www.HanhChinhVN.com
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH, LỊCH SỬ VÀ
THỰC TRẠNG KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA 6
1.1 Khái lược lịch sử khiếu kiện hành chính và tổ chức giải quyết khiếu kiện hành
chính ở nước ta 6
1.1.1. Thời phong kiến 6
1.1.2. Thời Ngụy quyền Sài Gòn 9
1.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975 9
1.2. Khái niệm và tính chất của khiếu kiện hành chính 11
1.2.1. Khái niệm khiếu kiện hành chính 11
1.2.2. Tính chất của khiếu kiện hành chính 13
1.3. Phân loại khiếu kiện hành chính 15
1.4. Ý nghĩa của khiếu kiện hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền, nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam 17
1.5. Thực trạng khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay 21
1.5.1. Thực trạng khiếu nại hành chính 21
3.2. Vấn đề hòan thiện mô hình tài phán hành chính ở nước ta 78
3.2.1 Các quan điểm cần quán triệt 78
3.2.2. Mô hình tài phán hành chính được đề xuất 80
KẾT LUẬN 90www.HanhChinhVN.com
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Tổng hợp số liệu án hành chính thụ lý tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh trong 5 năm 2002-2006 [Nguồn báo cáo tổng kết họat động của TAND
tp.HCM, 79-83]: .................................................................................................. 93
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính tại
thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1999 – 2005[82] ............................................... 94
Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng các vụ án hành chính mà ngành Tòa án nhân dân đã thụ
lý, giải quyết từ năm 2002 đến 2006[73-77] ....................................................... 94
Bảng 2.3 Tổng hợp số lượng khiếu kiện hành chính mà Tòa án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh đã thụ lý, giải quyết từ năm 2002- 2006 [79-83] .................................. 95
29/11/2005 : Luật 2005
- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính : Pháp lệnh TTGQCVAHC
- Pháp lệnh quy định xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo cuả công dân ngày 27/11/1981
: Pháp lệnh 1981
- Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo ngày 02/5/1991 : Pháp lệnh 1991
- Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 21/5/1996 : Pháp lệnh 1996
- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
28/12/1998 : Pháp lệnh 1998
- Quyết định hành chính : QĐHC
- Xử phạt vi phạm hành chính : XPVPHC
- Tài phán hành chính :TPHC
- Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh : TAND tp.HCM
- Tòa án nhân dân tối cao : TANDTC
www.HanhChinhVN.com
- Tổ chức thương mại thế giới : WTO
- Uỷ ban nhân dân : UBND
- Xã hội chủ nghĩa : XHCN
1
MỞ ĐẦU
Nhà nước XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân, quyền làm chủ
về mọi mặt của nhân dân được Nhà nước bảo đảm. Công dân , tổ chức có quyền khiếu
nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có căn cứ để cho rằng có QĐHC, HVHC
của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Do vai trò , vị trí quan trọng của quyền khiếu nại trong đời sống chính trị, xã hội
ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã chú ý đặc biệt đến công tác giải quyết khiếu
nại của công dân, cơ quan, tổ chức, nên hoạt động giải quyết khiếu nại cuûa Nhà nước ta
ngày càng được đổi mới và hoàn thiện. Điều này được phản ánh trước hết thông qua tổ
quan này hoạt động có hiệu quả hơn? Nếu việc tổ chức mô hình giải quyết như hiện nay
không còn phù hợp thì nên đổi mới như thế nào. Cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra mô
hình mới?
Là người trực tiếp tham gia giải quyết các KKHC ngay từ khi Toà hành chính-
Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, trên cơ sở các kiến thức tiếp
thu được trong quá trình theo học khoá đào tạo cao học luật, tôi chọn đề tài “Đổi mới
mô hình tổ chức giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay.” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
KKHC là một thực tế khách quan phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước của
mọi quốc gia, không phân biệt đó là chính thể hoặc chế độ chính trị nào.
