.
Do đó, cùng với việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của toà hành
chính, việc thiết lập một hệ thống cơ quan tài phán hành chính cùng tồn tại,
độc lập với nhau để giải quyết các vụ khiếu kiện hành chính (mang tính chuyên
nghiệp) sẽ góp phần khắc phục những hạn chế trong hoạt động của toà hành
chính và hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta. 20
1.2.3. Yêu cầu giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam sau khi
ký Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và gia nhập
WTO.
Để đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần phải
khẩn trương sửa đổi, bổ sung một số văn bản pháp luật, trong đó có các văn
bản pháp luật về khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện hành chính, bảo đảm phù
hợp với các qui định của WTO, Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam
– Hoa Kỳ và các thông lệ quốc tế.
Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có trên 150 nội
dung cam kết cụ thể liên quan đến các thủ tục và các quyết định hành chính,
hoạt động của các cơ quan tài phán hành chính, toà án nhằm xem xét, sửa chữa
các quyết định hành chính. Hầu hết các nghĩa vụ trong Hiệp định gắn liền với
của Nhà nước trong quá trình hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành
chính. Dù được thành lập theo những mô hình khác nhau tuỳ theo điều kiện
từng nước nhưng nhìn chung các nước đều duy trì phương thức giải quyết
khiếu nại của cơ quan hành chính để các cơ quan này có điều kiện sửa chữa,
khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình quản lý. Sau đó mới cần đến
sự can thiệp của các cơ quan khác (cơ quan tài phán hay toà hành chính…).
1.2.4. Cải thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính theo yêu cầu
cải cách hành chính nhà nước
Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII về “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trung tâm là cải cách nền
hành chính” đã chỉ rõ: cần thiết phải xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước
trong sạch, có hiệu lực và hiệu quả, xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân
và vì dân; thực hiện quyền dân chủ đầy đủ của nhân dân; giữ nghiêm kỷ cương
xã hội.
Mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước trong
thời gian tới là xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh,
chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc
của nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội 22
ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc
xây dựng, phát triển đất nước. Yêu cầu này đòi hỏi nền hành chính phải được
tổ chức thành một hệ thống thống nhất, ổn định, hoạt động thông suốt trên cơ
sở phân công, phân cấp, chế độ trách nhiệm rành mạch, có kỷ cương nghiêm
ngặt, cơ quan hành chính và cán bộ, công chức nhà nước chịu sự giám sát chặt
chẽ của nhân dân, áp dụng các cơ chế, biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn những
hành vi mất dân chủ, tự do, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà
cho dân.
Trong các biện pháp để thực hiện yêu cầu trên, thành lập cơ quan tài