Một số biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Quận Đống Đa - Pdf 44

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
LỜI GIỚI THIỆU
Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 2000- 2005, tiếp tục công cuộc
đổi mới của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá Thủ đô, Quận Đống Đa
đã phát huy, khai thác triệt để các tiềm năng kinh tế, huy động tối đa mọi
nguồn lực và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Chính vì vậy, những bài
học trong giai đoạn trước thực sự sẽ là những kinh nghiệm đúc rút quý báu
mang tính thực tiễn cao, những bài học quý giá, tạo cơ sở cho việc xây dựng
kế hoạch 2006-2010 thành công, góp phần vào thực hiện những thắng lợi
của Quận nói riêng và của Thành phố nói chung.
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006- 2010 có
vai trò đặc biệt quan trọng nhằm hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội giai
đoạn 2001-2010, thực hiện thắng lợi nghị quyết 15 - NQ/TW của Bộ chính
trị, Pháp lệnh Thủ đô và kỷ niệm trọng thể 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Bước vào 5 năm tiếp theo của giai đoạn ( 2001-2010) của thế kỷ 21,
thế kỷ của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Quận Đống Đa sẽ được kế thừa
những thành quả phát triển của kế hoạch 5 năm 2001-2005, tiếp tục phát huy
những kinh nghiệm tích luỹ trong khai thác nguồn lực, trong chỉ đạo điều
hành phát triển, trong đổi mới quản lý kinh tế - xã hội, tận dụng được những
cơ hội mới với vị thế là một phần của thủ đô Hà Nội. Song, cũng phải thừa
nhận rằng là một bộ phận của Hà nội khi mà tình hình kinh tế xã hội Thủ đô
cũng đứng trước nhiều thách thức gay gắt, trước sự biến động nhiều mặt của
khu vực và thế giới, nhân dân và chính quyền quận Đống đa cũng xác định
rõ những nhiệm vụ khó khăn trong giai đoạn 5 năm ( 2006-2010) tiếp theo.
Trong đó, Quận cần tập trung vào việc bảo đảm ổn định vững chắc về chính
trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế toàn diện và bền vững, góp phần
xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại.
Với vai trò quan trọng của việc tăng trưởng kinh tế quận, em quyết
định chọn đề tài:
Một số biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Quận
Đống Đa giai đoạn 2006-2010

1. Khái niệm
Kinh tế quận là một khái niệm bao quát cả ba lĩnh vực: tăng trưởng
giá trị, tăng trưởng dân số và tăng trưởng vật chất quận. Đây là ba khía cạnh
có quan hệ mật thiết, luôn luôn liên kết và tác động lẫn nhau. Tăng trưởng
kinh tế là nhân tố có tính chất quyết định đối với sự phát triển quận. Do đó,
nắm bắt rõ và sâu sắc khái niệm về tăng trưởng kinh tế quận là điều kiện tiên
quyết, cần thiết nhất nhằm phát triển các đề xuất về sau. Ba điểm tựa cơ bản
và chủ yếu của quận là tính cách không gian khu vực của sự thống nhất hữu
cơ của thực thể kinh tế, thực thể xã hội và thực thể vật chất, các ngành kinh
tế, dân số và kiến trúc. Tuy nhiên xét về mặt lịch sử phát triển quận và
phương thức trưởng thành của quận thì thực thể quận trước hết là thực thể
kinh tế. Tựu chung lại, tăng trưởng kinh tế quận gồm:
1
Đầu tiên, kinh tế quận là tổ hợp có hệ thống đạo lý của một số ngành
kinh tế phi nông nghiệp, mà các ngành này có đặc trưng cơ bản là tập trung
về địa lý, tiến bộ về công nghệ, chuyên môn hoá hệ thống tổ chức và hiệu
quả kinh doanh cao - chúng không chỉ phân bố ở các ngành sản xuất vật chất
và các ngành kinh doanh như công nghiệp, thương nghiệp, xây dựng, giao
thông vận tải, mà còn gồm các ngành sinh hoạt xã hội như dịch vụ, du lịch,
tiền tệ, tài chính, bảo vệ môi trường, phúc lợi xã hội. Đó là tính đa dạng hoặc
tính chất khau nhau về chất của quận, đồng thời cũng là toàn bộ cơ sở của
tăng trưởng kinh tế quận.
Thứ hai, kinh tế quận là tập hợp của cải xã hội với các loại dạng xét
theo khía cạnh nội dung vật chất, không chỉ bao gồm các yếu tố sản xuất vật
chất như đất đai, tài nguyên, vốn, sức lao động, công nghệ và thông tin; mà
còn bao gồm các yếu tố sinh hoạt quận hoặc yếu tố sản xuất vật chất gián
tiếp như các loại hàng hoá lưu động, các loại kiến trúc và các công trình
công cộng, phúc lợi xã hội không ngừng biến đổi trong quận, đây là tế bào
vật chất của quận.
Ở các giai đoạn phát triển khác nhau của kinh tế quận, điều kiện môi