Ngay từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn
đề giải quyết KKHC [65, Tr 30]. Nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động
3
giải quyết KKHC (bao gồm giải quyết khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành
chính) đã được thực hiện như: Coâng trình “Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta”
cuûa Học viện Hành chính quốc gia do GS. TSKH Nguyễn Duy Gia chủ biên, Nhà xuất
bản Giáo dục Hà Nội-1995; “Tìm hiểu về tài phán hành chính ở Việt Nam” cuûa PTS
Phạm Hòang Thái và PTS Đinh Văn Mậu, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh -1996;
“Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền”
cuûa PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nhà
xuất bản Tư pháp- 2004, trong đó có nghiên cứu về tổ chức Toà hành chính … Ngoài
ra, một số cơ sở đào tạo đại học luật, đại học hành chính như Đại học Luật Hà Nội,
Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Học viện hành chính quốc gia, cũng đã nghiên cứu
và đưa vào giáo trình luật hành chính cuả mình những vấn đề lý luận và thực tiễn về
hoạt động giải quyết KKHC. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nêu trên chỉ giới hạn
phạm vi nghiên cứu ở những vấn đề chung nhất về lý luận và thực tiễn. Về phía các cơ
quan hành chính nhà nước , ngày 19/11/2004 Thủ tướng Chính phủ có Văn bản số
6327/VPCP-CV giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, soạn thảo Đề án thành lập cơ quan
TPHC ở Việt Nam. Hiện nay công trình này đang trong giai đọan triển khai nên nhìn
chúng với nhau và giữa chúng với các vấn đề có liên quan khác.
Về mặt cơ sở lý luận, đề tài này sử dụng những thành tựu lý luận của khoa học
Luật hành chính thế giới, trước hết là của các nước XHCN. Hệ thống các khái niệm,
phạm trù, quan điểm được sử dụng trong đề tài cũng bắt nguồn từ những kết luận khoa
học của lý luận luật hành chính XHCN, ñồng thời còn tiếp thu những yếu tố khoa học,
hợp lý liên quan đến các lý luận về KKHC và các mô hình tổ chức giải quyết KKHC
của các nước có chế độ chính trị khác nhau.
Nguồn tư liệu quan trọng của đề tài này là các nghị quyết của Đảng CSVN, đặc
biệt là chủ trương đổi mới và tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước, thực hiện cải
5
cách bộ máy hành chính nhà nước và tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật của
Đảng và Nhà Nước ta hiện nay. Ngoài ra, đề tài này còn tham khảo, sử dụng các giáo
trình có liên quan , các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước…
Cơ sở thực tiễn chủ yếu của luận văn là thực tiễn hoạt động giải quyết KKHC của
của Tòa án nhân dân; hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước.
Nguồn thông tin được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu thực tiễn nêu trên là các văn
bản quy phạm pháp luật, các báo cáo tổng kết hoạt động, các tham luận… của các cơ
quan nhà nước, các nhà khoa học có liên quan và các hiểu biết của tác giả trong hơn 10
năm trực tiếp tham gia vào hoạt động giải quyết KKHC tại Tòa án nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hy vọng các giải pháp đổi mới mô hình tổ chức giải quyết KKHC ở nước ta do đề
tài này đề xuất sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống lý luận khoa học luật hành
chính và cung cấp được những thông tin có ý nghĩa cho các cơ quan chức năng trong
việc đổi mới và hoàn thiện mô hình tổ chức giải quyết KKHC ở nước ta.
7. Về kết cấu của đề tài
Nội dung đề tài được chia làm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về KKHC, lịch sử và thực trạng KKHC ở nước ta.
- Chương 2: Cơ sở lý luận về tài phán hành chính, thực trạng pháp luật và thực
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam sau đó, đã hình thành một truyền thống
dân chủ trong chế độ quân chủ ở Việt Nam là dân có thể kiện đến triều đình các hành vi
7
sai trái, phạm pháp của quan lại để vua xét xử. Trước điện triều có đặt sẵn một cái trống
hay cái chuông để có oan ức điều gì thì dân có thể đến đánh trống, đánh chuông kêu
oan lên Vua.
