BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM HÙNG TRƯỜNG
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY – QUA THỰC TIỄN CỦA TỈNH
LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp
Mã số: 60 38 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Đăng Dung
HÀ NỘI - 2010
LI CM N
Trân trọng cảm ơn:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Khoa sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Tập thể thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Luật
khoá XV, niên khoá 2007 - 2010 Trường Đại học Luật Hà Nội.
Đã đào tạo và trang bị kiến thức cho tôi trong suốt thời gian theo học
lớp Cao học Luật khoá XV, niên khoá 2007 -2010 tại Trường Đại học Luật Hà
Nội.
HĐND
Hội đồng nhân dấn
UBND
Ủy ban nhân dân
UBHC
Ủy ban hành chính
1
M U
1. Tớnh cp thit ca ti
Đổi mới và hoàn thiện tổ chức chính quyền Nhà nước ở địa phương
với trọng tâm cải cách hành chính luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta
đặc biệt quan tâm, nhất là trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa hiện nay. Chủ trương đó đã được thể hiện rõ thông qua các
văn kiện Đại hội Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước như: Báo
cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã nhấn mạnh:
"xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để sắp xếp lại tổ
chức của mỗi cấp". Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục nêu "Điều
chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương cho phù hợp với những thay đổi chức
năng, nhiệm vụ. Phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn
và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp, nghiên cứu việc giảm bớt
gian qua cho thấy còn bộc lộ quá nhiều bất hợp lý và cần phải được nghiên
cứu đổi mới cho phù hợp.
Từ những hạn chế, bất cập nêu trên trong việc tổ chức chính quyền
địa phương ở Việt Nam cho thấy việc nghiên cứu vấn đề tài là cần thiết,
thông qua làm sáng tỏ các qui định về tổ chức và hoạt động chính quyền địa
phương, tác giả mong muốn góp phần nhỏ bé để làm rõ thêm một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về tổ chức chính quyền nhà nước địa phương ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đổi mới và hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương nói
chung và ở Việt Nam nói riêng đã được nhiều học giả, nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu như tác phẩm: Sự hạn chế quyền lực Nhà nước, của PGS.TS
Nguyễn Đăng Dung. Nhà Xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội-2005. Đổi
mới, hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, của PGS. TS.
Bùi Xuân Đức. Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội 2007. Nhà nước v
pháp luật
tư sản đương đại, lý luận và thực tiễn, PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Nhà xuất
bản Tư pháp, Hà Nội 2008. Tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước và
xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong tình hình hiện nay, TS. Trần Văn
Tuấn Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Chính quyền cấp
tỉnh và việc phân cấp giữa chính quyền trung ương và địa phương, thực tiễn
4
5
địa phương ở Việt nam hiện nay và nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt
động của chính quyền địa phương một số nước trên thế giới, từ đó tìm ra
những điểm bất hợp lý trong tổ chức và hoạt động cuả chính quyền địa
phương Việt Nam (qua thực tiễn của tỉnh Lạng Sơn).
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của
Chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật,
tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam về tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước, vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động chính quyền địa phương, cải
cách hành chính.
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là phép duy vật biện
chứng của triết học Mác-Lê Nin và những phương pháp cụ thể như phân
tích, tổng hợp, so sánh, thống kê để giải quyết những vấn đề đặt ra.
5. Những kết quả mới của đề tài
Luận văn góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận cơ bản về mô hình,
cách thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương ở
cả ba cấp tỉnh, huyện, xã qua đó giúp người đọc nhận thức vấn đề này dễ
dàng hơn, bao quát hơn.
Phát hiện những điểm bất hợp lý trong cách thức tổ chức và vận hành
của hệ thống các cơ quan chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay thông
qua những ví dụ thực tiễn, sinh động của địa phương mình công tác.
Trên cơ sở đánh giá được thực trạng tổ chức và hoạt động của tổ chức
chính quyền địa phương, luận văn sẽ đề xuất các giải pháp để khắc phục,
nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan này trong giai đoạn hiện nay.