2. Ý nghĩa
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các quận trong
phạm vị thành phố, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn
phát triển của bản thân quận đó. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đối
với các nước đang phát triển trong quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp và
hội nhập với các nước phát triển.
3. Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế quận
3.1. Chỉ tiêu chung đánh giá tăng trưởng kinh tế đô thị
1
Đo lường tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề có tính bản
chất của việc phân tích kinh tế quận. Cũng như muốn tìm hiểu sự thật về
một sự vật thì phải làm rõ mối quan hệ biến đổi về mặt số lượng của các
nhân tố ảnh hưởng đến nó. Về điểm này, các nhà kinh tế học phương tây đã
làm được nhiều việc. Nhưng đặt trong sự phát triển kinh tế như nước ta hiện
nay, thì còn xa mới có đủ điều kiện để tiến hành phân tích thuần tuý về mặt
số lượng.
1
Giáo trình Kinh tế học đô thị, NXB Khoa học và kỹ thuật, tr: 141
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
4
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Sự tăng trưởng của một nền kinh tế được biểu hiện ở sự gia tăng sản
lượng hàng năm do nền kinh tế đó tạo ra. Vì vậy, số đo chung sự tăng trưởng
kinh tế quận nói riêng hay đô thị và kinh tế quốc dân nói chung thường bao
gồm các đại lượng sau:
Sự tăng trưởng của một nền kinh tế được biểu hiện ở sự gia tăng sản
lượng hàng năm do nền kinh tế đó tạo ra. Vì vậy, số đo chung sự tăng trưởng
kinh tế đô thị nói riêng và tăng trưởng kinh tế quốc dân nói chung thường
bao gồm các đại lượng: Tổng sản phẩm quốc nội(GDP), tổng sản phẩm quốc
dân(GNP), sản phẩm quốc dân thuần tuý(NNP), thu nhập quốc dân sản

ngành và các doanh nghiệp khác, phát sinh sự gia tăng đầu tư dẫn xuất.
Quá trình vận doanh của toàn bộ cơ chế đầu tư là: Nhu cầu chủ đạo-
Đầu tư tự chủ…, Nhu cầu phát sinh - Đầu tư dẫn xuất…, hình thành một quá
trình phát triển tuần hoàn, không ngừng lặp đi lặp lại. Vì vậy, lượng tăng
nhu cầu và lượng tăng đầu tư hàm số của nhau.
3.2.2. Hiệu suất công nghệ. Hiệu suất công nghệ ở đây đại diện cho
sự ảnh hưởng lớn hay nhỏ của hình thái công nghệ và trình độ tiến bộ công
nghệ kết tinh trong đầu tư đối với sự tăng trưởng kinh tế đô thị. Do đó, trong
toàn bộ quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị, hiệu suất công nghệ không chỉ
biểu hiện thành hệ số điều tiết của năng suất đầu tư mà còn trực tiếp là một
yếu tố của tăng trưởng kinh tế. Thậm chí có trường hợp, tác dụng của nâng
cao hiệu suất công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế đô thị, biểu hiện thành
bội số của tác dụng nân cao hiệu suất đầu tư.
3.2.3. Năng suất đầu tư cận biên và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đô thị.
Đầu tư đô thị mang lại ba loại hiệu quả trực tiếp: Sáng tạo sức sản xuất, tăng
gia sản xuất và tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao trình độ công nghệ sản
xuất. Mà sự biến đổi năng suất cận biên của đầu tư đô thị thì quyết định bởi
hai nhân tố:
+ Một là, sự biến đổi điều kiện tài nguyên và thị trường đô thị, đây là
yếu tố sản xuất trực tiếp và là mặt có tính quyết định.
+ Hai là, các nhân tố có liên quan trực tiếp tới việc tổ chức, quản lý…
đây là mặt hiệu quả xã hội của đầu tư và tác dụng của nhân tố chính sách.
Vì vậy, xét về bản chất thì năng suất đầu tư cận biên có thể tạo ra tiềm
lực cho tăng trưởng kinh tế đô thị, xu thế, mô thức đầu tư và hiệu suất công
nghệ có ảnh hưởng to lớn đối với sự gia tăng sức sản xuất của đô thị.
3.2.4. Sự tổn thất của sức sản xuất đầu tư. Nguyên nhân gây ra sự
tổn thất này là:
+ Sự hạn chế của việc cung cấp các yếu tố phi vốn. Tài nguyên thiên
nhiên, sức lao động;
+ Sự tổn thất của việc thay thế đầu tư- lợi ích cơ hội;