Vào thời Trần, ở trung ương, bên cạnh các cơ quan, chức quan đã có từ thời Lý,
triều đình còn đặt thêm nhiều cơ quan chuyên trách mới trong đó có Thẩm hình viện và
Tam ty viện. Thẩm hình viện là cơ quan xét xử cao nhất, Tam ty viện là cơ quan có
chức năng giám sát việc thi hành pháp luật cuả các quan lại và viên chức nhà nước, là
cơ quan đề nghị Nhà Vua sưả đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cuả Nhà nước. Ngoài
các chức quan như đã có dưới triều Lý, nhà Trần còn đặt thêm các chức quan như Tư
đồ, Tư mã, Tư không, gọi chung là Tam tư, trong đó Tư mã là quan phụ trách công việc
chinh phạt như quốc phòng, công an, tư pháp[26,Tr91]. Có chức quan là Ngự sử đài với
nhiệm vụ là chuyển những giấy tờ trình nhà vua, chuyển đơn khiếu tố cuả tất cả các nơi
lên nhà vua, kiểm tra, giám sát và phát hiện lầm lỡ cuả các quan lại, viên chức lên vua.
Ở điạ phương, mỗi lộ có 2 viên quan trông coi về hành chính và tư pháp là An phủ
chánh sứ và An phủ phó sứ. Quan lại hành chính ở điạ phương đồng thời phụ trách cả
việc xét xử tội phạm và các kiện tụng khác.
Đến thời nhà Lê, tổ chức cơ quan xét xử vẫn chưa có sự độc lập hẳn so với cơ
quan hành pháp nhưng đã có sự phát triển vượt bậc so với các triều đại trước. Hệ thống
cơ quan hành chính vẫn thực hiện chức năng tài phán, tuy nhiên đã xuất hiện một số cơ
quan được phân định chuyên trách quyền tài phán như: Thưà ty, Hiến ty, Ngự sử đài,
Đại lý tự… trong đó Thưà ty có thẩm quyền xét xử những vụ kiện đặc biệt (điền thổ,
hộ hôn, công nợ, thuế khoá, phân định điạ giới hành chính giữa các làng, khiếu kiện
việc bầu cử xã trưởng…), Hiến Ty có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ sang đoạt tài
sản, ức hiếp do các quan lại cầm quyền gây ra, các vụ sách nhiễu cuả viên chức thu
thuế, việc mua bán cuả các nhà chức trách, các vụ sách nhiễu trong thi hành các trát án,
việc giả mạo dấu má hay tư cách sai nha…[9,Tr 141-152].
8
thực sự nên Tam pháp ty bị bị bỏ, trống Đồng Văn bị dẹp. Cũng kể từ thời điểm này,
đất nước ta luôn chìm trong khói lửa chiến tranh cho đến năm 1954, bằng các thoả
thuận tại Hiệp định Géneve đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc.
Tại miền Nam Việt Nam kế thừa Dụ số 2 ngày 05/01/1950 (được ban hành khi Việt
Nam còn là thành viên trong Khối liên hiệp Pháp), chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp
tục ban hành Dụ số 36 ngày 08/11/1954 tiếp tục duy trì tổ chức Tòa hành chính và Dụ
số 38 ngày 09/11/1954 về việc thành lập Tham chính viện.
Theo các quy định có liên quan thì Tòa hành chính có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
các vụ án đòi bồi thường liên quan đến pháp nhân hành chính, các vụ kiện xin thủ tiêu
các QĐHC có tính cách cá nhân liên quan đến tình trạng hành chính của công chức cấp
trung, cấp thấp, các vụ tranh tụng liên quan đến tuyển cử hội đồng hàng tỉnh, hàng
quận, hàng xã; sơ và chung thẩm các vụ kiện liên quan đến thuế trực thu và các thuế
đồng hoá với thuế trực thu. Tham chính viện là cơ quan cấp trên của Toà hành chính,
trong đó có Ban tài phán có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án do Toà hành
chính đã xử sơ thẩm; xét xử sơ và chung thẩm những việc xin thủ tiêu các QĐHC cá
biệt hay lập quy có vi phạm, các vụ tranh tụng liên quan đến tình trạng hành chính của
các công chức cao cấp…
Ngoài ra, trong tổ chức Tối cao pháp viện còn có Ban bảo hiến có thẩm quyền giải
thích luật; xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, sắc lệnh, nghị định…và Ban phá án
có thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp luật [38,
Tr148].
1.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975
Tại miền Bắc Việt Nam, chính quyền thuộc về nhân dân. Đảng và Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa đã chủ trương xây dựng một nhà nước Việt Nam của dân, do
dân và vì dân: “Tất cả quyền binh trong nước là của tòan thể nhân dân”( Điều 1 Hiến
10
pháp 1946) “Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước phải dưạ vào dân, lắng nghe ý kiến
và chiụ sự kiểm sóat cuả nhân dân. Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải
trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng
hết sức phục vụ nhân dân”( Điều 29 Hiến pháp 1959); “Công dân nước Việt Nam dân
nh nc xõm phm. Vn ny s c xem xột c th trong cỏc phn sau.