6
Hiện nay trên thế giới có nhiều cách thức tổ chức chính quyền địa
phương trên cơ sở thể chế chính trị và đặc điểm địa lý lãnh thổ, nhưng tựu
chung lại là sự phân chia đơn vị hành chính theo lãnh thổ hành chính tự
nhiên và đơn vị lãnh thổ hành chính nhân tạo. Lãnh thổ hành chính tự nhiên
là lãnh thổ được hình thành một cách tự nhiên. Nhà nước Trung ương bắt
buộc phải công nhận các ranh giới hình thức một cách tự nhiên theo các đặc
điểm dân cư, địa lý, phong tục tập quán, truyền thống văn hoá, lịch sử... đó
là các cộng đồng dân cư bền vững, Nhà nước cần phải thừa nhận trong quá
trình thực hiện sự quản lý của mình trên toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cũng
8
như đối với từng lãnh thổ hành chính riêng biệt. Đặc điểm của các đơn vị
hành chính tự nhiên này là được hình thành trên các đặc điểm quần cư (xóm
làng, thị trấn, thị xã, thành phố), nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn
thống nhất. Mọi vấn đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và
cần phải được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hoà các lợi ích nhà nước,
dân cư. Cơ quan chính quyền ở đây không phải chỉ là cơ quan cai trị mà còn
là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư- cơ quan tự quản. Hay nói cách
khác cơ quan chính quyền ở các đơn vị hành chính trung gian có nhiệm vụ
bảo đảm triển khai pháp luật, chính sách của nhà nước trung ương tới cơ sở
thì cơ quan chính quyền ở đơn vị hành chính cơ sở phải thể hiện lợi ích của
dân cư nhiều hơn (mang tính tự quản).
Còn đơn vị lãnh thổ hành chính nhân tạo, là đơn vị được nhà nước
trung ương chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính trực thuộc theo nhu
cầu quản lý hay nhu cầu cai trị của Trung ương. Việc tổ chức và hoạt động
của chính quyền địa phương ở cấp chính quyền này chủ yếu để thực hiện
chức năng quản lý, đảm bảo lợi ích của nhà nước, tổ chức thực hiện chính
sách pháp luật của nhà nước. ở đây chức năng quản lý lãnh thổ về cơ bản
chật hẹp của các đơn vị lãnh thổ đã không thể thúc đẩy việc sử dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế và nguồn nhân lực. Các
vùng có các cơ quan như nhau, nhưng cũng có sự khác biệt là tại mỗi vùng
có các Hội đồng kinh tế và xã hội và Hội đồng vùng về vấn đề vay nợ.
Vùng có Viện kiểm toán của mình. Hội đồng vùng bầu ra Chủ tịch là cơ
quan hành pháp của vùng.
Mỹ: Hiến pháp năm 1787 đã biến nước Mỹ từ một nước liên hợp
thành Nhà nước liên bang, theo đó dân cư được phân bổ theo các Bang là
những bộ phận cấu thành và là chủ thể Liên bang; thẩm quyền của các cơ
quan Liên bang được xác định bằng hiến pháp của Liên bang; các chủ thể
Liên bang có hiến pháp riêng và trên cơ sở đó, các cơ quan lập pháp bang
có quyền ban hành luật. Các Bang không được quyền ký kết các hiệp ước
với các nhà nước khác và với các Bang khác; không được tiến hành chiến
tranh, không được lập lực lượng vũ trang; không được gia nhập liên minh,
không được phép phát hành tiền hay thẻ tín dụng; không được thu phí hải
10
quan hay các loại thu khác đối với việc xuất nhập cảng; không được ban
hành các luật tổn hại đến nhân quyền hay các luật có hiệu lực trở về trước
hoặc phong tặng tước vị quý tộc.
Người đứng đầu các Bang là Thống đốc bang được bầu thông qua
bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp với nhiệm kỳ 02 hay
04 năm. thống đốc bang trực tiếp lãnh đạo toàn bộ hoạt động chấp hành và
điều hành của các cơ quan của Bang; có thẩm quyền ban hành băn bản quy
phạm pháp luật; bảo đảm việc thi hành các luật; bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm
các chức danh không qua bầu cử và chỉ đạo việc lập dự toán ngân sách của
bang. Thống đốc Bang là Tổng chỉ huy các lực lượng dân quân của Bang,
có quyền ân xá.
chức năng của bộ máy chấp hành trong nhiệm kỳ từ 02 năm đến 04 năm.