thị có thể tăng trưởng càng nhanh so với thu nhập quốc dân của cả nước, còn
tính co giãn thu nhập tương đối nhỏ nói lên rằng sự tăng trưởng của xuất
khẩu hàng hoá đô thị gặp nhiều khó khăn.
- Tính linh hoạt và tính nhạy cảm đối với sự biến động của kinh tế đô
thị. Đô thị cần xây dựng một hệ thống các ngành kinh tế linh hoạt, năng
động thì mới có thể thích ứng đầy đủ với yêu cầu biến đổi của thị trường
không ngừng đổi mới và hợp lý hoá hệ thống tổ chức các ngành kinh tế.
Như vậy, các điều kiện tác động tới tăng trưởng kinh tế quận có thể
tựu chung xem xét dưới hai khía cạnh sau:
4.1 Xét trêm khía cạnh tình trạng kinh tế và trình độ phát triển của
các ngành kinh tế xung quanh quận.
Quận, đô thị với tính cách là một thực thể kinh tế mở cửa nó có mối
liên hệ kinh tế rộng rãi với khu vực xung quanh. Quận cùng với khu vực
xung quanh không chỉ hình thành chỉnh thể của hệ thống sản xuất, mà còn
hình thành mạng lưới thương nghiệp, dịch vụ, thông tin tương đối độc lập.
Trong mối liên hệ kinh tế với khu vực xung quanh, quận do điều kiện kinh tế
ưu việt của mình, nó có tác dụng thu hút và tác dụng khuyếch tán to lớn đối
với các khu vực xung quanh. Các điều kiện kinh tế chủ yếu là:
1
Kinh tế đô thị-NXB KHKT-tr129
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
7
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Hình thức công nghiệp hiện đại tiến bộ, có thể sản xuất chuyên môn
hoá và hiệp tác hoá, có hiệu quả kinh tế tương đối cao.
- Điều kiện kỹ thuật tiên tiến, làm cho quận có ưu thế cạnh tranh, do
vậy có thể thu hút vào quận một số lượng lớn tài nguyên.
- Hệ thống thương nghiệp, tiền tệ hoàn thiện, làm cho quận trở thành
thị thường tài nguyên về sản phẩm rất lớn, do đó trở thành nơi tập trung các
nguồn tài nguyên của khu vực.

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
BIẾN SỐ ĐẦU VÀO SỰ CÂN BẰNG BIẾN SỐ ĐẦU RA
CỦA THỊ TRƯỜNG
Sơ đồ1: Mối quan hệ các nhân tố kinh tế của sự tăng trưởng
1
II. Vai trò Nhà nước trong tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là yếu tố cơ
bản điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Sự tác động qua lại giữa tổng mức
cung và tổng mức cầu tạo ra mức thu nhập thực tế, công ăn việc làm- tỷ lệ
thất nghiệp, mức giá- tỷ lệ lạm phát, đó là cơ sở để giải quyết ba vấn đề cơ
bản của nền kinh tế.
Mặt khác, một chiều hướng nổi bật trong lịch sử hiện đại là vai trò
ngày càng tăng của Chính phủ trong đời sống kinh tế. Việc mở rộng kinh tế
thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước không chỉ vì thị trường
có những khuyết tật, mà còn vì xã hội đặt ra mục tiêu mà thị trường dù có
hoạt động tốt cũng không thể đáp ứng được. Theo Samuelson, trong nền
kinh tế hỗn hợp hiện đại, Nhà nước có 4 chức năng chính cơ bản: thiết lập
1
Giáo trình Kinh tế phát triển, tập 1, NXB Thống kê, tr 32
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
Mức thu nhập
Giá tiêu dùng
Các chính sách kinh tế
Vốn sản xuất
Lao động
Tài nguyên
Khoa học, công nghệ
Quản lý tổ chức
Quy mô sản xuất
……………….