1.2. Khỏi nim v tớnh cht ca khiu kin hnh chớnh
1.2.1. Khỏi nim khiu kin hnh chớnh
Xem xột quỏ trỡnh phỏt trin ca quyn khiu ni, KKHC trong lch s nh trờn ó
cho ta nhng nột khỏi quỏt v KKHC. Nhng v mt phỏp lý, cho n nay vn cha cú
mt vn bn quy phm phỏp lut no nh ngha khỏi nim KKHC l gỡ. Tuy nhiờn,
thụng qua vic s dng thut ng khiu kin hnh chớnh, ti Phỏp lnh 1996 v vic
s dng ca cỏc lut gia, cỏc nh khoa hc thỡ nú c hiu theo hai cỏch:
Theo ngha hp, khiu kin hnh chớnh c hiu l vic cỏ nhõn, c quan, t
chc khi kin yờu cu Tũa ỏn bo v quyn v li ớch hp phỏp ca mỡnh khi b
QẹHC, HVHC xõm phm. Vi ý ngha ny thỡ khỏi nim KKHC ng nht vi khỏi
nim khi kin hnh chớnh [ 23, Tr 944 v 986].
Theo ngha rng, khiu kin hnh chớnh l vic cỏ nhõn, c quan t chc khiu
ni n c quan hnh chớnh nh nc cú thm quyn hoc khi kin ti Tũa ỏn yờu cu
bo v quyn v li ớch hp phỏp ca mỡnh khi b QẹHC, HVHC xõm phm[45,Tr2-3],
[40,Tr1]. Khỏi nim KKHC maứ ti ny nghieõn cửựu c hiu theo ngha rng.
KKHC l s biu hin cu tranh chp hnh chớnh phỏt sinh trong quỏ trỡnh thc
hin chc nng qun lý nh nc gia mt bờn l c quan nh nc, ngi cú thm
12
quyền trong cơ quan nhà nước với một bên là các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi các chủ
thể này tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính.
Để hiểu rõ thêm về khái niệm KKHC ta cần tìm hiểu thêm về một số khái niện liên
quan như: Quyết định hành chính, hành vi hành chính, khiếu nại hành chính, khởi kiện
hành chính.
+ “Quyết định hành chính” hiểu theo nghĩa rộng là các quyết định do cơ quan nhà
nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành để thực hiện chức
năng quản lý nhà nước, bao gồm quyết định quy phạm pháp luật hành chính và QĐHC
cá biệt (ngoài hai loại quyết định trên, có quan điểm còn đưa thêm một số lọai QĐHC
khác như: Quyết định chung hay còn gọi là quyết định chính sách [24.Tr137],
[34,Tr99], quyết định chỉ đạo, hướng dẫn[28,tr67] nhưng theo quan điểm của chúng tôi
hồi giấy chứng nhận đã cấp…).
+ “Khiếu nại hành chính” là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét lại QÑHC, HVHC khi có căn cứ cho rằng QÑHC, HVHC là
trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp cuả mình (khoản 1 Điều 2 Luật
khiếu nại, tố cáo).
+ “Khởi kiện hành chính” là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức làm đơn kiện yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị
QÑHC,HVHC xâm phạm (
tham khảo khỏan 5 Điều 4 Pháp lệnh TTGQCVAHC).
1.2.2. Tính chất của khiếu kiện hành chính
Do tính đa dạng cuả khái niệm KKHC nên việc nghiên cứu những nét đặc trưng cuả
nó cũng chỉ mang tính tương đối. Đặt trong tổng thể hoạt động quản lý nhà nước và thể
chế chính trị cuả quốc gia, khái niệm KKHC có những tính chất như: Tính khách quan;
14
Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị; Tính hệ thống, thứ bậc; Tính bảo đảm
bằng pháp luật…
1.2.2.1. Tính khách quan
KKHC là sự việc mang tính khách quan phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước
cuả mỗi quốc gia, không phụ thuộc vào hình thức chính thể và chế độ chính trị cuả
quốc gia đó như thế nào. Bởi lẽ về mặt lý luận, theo quan điểm cuả chủ nghĩa Mác -
LêNin thì mâu thuẫn chính là động lực cuả sự phát triển, mà KKHC chính là một sự thể
hiện cuả các mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính.
