Bài thảo luận kinh tế vĩ mô phân tích chính sách kích cầu của chính phủ việt nam ( chính sách tài khóa) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010 2014 - Pdf 33

Bài thảo luận
Môn kinh tế vĩ mô
Nhóm 3
Đề tài 1 phân tích chính sách kích cầu của
chính phủ việt nam ( chính sách tài khóa)
nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn
2010- 2014


Lời mở đầu
Trong giai đoạn 2010- 2014, một vấn đề bức thiết gây chấn động địa cầu đã xảy ra
đó chính là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Nó bắt nguồn từ cuộc khủng
hoảng tài chính Mỹ từ cuối năm 2007, kéo theo phản ứng dây chuyền lên toàn bộ
nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển. Kết quả là các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều khía cạnh. Một trong
những giải pháp mà chính phủ các nước đưa ra để cứu vãn tình thế này và khắc
phục hậu quả của nó là tung ra các gói kích cầu nhằm kích thích nền kinh tế phát
triển, thoát khỏi tình trạng suy thoái. Chính phủ Việt Nam cũng hành động như
vậy. Sau thời gian hội nhập với nền kinh tế thế giới thì nền kinh tế Việt Nam đang
đứng trước một nguy cơ và thách thức to lớn. Để đối phó với khủng hoảng kinh tế
giai đoạn năm 2010-2014 chính phủ việt nam đã dùng nhiều biện pháp để đẩy
mạnh nền kinh tế bị ảnh hưởng xấu do khủng hoảng của việt nam. Giai đoạn này
là giai đoạn chính phủ đây mạnh các gói kích cầu đặc biệt là chính sách tài khóa
Vì để giúp các bạn hiểu dõ hơn về chính sách này nên nhóm 3 chúng tôi đã thự
hiện đề tài: Đề tài 1 phân tích chính sách kích cầu của chính phủ việt nam
( chính sách tài khóa) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010- 2014


Nội dung
I.


đốn vì thiếu sức mua, kích thích tổng cầu.

Mục tiêu của gói kích cầu là tại thêm cầu để đối ứng với năng lực sản xuất hiện tại
của nền kinh tế khi suy thoái, tránh để dư thừa năng lực sản xuất ở mức quá cao
gây lãng phí nguồn lực cũng như gây ra những vấn đề về xã hội do thất nghiệp
tăng cao gây ra.
Nếu không nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽ tiến đến ngưỡng nguy hiểm đẩy
suy giảm kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu
nhập (thực tế và kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra của
doanh nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên
ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy. Do vậy mục đích lớn nhất của gói kích cầu
là duy trì việc làm


Theo lý luận của nhà kinh tế học Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là hiệu
trưởng trường đại học Harvard, và cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama), một
gói
kích cầu có hiệu quả phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí.
- Nguyên tắc số 1 – Kích cầu phải kịp thời:
Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thì những
biện
pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chi tiêu ngay trong
nền kinh
tế.
- Nguyên tắc số 2 – Kích cầu phải đúng đối tượng:
Mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của Chính phủ phụ thuộc vào:
• Mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu thông
qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng.
• Mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của tác
động lan tỏa.

bằng cán cân thanh tóan.
- Dài hạn: Điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn

3 Công cụ , phân loại chính sách kích cầu
3.1 Các công cụ của chính sách tài khóa:
Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống
thuế. Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ
có thể ảnh hưởng đến các biến số sau trong nền kinh tế:
- Tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế
- Kiểu phân bổ nguồn lực


- Phân phối thu nhập
3.1.1 Thuế:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước
theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công
cộng. Đây là một thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt thuế với các hình
thức huy động tài chính khác.
3.1.2 Chi tiêu chính phủ:
Chi tiêu của chính phủ nhằm thỏa mãn nhu cầu của Nhà nước đối với việc thực
hiện các mục tiêu chungtoàn xã hội. Chi tiêu chính phủ bao gồm hai loại: chi tiêu
công cộng (hoặc gọi là các khoản chi thường xuyên) và chi đầu tư xây dựng cơ
bản.
3.2 Phân loại chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa liên quan đến tác độngtổng thể của ngân sách đối với hoạt
động kinh tế. Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và
thu gọn
3.2.1Chính sách trung lập:
Là chính sách cân bằng ngân sách, khi đó G = T (G: chi tiêu chính phủ, T: thu nhập
từ thuế). Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế và