lạm phát và giảm ô nhiễm môi trường. Nhà nước thực hiện phân phối lại thu
nhập của cải giữa các doanh nghiệp và các hộ gia đình thông qua thuế thu
nhập, thuế tài sản và những biện pháp khác. Chính phủ cũng thực hiện các
hoạt động phúc lợi công cộng như cung cấp phúc lợi cho người già, người
tàn tật và những người thất nghiệp. Tóm lại, các vai trò to lớn của Nhà nước
đối với tăng trưởng kinh tế gồm bốn vấn đề chủ yếu:
1. Vai trò định hướng phát triển kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường thuần tuý, cơ chế thị trường không thể
giải quyết có hiệu quả những vấn đề cơ bản, những khuyết tật nảy sinh trong
quá trình hoạt động. Nó chỉ có thể được giải quyết bằng sự can thiệp của
Nhà nước thông qua các loại hình kế hoạch và các công cụ quản lý khác
nhau. Để các thành phần kinh tế có thể phát triển nhanh và bền vững mặt
khác lại không đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa thìvai trò to lớn của
Nhà nước lại càng được khẳng định hơn bao giờ hết.
Vai trò định hướng phát triển kinh tế là vai trò quan trọng nhất của
Nhà nước đối với tăng trương kinh tế. Nhà nước phải căn cứ vào điều kiện
kinh tế của từng thời kỳ nhất định để tiến hành lựa chọn chính xác mục tiêu
phát triển kinh tế và phương án thực thi cho thời kỳ nhất định trong tương
lai. Cụ thể là Nhà nước phải lựa chọn mục tiêu chung dài hạn của phát triển
kinh tế trong một thời kỳ dài và các biện pháp quan trọng để thực hiện mục
tiêu chung dài hạn đó cùng với những kế hoạch trong từng giai đoạn cụ thể.
Xuất phát từ góc độ toàn cục, tổng thể mà Nhà nước xác định phương
hướng, quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển nền kinh tế quốc dân, phối hợp
và điều hoà sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực, các khu vực.
Bên cạnh việc kết hợp lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc gia
còn phải gắn kết hài hoà lợi ích khu vực và lợi ích tổng thể đất nước, khắc
phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường.
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
10
Chuyên đề thực tập chuyên ngành

đây là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng
kinh tế của một quận.
Vai trò tạo môi trường cho tăng trưởng kinh tế của Nhà nước quy định
rõ chức năng và cơ cấu tương ứng của các phân hệ của hệ thống tổ chức và
quản lý nền kinh tế, làm cho các phân hệ, bộ phận này ăn khớp với nhau,
phối hợp chặt chẽ hình thành hệ thống quản lý kinh tế nhằm mục tiêu chung
là tăng trưởng, phát triển lâu dài bền vững cho nền kinh tế quốc dân.
3. Vai trò hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế
1
Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân - tập 1, tr 18
2
Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân - tập 1, tr 35
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
11
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Hạn chế độc quyền, khuyến khích cạnh tranh, giải quyết thoả đáng
vấn đề ngoại ứng kể cả những ngoại ứng tích cực và tiêu cực thì chỉ có Nhà
nước với các công cụ quyền lực trong tay mới có thể thực hiện được. Nền
kinh tế quốc dân có tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ hay không không thể
chỉ có sự nỗ lực phấn đấu của chỉ riêng các thành phần kinh tế bởi vì các chủ
thể này chỉ chạy theo lợi nhuận tối đa của họ mà còn rất cần sự can thiệp với
vai trò hỗ trợ của Nhà nước. Nhà nước ở đây với vai trò là tài phán viên và
huấn luyện viên của thị trường sẽ tạo ra sân chơi bình đẳng, công bằng
trong cạnh tranh để tạo điều kiện tốt nhất cho các thành phần kinh tế phát
huy tác dụng, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.
Nhà nước phải vận dụng tổng hợp, linh hoạt các phương pháp hành
chính, kinh tế, giáo dục và pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp để điều tiết các
quan hệ kinh tế giữa các cấp, các khâu, các ngành, các khu vực của nền kinh
tế quốc dân, dẫn dắt hành vi của các chủ thể vi mô theo định hướng chung
của toàn bộ nền kinh tế vĩ mô.