Về mặt thực tiễn thì những sơ suất, sai sót cuả cơ quan nhà nước, những bất cập cuả bộ
máy hành chính là những vấn đề khó tránh khỏi khi tác nghiệp. Mặt khác, với sự phát
triển không ngừng cuả xã hội thì mỗi một thao tác hành chính trong thực tế cũng luôn
chứa đựng các yếu tố không phù hợp, dù rất nhỏ và ngay bản thân các chủ thể là đối
tượng bị quản lý khi tham gia vào quan hệ hành chính cũng luôn đòi hỏi nhận được một
sự quản lý “hoàn hảo”, mà sự hoàn hảo thì luôn mang tính tương đối.
Luôn tồn tại với tư cách là một thực tế khách quan, KKHC đòi hỏi các quốc gia
không được phủ nhận mà phải nhìn nhận và có các hình thức, biện pháp tổ chức giải
1.3. Phân loại khiếu kiện hành chính
Phân loại KKHC là việc
laøm cần thiết để hiểu rõ các loại khiếu kiện, là cách thức để
tìm kiếm sự trùng lắp, chồng chéo cuả từng loại khiếu kiện, đảm bảo cho quá trình
nghiên cứu được tiếp cận một cách bao quát, trọn vẹn, hoàn chỉnh, tạo cơ sở khách
quan cho việc xác định mô hình giải quyết khiếu kiện tương ứng, tránh sự rắc rối,
16
chồng chéo, bỏ trống, giành giật, đổ lỗi cho nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc
giải quyết khiếu kiện.
Việc phân loại KKHC có thể dưạ vào nhiều tiêu chí khác nhau. Cũng giống như caùc
phân loại khác, phân loại khiếu kiện hành chính
cuõng chỉ mang tính chất tương đối.
+ Theo chủ thể giải quyết khiếu kiện, KKHC bao gồm hai loại: khiếu nại đến các cơ
quan hành chính nhà nước (khiếu nại hành chính) và khởi kiện vụ án hành chính tại
Tòa án có thẩm quyền. Đây là cách phân loại chung nhất và có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn quan trọng nhất.
+ Dưạ vào các lĩnh vực quản lý nhà nước, KKHC có thể phân thành:
- KKHC trong lĩnh vực quản lý kinh tế;
- KKHC trong lĩnh vực quản lý văn hoá - xã hội;
- KKHC trong lĩnh vực quản lý về hành chính, chính trị.
+ Dưạ vào đặc trưng cuả đối tượng bị quản lý, KKHC được chia thành:
- KKHC trong quản lý đô thị;
- KKHC trong quản lý nông thôn.
+ Dưạ vào đối tượng khiếu kiện, KKHC được chia thành:
- Khiếu kiện QĐHC;
- Khiếu kiện HVHC.
+ Dưạ vào chủ thể bị khiếu kiện, KKHC được chia thành:
- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cơ quan nhà nước;
- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong cơ
kiện. Thông qua các KKHC chúng ta cũng có thể phát hiện ra những quy định cuả pháp
luật không còn phù hợp, nắm được tâm tư, nguyện vọng cuả nhân dân để từ đó có
18
những sưả đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là các quy định liên
quan đến quyền và lợi ích hợp pháp cuả các cá nhân, cơ quan, tổ chức. làm cho pháp
luật cuả Nhà nước ta thực sự là pháp luật mang tính nhân văn, nhân đạo, phục vụ con
người, vì con người.
Qua các KKHC chúng ta cũng có thể phát hiện ra những yếu tố bất hợp lý cuả bộ
máy hành chính, các yếu kém, tiêu cực cuả một số cán bộ, công chức nhà nước để từ đó
có những chấn chỉnh, xử lý kịp thời nhằm bảo đảm cho pháp luật cuả Nhà nước ta được
chấp hành nghiêm chỉnh, tất cả các cơ quan nhà nước, các nhân viên nhà nước đều phải
tôn trọng pháp luật, đặt mình dưới pháp luật.