P0
P1
y1
y0
E0
AS

E1
AD

AD0


Nền kinh tế đang rơi vào tình trạng suy thoái với mức cung < mức cầu, điều này
làm cho giá cả hàng hóa tăng lên cao dẫn tới áp lực suy thoái đang đe dọa tới nền
kinh tế và nó đòi hỏi chính phủ phải ra tay hành động để làm tăng tổng cầu thông
qua tăng chi tiêu chính phủ, tăng mua sắm hàng hóa, dịch vụ hoặc giảm thuế. Nếu
làm được điều này thì đường tổng cầu AD1 sẽ dịch dần lên trên, và khi AD1 tiến
đến AD tức là Y1 dần tới Y*, sản lượng thực tế sẽ bằng sản lượng tiềm năng. Lúc
này thị trường ổn định, thất nghiệp sẽ giảm và điều tất nhiên là tỉ lệ thất nghiệp
thực tế sẽ trở về với tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên. Như vậy là vấn đề đã được giải
quyết.
Y

P
P2
P0
y0
y2
AS

như là một bộ tự ổn định tự động nhanh và mạnh.
Yếu tố thứ hai sau tự ổn định sau thuế chính là hệ thống bảo hiểm. Bởi trong quá
trình sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội, cải tạo và chinh phục tự nhiên, dù có tri
thức ngày càng cao, con người vẫn phải đối mặt nhiều hơn với khả năng xảy ra tai
họa từ nhiều phía, do chính bản thân con người, do những phương tiện thiết bị của
con người tạo ra. Trước mối đe dọa thường ngày như vậy, các cá nhân, doanh
nghiệp có thể thực hiện biện pháp tự bảo hiểm, nhưng tự bảo hiểm là biện pháp
hiệu quả thấp và không kinh tế. Do vậy tổ chức và cá nhân có nhu cầu được bảo
hiểm và sử dụng nó để chia sẻ khi rủi ro xảy ra thông qua hoạt động của các công
ty bảo hiểm. Trong nền kinh tế hiện nay, hệ thống bảo hiểm bao gồm bảo hiểm thất
nghiệp và các chuyển khoản mang tính chất xã hội khác. Hệ thống này hoạt động
khá nhạy cảm.
Điều này được hiểu như sau: Khi mất việc hay thất nghiệp thì người thất nghiệp sẽ
được nhận một khoản trợ cấp – đó là trợ cấp thất nghiệp từ nhà nước. Và đương


nhiên là khi có việc làm thì khoản trợ cấp này sẽ không còn nữa. Như vậy, hệ thống
bảo hiểm bơm tiền vào và rút tiền ra khỏi nền kinh tế, ngược lại chiều hướng của
chu kỳ kinh doanh góp phần ổn định hệ thống kinh tế. Tuy nhiên, những nhân tố ổn
định tự động chỉ có tác dụng làm giảm một phần các dao động của nền kinh tế, mà
không xóa bỏ hoàn toàn những dao động đó. Phần còn lại đặt trên vai các chính
sách tài chính và tiền tệ chủ động của chính phủ.
qua các dự án công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển việc làm và trợ cấp xã
hội. Thực tế cho thấy, ngoài một số dự án công cộng thực hiện thành công, đa số
các dự án tỏ ra kém hiệu quả kinh tế.
III.

thực trạng nền kinh tế việt nam giai đoạn 20102014

3.1.Tăng trưởng GDP

hiệu quả. Tuy năm 2014 đánh dấu sự chuyển hướng trong tái cơ cấu ngành, song
xu hướng chi phối vẫn là “sản lượng cao, tiêu tốn nhiều nguồn lực, chất lượng thấp
và giá trị gia tăng thấp”.