Anh: Cấu trúc nhà nước Anh gồm xứ Wales, Scotland, Bắc Ailen
và chính bản thân nước Anh. Các phần lãnh thổ của nhà nước được phân
định theo dấu hiệu thành phần dân tộc, ngôn ngữ, mức độ phát triển kinh tế,
xã hội. Về mặt hình thức mỗi phần lãnh thổ được hưởng quy chế tự trị về
hành chính và lập pháp riêng; riêng Bắc Ailen quy chế tự trị hành chính
được áp dụng trong thời gian trước năm 1972, khi vùng lãnh thổ này chưa
chịu sự quản lý trực tiếp của London. Trên thực tế, việc quản lý được trung
ương thực hiện thông qua Bộ trưởng tương ứng.
Chế độ hai cấp tự quản địa phương được hình thành trong quy chế về
tự quản địa phương năm 1972, theo đó lãnh thổ Anh và Wales được chia
thành các lãnh địa, các lãnh địa được chia thành các vùng. Sau năm 1985
các Hội đồng của London và sáu lãnh địa đô thị đã bị giải thể. Thay vào đó
là một hệ thống tự quản địa phương hoạt động theo nguyên tắc tản quyền
được hình thành.
Nhật: Các cơ quan địa phương được chia thành hai nhóm là cơ
quan thẩm quyền chung và cơ quan thẩm quyền riêng. Cơ quan có thẩm
quyền chung được chia thành các đơn vị hành chính- lãnh thổ cấp thấp và
cấp cao, bao gồm: khu vực thủ đô Tôkyô, đảo Hôkađô, hai quận thủ đô và
43 quận thường. Khu vực thủ đô Tôkyô chia thành 23 khu đô thị và hàng
loạt các thành phố, các khu dân cư và hàng loạt các thành phố, các khu dân
12
cư và khu dân cư nông thôn. Thành phố có trên một triệu bao gồm các
quận. Đơn vị hành chính-lãnh thổ cấp thấp nhất không chỉ có các địa bàn
nơi dân cư sinh sống mà còn có các khu đất trống và rừng bao quanh.
Trung Quốc: Theo Hiến pháp năm 1975 của nước Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa thì Đại hội đại biểu nhân dân địa phương các cấp là cơ quan
toàn bộ bộ máy chính quyền cai trị của thực dân pháp và chế độ phong kiến
và lập nên một Nhà nước mới- Nhà nước dân chủ cộng hoà, cùng với đó là
bộ máy chính quyền mới được xác lập. Hiến pháp năm 1946 được xây dựng
trên tinh thần dân chủ rộng rãi, song vẫn đảm bảo quyền lực nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản (tuy đã rút vào hoạt động bí mật). Theo đó ở
địa phương, cơ quan chính quyền nhà nước gồm có HĐND và UBHC. Nhân
dân phổ thông đầu phiếu và trực tiếp bầu ra HĐND (nhưng mới ở hai cấp
tỉnh, thành phố, thị xã và xã). HĐND cử ra UBHC. HĐND quyết nghị
những vấn đề thuộc địa phương mình. UBHC có trách nhiệm thi hành các
mệnh lệnh của cấp trên và các nghị quyết của HĐND địa phương mình sau
khi được cấp trên chuẩn y; chỉ huy công việc hành chính hay địa phương và
chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với HĐND địa phương mình. Tuy
nhiên, trong thời gian này do điều kiện cụ thể lúc bấy giờ việc tổ chức chính
quyền địa phương còn có nhiều điểm đặc biệt, đó là:
Thời kỳ trước và sau khởi nghĩa, ở các địa phương thay cho bộ máy
chính quyền cũ bị đánh đổ là các Uỷ ban nhân dân cách mạng và Uỷ ban
công nhân cách mạng được thành lập. Các uỷ ban này vừa đại diện cho
nhân dân vừa đại diện cho cấp trên, vừa là bộ máy chính quyền địa phương,
vừa là bộ máy hành chính địa phương. Đây là cách thức tổ chức chính
quyền địa phương, độc đáo, phù hợp với điều kiện hiện tại của cách mạng
nước ta, đó là vừa là cơ quan hành chính để thực hiện chức năng quản lý
nhà nước như mọi bộ máy nhà nước, vừa thể hiện tính dân chủ- chính quyền
của nhân dân, với sự tham gia rộng rãi của nhân dân.