Thông qua KKHC cuả các cá nhân, cơ quan, tổ chức, chúng ta cũng phát hiện các
quyền lợi hợp pháp cuả các chủ thể bị
QÑHC, HVHC xâm phạm, để từ đó có các biện
pháp, hình thức khắc phục nhằm khôi phục các quyền lợi hợp pháp cuả các chủ thể, bảo
đảm các quyền tự do, lợi ích cuả công dân phải được không ngừng mở rộng và được
pháp luật bảo hộ.
Thay vì lưạ chọn các hình thức phản ứng tiêu cực trước sự xâm hại cuả các QÑHC,
HVHC
như la hét, chống đối…, việc khiếu kiện đến các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong khuôn khổ pháp luật cuả các cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng thể hiện sự
tôn trọng pháp luật, sự tin tưởng vào việc giải quyết đúng đắn các khiếu kiện cuả cơ
quan nhà nước.
Với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã,
từ năm 1986 đến nay Nhà nước ta đã không ngừng có các chính sách khuyến khích, tạo
điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Tuy nhiên, do cơ chế quản lý
kinh tế cũ đã tồn tại suốt một thời gian dài nên cho dù chúng ta có chuyển đổi sang cơ
chế quản lý mới thì các thói quen, sự ảnh hưởng cuả cơ chế cũ cũng vẫn còn và tác
động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp. KKHC chính là một kênh
thủ tục tư pháp, hành chính hoặc trọng tài để theo yêu cầu cuả thương nhân cung cấp
dịch vụ bị ảnh hưởng, xem xét lại một cách nhanh chóng và khi cần thiết chế tài đối với
các QĐHC gây ảnh hưởng đến thương mại, dịch vụ. Nếu như các thủ tục đó không độc
lập với cơ quan hành chính có quyết định bị xem xét lại thì bên đó phải đảm bảo sao
cho các thủ tục đó thực sự khách quan, không thiên vị (Điều 42.A chương III
HĐTMVM, điểm a và b Điều VI.2 Hiệp định chung về thương mại dịch vụ cuả WTO -
GATS)[2,Tr12].
- Yêu cầu pháp luật cuả mỗi thành viên phải quy định cho quyền khiếu kiện mà
không bị trừng phạt đối với quyết định định giá hải quan cuả nhà nhập khẩu hoặc bất
kỳ ai chịu nghĩa vụ nộp thuế. Quyền khiếu kiện ban đầu mà không bị trừng phạt có thể
thực hiện với một cơ quan nằm trong cơ quan hải quan hoặc một cơ quan độc lập
nhưng pháp luật của mỗi thành viên phải quy định cho quyền khiếu kiện đến cơ quan tư
pháp (Điều VI.7 HĐTMVM, Điều 11 Hiệp định định giá hải quan cuả WTO-
CVA)[2,Tr13].
- Yêu cầu khi có một QĐHC dẫn đến tranh chấp giữa nhà đầu tư Hoa Kỳ và Chính
phủ Việt Nam, nhà đầu tư có quyền chọn kiện quyết định đó ra Tòa án Việt Nam hoặc
cơ quan hành chính Việt Nam hoặc ra trọng tài quốc tế theo quy định cuả ICSID (Trung
tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp đầu tư tại Washington D.C), UNCITRAL (Quy
tắc trọng tài UNCITRAL) hoặc bất kỳ quy định nào khác do các bên thống nhất (Điều 4
chương IV HĐTMVM)[2,Tr14]
Qua các yêu cầu như trên cuả HĐTMVM và WTO chúng ta có thể nhận thấy rằng,
Chính phủ Hoa Kỳ cũng như WTO hiểu rất rõ ý nghĩa cuả KKHC trong mối quan hệ
hợp tác với Việt Nam nên đã có các thoả thuận nhằm bảo đảm cho các khiếu kiện ấy
phải được giải quyết một cách minh bạch, công bằng, công khai, nhanh chóng trên cơ
sở tôn trọng các điều ước quốc tế đã được công nhận hoặc thoả thuận.
21
1.5. Thực trạng khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay
Như đã trình bày ở trên, KKHC bao gồm hai loại: khiếu nại đến các cơ quan hành
chính nhà nước (khiếu nại hành chính) và khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có