Điểm sáng của ngành là đã có những đột phá mạnh trong ứng dụng rộng rãi khoa
học kĩ thuật, công nghệ cao, với sự tham gia của ngày càng nhiều doanh nghiệp lớn
vào sản xuất nông nghiệp. Xu hướng tuy mới bắt đầu nhưng có khả năng lan tỏa
nhanh.

3.3 Ngành công nghiệp

Sản xuất công nghiệp năm 2014 phục hồi đáng kể ở tất cả các nhóm ngành. Tính
cả năm 2014, chỉ số sản xuất toàn ngành ước tăng 7.6% so với năm 2013, cao hơn
nhiều mức tăng 5.9% của năm 2013.


Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/12/2014
tăng 10% so cùng kỳ năm 2013. Tính cả năm 2014, chỉ số tồn kho ngành công
nghiệp chế biến tăng 12%, thấp hơn cùng kỳ 2013 là 0.87 điểm %. Chỉ số quản trị
mua hàng PMI từ tháng 9 năm 2013 đã liên tục cao hơn ngưỡng 50 điểm
3.3.1 Các nhà quản trị mua hàng đều nhận thấy điều kiện kinh doanh trong
nước đang được cải thiện rõ rệt.

Tuy nhiên, về thực chất, nền công nghiệp nước ta là nền công nghiệp định hướng
phi công nghệ[1]. Theo báo cáo của Bộ KHCN năm 2012, phần lớn các doanh
nghiệp nước ta sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3
thế hệ. Khoảng 80%-90% công nghệ Việt Nam đang sử dụng là ngoại nhập. 76%
máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 1950-1960, 75% số
thiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang. Tính chung các doanh nghiệp, mức
độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, trung bình 38%, lạc hậu và rất lạc hậu 52%. Tỷ lệ

tỷ trọng lớn nhất, nhưng xu hướng giảm rõ rệt hơn. Tỷ trọng khu vực ngoài nhà
nước tăng trong khi FDI lại giảm so với năm trước (Hình 1.6, 1.7). Cơ cấu vốn đầu
tư phân theo ngành kinh tế có sự thay đổi. Số vốn đổ vào thị trường BĐS tăng gấp
3 lần so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước
ngoài với số vốn đăng ký gần 14,493 tỷ USD, chiếm 71.6% tổng vốn đăng ký; lĩnh
vực bất động sản đạt hơn 2,5 tỷ USD, chiếm 12.6%; ngành xây dựng đạt gần 1,06
tỷ USD, chiếm 5.2%; các ngành còn lại đạt gần 2.14 tỷ USD, chiếm 10.6%.

3.5 Lao động việc làm

Trong năm 2014, nền kinh tế có những dấu hiệu tích cực hơn so với năm 2012 và
2013 như tăng trưởng kinh tế ở mức cao hơn, sản xuất công nghiệp, dịch vụ và
nông nghiệp đều có mức tăng trưởng tốt hơn năm trước. Do đó, nên kinh tế cả
nước đã giải quyết việc làm cho khoảng khoảng 1.6 triệu lao động, tăng 3.6% so
với thực hiện năm 2013, trong đó: tạo việc làm trong nước khoảng 1.494 triệu lao
động, đạt 98.8% kế hoạch, tăng 2.7% so với năm 2013; xuất khẩu lao động khoảng
106 ngàn người[2].


Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đến thời điểm
01/01/2015 là 54.48 triệu người, tăng 782 nghìn người so với cùng thời điểm năm
trước, trong đó lao động nam chiếm 51.3%; lao động nữ chiếm 48.7%. Lao động từ
15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2014 ước tính 53.0 triệu
người. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2014 của khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản chiếm 46.6% tổng số (năm 2013 là 46.8%); khu vực công
nghiệp và xây dựng chiếm 21.4% (năm 2013 là 21.2%); khu vực dịch vụ chiếm
32.0% (năm 2013 là 32%).
Vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm

Ở những nước đang phát triển như Việt Nam, số người tham gia đóng bảo hiểm

động nông nghiệp vẫn còn rất lớn, chất lượng nhân lực rất chậm d0 cải thiện. Nông
nghiệp vẫn là khu vực tạo ra nhiều việc làm. Chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta
thấp. Đào tạo đại học, cao đẳng ít gắn với thực tiễn nên kỹ năng lao động kém.
Trong khi đó, việc tham gia khu vực dịch vụ đẳng cấp thấp, ít cần lao động có kĩ
năng lại dễ dàng, với mức thu nhập ban đầu không thấp hơn nhiều so với thu nhập
của lao động mới tốt nghiệp đại học, cao đẳng. Vì vậy, lao động thất nghiệp trong
công nghiệp, nông nghiệp rất dễ chuyển sang khu vực dịch vụ[3]. Người lao động
ít có động lực làm việc, nâng cao kỹ năng. Do đó, dù cơ cấu lao động chuyển dịch
theo hướng công nghiệp, dịch vụ thì đó vẫn là một cơ cấu kém bền vững

được hoàn thành và bàn giao trong năm 2014, đặc biệt là phân khúc nhà chung cư
giá trung bình và rẻ. Thị trường vật liệu xây dựng không có biến động lớn, góp
phần giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp xây dựng. Mặc dù vậy, đó chỉ là quá
trình phục hồi chậm chạp.


Tình trạng nợ đọng xây dựng từ những năm trước của các doanh nghiệp vẫn chưa
có hướng giải quyết triệt để. Nhiều doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận vốn,
nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

3.7 Ngành dịch vụ

Tính cả năm 2014, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước
tính đạt 2945.2 nghìn tỷ đồng, tăng 10.6% so với năm 2013 (loại trừ yếu tố giá,
tăng 6.3%), cao hơn mức 5.5% của năm 2013. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2014, khu vực FDI có mức tăng trưởng cao nhất
(16,9%), trong khi kinh tế Nhà nước chỉ tăng 9.6%; kinh tế ngoài Nhà nước tăng
10.5%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch tăng trưởng khá, cả năm đạt 381.8

Nghành nông, lâm nghiệp và thủy sản có bước phát triển khá. Giá trị sản xuất toàn
nghành nông, lâm ngư nghiệp 9 tháng đầu năm tăng 2,6% so với cùng kì năm
trước; sản lượng lương thực vụ đông xuân vượt mức kỉ lục của năm trước (tăng
0,3%).


Có thể nói gói kích cầu có hiệu ứng tâm lí tích cực, làm tăng tức thời lòng tin của
doanh nghiệp, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm
của nhà nước trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũng như tin
vào triển vọng thị trường vầ môi trường đầu tư Việt Nam.
Gói kích cầu đã trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn ngân
hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó giảm bớt chi phí kinh doanh, gop phần giảm giá
thành sản phẩm, tăn cạnh tranh và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường.
Nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịp thời của gói kích cầu đã có thêm cơ
hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó giảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo
ổn định xã hội.
Những hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại quốc gia được hỗ trợ từ gói kích
cầu nếu thực hiện có hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến việc tăng dòng vốn chảy
vào Việt Nam, mở rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế, từ đó
trực tiếp góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước...

Một trong những yếu tố chính của gói kích thích kinh tế là khoản hộ trợ lãi xuất
4% đối với vay vốn ngắn hạn, qua điều tra thực tế cho thấy hiệu quả rất cao. Mục
tiêu của chính phủ thông qua chương trình hỗ trợ này là duy trì lạm phát ở mức
thấp, hỗ trợ sản xuất kinh doanh sao cho hiệu quả nhất (điều này cũng đem lại hiệu
quả cho cả nền kinh tế). Nhà nước chỉ hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay nhằm mục
đích giúp cho các doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng chi phí tài chính, nhờ đó
khuyến khích doanh nghiệp tiếp tục duy trì sản xuất. Kinh doanh hiệu quả.