Từ Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945 và Sắc lệnh số 77 ngày 21-121945 quy định về tổ chức chính quyền nhân dân xã, huyện, tỉnh, kỳ và
14
thành phố, thị xã, khu phố thì chính quyền địa phương bao gồm hai cơ quan
là HĐND và UBHC. HĐND do dân cử ra và UBHC do HĐND bầu ra. ở
Hiến pháp năm 1946 đã hiến định cách tổ chức cơ quan chính quyền
địa phương như đã nêu ở trên trong chương V "Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban hành chính" với sáu điều, từ điều 57 đến điều 62. Đối với UBHC, Hiến
pháp quy định "Uỷ ban hành chính đồng thời chịu trách nhiệm đối với cấp
trên và đối với Hội đồng nhân dân địa phương mình "(Điều 60). Hiến pháp
đổi tên đơn vị hành chính Kỳ thành Bộ. Tuy nhiên hai tên này vẫn được
dùng cho đến khi thiết lập đơn vị hành chính liên khu.
Như vậy theo các Sắc lệnh số 63, Sắc lệnh số 77 và Hiến pháp năm
1946 một hệ thống cơ quan chính quyền địa phương kiểu mới đã được
thành lập chính thức. ở những nét chung nhất đây là mô hình tổ chức chính
quyền địa phương theo mô hình Xô viết hay còn goi là chế độ HĐND. Bộ
máy chính quyền địa phương gồm hai cơ quan: HĐND và UBHC, trong đó
lấy HĐND làm nền tảng.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp, bộ máy chính quyền
địa phương có những thay đổi nhằm đáp ứng với tình hình. Vào giai đoạn
đầu của cuộc kháng chiến, để thuận lợi cho việc điều hành kháng chiến đã
thành lập các đơn vị hành chính mới là Khu (Sắc lệnh số 78-SL ngày 3-91947, sau bãi bỏ và thành lập liên khu bằng việc hợp nhất các khu hoặc đổi
gọi khu mà thành (Sắc lệnh số 120-SL ngày 25-1-1948). Với việc thành lập
đơn vị hành chính mới này, cấp kỳ theo quy định của Sắc lệnh 63 coi như bị
bãi bỏ. Những nhiệm vụ và quyền hạn của UBHC xã, huyện, tỉnh, kỳ đối
với HĐND, ấn định trong Sắc lệnh số 63 và các sắc lệnh tiếp sau thì nay là
nhiệm vụ, quyền hạn của UBHC xã, huyện, tỉnh, liên khu (Điều 11 Sắc lệnh
số 254-SL ngày 19-11-1948). Cùng với các biện pháp trên, đã quy định
thành lập ở các cấp Uỷ ban bảo vệ gồm các đại diện quân, dân, chính (Sắc
lệnh số 1-SL ngày 20-12-1946 về việc thành lập Uỷ ban bảo vệ tại các khu
quân sự, các đơn vị hành chính từ cấp tỉnh trở xuống). Khi chiến sự lan tới
đâu thì Uỷ ban bảo vệ đổi thành Uỷ ban kháng chiến. UBHC các cấp vẫn
tiếp tục tồn tại và được gọi là Uỷ ban hành chính kiêm kháng chiến. Như
ngày 15-2-1948)
Có thể thấy bộ máy hành chính địa phương thời kỳ này có những
nhiệm vụ, quyền hạn cao hơn trong mối quan hệ với HĐND. Uỷ ban kháng
17
chiến hành chính dưới sự chỉ huy của cấp trên hầu như quyết định mọi vấn
đề. Các Nghị quyết của HĐND nếu có đều phải bị phê chuẩn chặt chẽ mới
được thi hành. Ngoài việc áp dụng rộng rãi chế độ chỉ định uỷ viên Uỷ ban
kháng chiến hành chính thay cho bầu như trước đây, ngay những cấp vẫn áp
dụng chế độ bầu (tỉnh, xã), nếu không tổ chức được HĐND thì cũng áp
dụng hình thức chỉ định. Hơn nữa, pháp luật còn quy định những người ra
ứng cử vào Uỷ ban kháng chiến hành chính có thể là người ngoài HĐND
(Sắc lệnh số 152-SL ngày 25-3-1948) và những uỷ viên trong Uỷ ban kháng
chiến hành chính mà không có chân trong HĐND cấp tương đương đều
được coi như hội viên của HĐND cấp ấy (Sắc lệnh số 153-SL ngày 25-31948). Những thay đổi này xét về góc độ dân chủ thì có những hạn chế về
sự tham gia của nhân dân. Tuy nhiên là do hoàn cảnh bắt buộc.