Ngoài sự nỗ lực năng động sáng tạo của từng doanh nghiệp thì những chính sách


Chính phủ Việt Nam đã lựa chọn giải pháp kích cầu kiểu “phòng thủ” tức là chúng
ta trông đợi vào khả năng khôi phục của sức cầu từ bên ngoài hơn là tự tạo ra sức
cầu mới bên trong nền kinh tế. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế giống như kiểu
một trận đấu đang bế tắc, Trung Quốc và Mỹ lựa chọn tìm kiếm giải pháp tấn công
mới, mô hình hỗ trợ (tạo tăng trưởng GDP mới), khai thông thế trận mới, trong khi
Việt Nam lựa chọn phòng thủ và duy trì lối chơi truyền thống (mô hình tăng trưởng
vẫn dựa vào xuất khẩu), chờ đợi cơ hội. Khó có thể nói là lựa chọn nào là hoàn
toàn đúng, vì vấn đề còn phụ thuộc vào thực lực của từng đội. Liệu rằng ngân sách


của Việt Nam có thể bền vững nếu lựa chọn giải pháp như Mỹ và Trung Quốc? Với
thực lực của Việt Nam hiện nay chúng ta có thể tạm đánh giá là gói kích cầu đã
phần nào tạo được hiệu quả, tuy nhiên chúng ta vẫn đang e ngại trong việc thực
hiện những chính sách mạnh hơn, dẫn đến việc chúng ta sẽ bỏ qua những cơ hội
đáng tiếc.
Xét về tổng thể, gói kích cầu đã có những tác động tích cực đến nền kinh tế, hỗ trợ
doanh nghiệp và người dân trong bối cảnh kinh tế suy giảm. Tuy nhiên, gói kích
cầu mới chỉ đáp ứng được nguyên tắc: kịp thời (timely); mức độ “đúng đối tượng”
chưa cao và liều lượng cũng chưa phù hợp ở một vài giải pháp cụ thể. Bên cạnh đó,
có một phần gói kích cầu cũng đã bị ‘rò rỉ” ra bên ngoài (hàng nhập khẩu).
Sau đây, chúng ta sẽ đánh giá những điểm tích cực và tiêu cực từ việc thực hiện gói
kích cầu lãi suất 1 tỷ USD của chính phủ.

4.1Tích cực
4.1.1 Đối với Doanh nghiệp Việt Nam
Gói kích thích kinh tế của Chính phủ bao gồm hỗ trợ lãi suất vay vốn tín
dụng khoảng 17 nghìn tỷ đồng (1 tỷ USD); vốn đầu tư phát triển của Nhà nước
khoảng 90,8 nghìn tỷ đồng; thực hiện chính sách miễn giảm thuế khoảng 28 nghìn
tỷ đồng; và các khoản chi khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và đảm bảo an

tăng dòng vốn chảy vào và mở rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp và nền
kinh tế, từ đó trực tiếp góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước...
4.1.2 Đối với nền kinh tế chung
Khi đã góp phần tác động tích cực đến những bộ phận nhỏ của nền kinh tế
là các doanh nghiệp thì nền kinh tế vĩ mô cũng được ổn định hơn nhờ chính sách
kích cầu này.
Đầu tiên gói kích cầu của Chính phủ đã góp phần thực hiện được mục tiêu
ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chi ngân sách
Nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế… được đảm bảo; lạm phát được
kiềm chế ở mức thấp nhất; tốc độ tăng trưởng được duy trì hợp lý và bền vững.
Thứ 2 chính sách kích cầu kinh tế làm gia tăng lòng tin của của các doanh
nghiệp, ngân hàng và các nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm và
quyền năng của Nhà nước trong việc giải cứu các doanh nghiệp đang gặp khó
khăn, cũng như vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước,...