Giai đoạn sau của cuộc kháng chiến, Chính phủ đã có những biện
pháp củng cố chính quyền nhân dân, khôi phục lại các định chế dân chủ
trong tổ chức chính quyền nhân dân đã được quy định ở các Sắc lệnh số 63
và 77. Quan điểm của Đảng lúc này là làm cho chính quyền thật mạnh, thật
vững, phản ánh đúng chính quyền của nhân dân để thực hiện nhân dân
chiến tranh thực sự. Việc bầu lại thường xuyên và đều đặn HĐND xã, tỉnh
được thực hiện theo tinh thần Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945 (Thông tư số
814-NV/PC ngày 19- 4-1949 của Bộ Nội vụ, Sắc lệnh số 29-SL ngày 25-41949, Sắc lệnh số 80-SL ngày 22-5-1950). Đối với cấp thành phố, thị xã, thị
trấn mặc dù chưa quy định tiến hành bầu lại HĐND nhưng đã có chủ trương
dân chủ hoá bộ máy theo từng bước, chuẩn bị các điều kiện tiến tới bầu
HĐND các cấp theo thể lệ hiện hành.
Thay đổi quan trọng nhất của bộ máy hành chính địa phương lúc này
các đơn vị hành chính có HĐND (khu tự trị1, thành phố thuộc trung ương,
tỉnh, châu, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, xã và thị trấn) do Hội đồng bầu
ra. ở huyện (không có HĐND) do các đại biểu HĐND xã và thị trấn bầu ra.
UBHC (hoặc Ban hành chính) khu phố ở các thành phố và thị xã lớn được tổ
1
Lúc này đã bỏ đơn vị hành chính liên khu. Khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương là đơn vị hành
chính mới được thành lập.
19
chức theo quy định của Hội đồng Chính phủ (Điều 1-2 Luật số 110 ngày
31-5-1958).
Về tính chất, Luật số 110 xác định rõ UBHC là cơ quan chấp hành
của HĐND cùng cấp và là cơ quan hành chính của nhà nước ở cấp ấy. ở
huyện, UBHC là cơ quan hành chính của nhà nước ở cấp ấy (Điều 23).
UBHC các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với HĐND cùng cấp,
với cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp và đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất
của Chính phủ (Điều 24). Số lượng uỷ viên UBHC các cấp định từ 5- 19,
trong đó có Chủ tịch và một hoặc nhiều Phó Chủ tịch (Điều 26). Nhiệm kỳ
của UBHC theo nhiệm kỳ của HĐND đã bầu ra. Khi HĐND hết nhiệm kỳ,
UBHC tiếp tục làm việc cho tới khi HĐND khoá sau bầu ra UBHC mới
(Điều 28).
* Tổ chức chính quyền ở Việt Nam theo Hiến pháp năm 1959
Theo Điều 80 Hiến pháp năm 1959 thì: " Hội đồng nhân dân các cấp
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Hội đồng nhân dân các cấp do
nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa
của UBHC trong đó phân định rõ vị trí của UBHC với tư cách là cơ quan
cao nhất về mặt hành chính ở địa phương. Với chức năng trên, UBHC các
cấp có các nhiệm vụ và quyền hạn sau (Điều 89, 90):
Thứ nhất, UBHC các cấp quản lý công tác hành chính của địa
phương, chấp hành Nghị quyết của HĐND cấp mình và Nghị quyết, mệnh
lệnh của cơ quan hành chính cấp trên.
Thứ hai, UBHC các cấp lãnh đạo công tác của các ngành thuộc
quyền mình và của các UBHC cấp dưới. UBHC các cấp có quyền sửa đổi
hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của các ngành công tác
thuộc quyền mình và của UBHC cấp dưới.
Thứ ba, UBHC các cấp có quyền đình chỉ việc thi hành những nghị
quyết không thích đáng của HĐND cấp dưới trực tiếp và đề nghị HĐND
cấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy.
Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của UBHC:
Về mặt tổ chức, UBHC gồm có: Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ
tịch, Uỷ viên thư ký và các uỷ viên. Nhiệm kỳ của UBHC theo nhiệm kỳ
của HĐND đã bầu ra mình nhưng khi HĐND đó hết nhiệm kỳ, hoặc bị giải
tán thì UBHC vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi HĐND mới bầu ra
được UBHC mới.
UBHC các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND
cấp mình và trước cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp. UBHC các cấp
chịu sự lãnh đạo của UBHC cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của HĐND.
* Tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam theo Hiến pháp năm
1980