Thứ 3, giúp các trung gian tài chính cải thiện hoạt động, giữ vững ổn định
và hoạt động lành mạnh. Giúp các ngân hàng cải thiện hoạt động huy động và cho
vay tín dụng của mình theo hướng: một mặt, ngân hàng không phải hạ thấp lãi suất
huy động dễ gây giảm và biến động mạnh nguồn tiền gửi và huy động; mặt khác,
cho phép ngân hàng mở rộng đầu ra nhờ không buộc phải nâng lãi suất cho vay dễ
làm thu hẹp cầu tín dụng trên thị trường. Sự ổn định và hoạt động lành mạnh của
hệ thống ngân hàng trong khi gia tăng dòng tiền bơm vào thị trường là điều kiện
tiên quyết cho sự ổn định kinh tế vĩ mô và gia tăng các hoạt động đầu tư xã hội
Thứ 4, đã góp phần trực tiếp vào việc góp phần gia tăng các hoạt động đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế , tạo
nền tảng và động lực của sự phát triển xã hội ở hiện tại và tương lai. Cụ thể thể
hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta trong năm 2010 như sau :

Thể hiện

Cụ thể ở từng ngành, từng lĩnh vực đều có sự chuyển biến rõ nét. Sản xuất công
nghiệp phục hồi khá nhanh, đặc biệt đến tháng 11 tăng 11,9% so với cùng kỳ năm


2008. Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng vậy, giá trị sản suất toàn nghành
nông, lâm, ngư nghiệp 9 tháng đầu năm tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.

4.2 Tiêu cực
4.2.1 Đối với Doanh nghiệp
Bên cạnh những tác động tiêu cực thì vẫn còn một số những hạn chế sau:
Thứ nhất, liều lượng của gói kích cầu thì chưa phù hợp, đối tượng hạn hẹp vì
chỉ có những doanh nghiệp có điều kiện 3 năm làm ăn có lãi thì mới được nhận hỗ
trợ từ gói kích cầu. Chính vì thế mà một số Doanh nghiệp vừa và nhỏ không được
hưởng lợi gì từ gói kích cầu này. Điều này khiến cho các Doanh nghiệp vốn đang
có sức chống lại với cuộc khủng hoảng kinh tế thì lại được tiếp thêm sức, còn các
Doanh nghiệp đang thoi thóp vì cuộc khủng hoảng thì lại không được hưởng sự hỗ
trợ nào, dẫn đến các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đều phá sản.
Thứ 2, tiềm ẩn của lạm phát vẫn chưa được loại trừ hoàn toàn vì một phần
nguồn gốc của lạm phát ở nước ta là do cung tiền quá lớn trong thời gian dài, tức là
để tạo ra một phần trăm (%) tăng trưởng thì cần một lượng vốn khá lớn so với các
nước trong khu vực. Do các Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được Nhà nước hỗ
trợ một lượng tín dụng lớn nhưng lại kém hiệu quả, mặt khác các DNNN này lại
dùng số tiền đó đầu tư vào những lĩnh vực mang tính đầu cơ cao như chứng khoán
và bất động sản, mà không dùng vào việc làm gia tăng hoạt động sản xuất vì thế
khiến cho mục đích sử dụng gói kích cầu của chính phủ đi sai hướng. Vì thế các
DNNN hay DNTN đều phải nhận thức rõ được việc cần làm, đó là thực hiện hoạt
động sản xuất hiệu quả hơn nhờ kỷ luật nhà nước và kỷ luật của thị trường thì nền
kinh tế Việt Nam có thể đã được chuẩn bị tốt hơn phần nào để đương đầu với cuộc
khủng hoảng kinh tế.
Thứ 3, nếu không chú trọng kiểm tra, giám sát sẽ làm tăng nguy cơ nảy sinh

tương lai nếu sử dụng không hiệu quả "gói kích cầu" khiến gia tăng tích tụ cân đối
hàng - tiền và vi phạm quy luật lưu thông tiền tệ.
Thứ 4, do việc thực hiện gói kích cầu còn nhiều hạn chế gây phản tác dụng
đến nền kinh tế chung, biểu hiện:
Làm cho tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao. Cụ thể như số
dư tiền gửi đến cuối tháng 10/2009 là 1.690.450 tỷ đồng, tăng 25,72% so với tháng
12/2008. Tổng phương tiện thanh toán tăng 24% so với tháng 12/2008. Dư nợ tín
dụng tăng 39,46% so với tháng 12/2008.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status