1
III. Các công cụ quản lý Nhà nước
Một nền kinh tế vận hành một cách bình thường, và điều kiện truyền
dẫn tác động quản lý của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận
hợp thành của nó như là các quận, huyện, thành phố. Chính vì vậy mà hệ
thống các công cụ đó có tác dụng to lớn trong quá trình thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần nâng cao hiệu suất của hoạt
động quản lý kinh tế quốc dân.
Cũng giống như tất cả các quân huyện khác trên địa bàn Hà Nội hay
cả nước, Quận Đống Đa trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển cần phải
áp dụng toàn bộ hệ thống các công cụ quản lý kinh tế quốc dân một cách
toàn diện và ứng biến linh hoạt. Đó là điều kiện tiên quyết để xây dựng một
nền kinh tế phát triển theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa mà Nhà nước ta đã
xây dựng trong giai đoạn qua.
Để quản lý nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải sử dụng các công cụ
quản lý của mình với tư cách là vật truyền dẫn các tác động quản lý của chủ
thể quản lý xã hội lên các đối tượng quản lý và khách thể quản lý. Như vậy,
các công cụ quản lý kinh tế quốc dân chính là các phương tiện hữu hình
hoặc vô hình mà Nhà nước dùng để tác động lên các chủ thể kinh tế nhằm
đạt được các ý đồ, mục tiêu của mình. Chính nhờ các công cụ quản lý mà
Nhà nước truyền tải được các ý định và ý chí của mình lên mỗi con người,
mỗi hệ thống trên toàn bộ các vùng đất nước và các khu vực phạm vi ảnh
hưởng có thể ở bên ngoài.
Các công cụ quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước nói chung, các
công cụ điều hành nền kinh tế quốc dân nói riêng bao gồm các quyết định
quản lý điều hành, được phân thành các loại kế hoạch; pháp luật, chính sách
kinh tế,….
1. Công cụ kế hoạch
Kế hoạch Nhà nước là một hệ thống, bao gồm tất cả các khâu, các giai
đoạn hoạt động từ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hàng năm, chương trình,

kinh tế quốc dân với kế hoạch phát triển xã hội, cân đối hài hoá phương
hướng, mục tiêu phát triển với nguồn lực, phương tiện thực hiện phương
hướng, mục tiêu đã định.
Để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công
tác kế hoạch cần được đổi mới theo hướng: Tập trung sức xây dựng chiến
lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình và dự án lớn
cho từng ngành, từng vùng, từng lĩnh vực; chuyển dần sang kế hoạch 5 năm
là chính, có phân ra chỉ tiêu từng năm, giảm nhẹ khối lượng công việc lập và
xét duyệt kế hoạch hàng năm. Kế hoạch Nhà nước không được phiến diện,
phải bao quát các ngành, các vùng, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế.
Trong quá trình lập kế hoạch có thể xuất hiện những sự thay đổi không
lường trước về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, xuất hiện những khả
năng mới về ứng dụng những thành tựu của tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào
thực tiễn, những biện pháp giải quyết từng vấn đề riêng biệt trong từng giai
đoạn của sự phát triển… Do đó cần thiết và có khả năng điều chỉnh một số
điểm trong lập kế hoạch đã thông qua trước đây.
Như vậy công cụ kế hoạch cũng như quá trình lập kế hoạch không thể
chấm dứt bằng việc lựa chọn các giải pháp phương án tối ưu thông qua hệ
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
14
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
thống những chỉ tiêu và nhiệm vụ cân đối với nhau, có tính chất pháp lệnh
và được phân công cụ thể mà đòi hỏi còn phải có giai đoạn phân tích quá
trình thực hiện kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch có tính đến những kết quả
thu được trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch, sự tác động của những
nhân tố mới và sự thay đổi những điều kiện trong nước cũng như tình hình
kinh tế - chính trị bên ngoài. Có như vậy, kế hoạch mới trở thành một công
cụ quản lý nhà nước hữu hiệu và phát huy toàn bộ tính ưu thế tuyệt đối của
nó.
Hệ thống kế hoạch của Nhà nước bao gồm những loại kế hoạch cơ

15
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Bất kỳ một Nhà nước nào muốn tồn tại, phát triển và hoạt động có
hiệu quả thì không thể không áp dụng và điều chỉnh linh hoạt loại hình công
cụ quan trọng này. Để thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và hình
thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý cần thiết cho nền kinh tế quốc dân hoạt
động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng
XHCN, Nhà nước cần phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo
một trình tự pháp lý nhất định.
Pháp luật đòi hỏi các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội
và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành, đấu tranh phòng ngừa và
chống lại các tội phạm và các vụ việc vi phạm pháp luật; mọi hành động
xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền lợi hợp pháp của tập thể và công dân đều
bị xử lý theo pháp luật. Chính vì tính nguyên tắc của nó mà các văn bản quy
phạm pháp luật bao gồm nhiều chủng loại song tựu chung lại có thể gộp
thành 2 nhóm lớn như sau:
- Các văn bản luật: Bao gồm Hiến pháp và luật. Các văn bản luật do
Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất,
quan trọng nhất và ổn định nhất. Chúng có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnh
thổ và có giá trị pháp lý cao nhất so với các văn bản dưới luật.
- Các văn bản dưới luật: Bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật có
giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, đồng thời nội dung của chúng
không được trái với các văn bản luật. Trong đó lại chia ra các văn bản dưới
luật mang tính chất luật và các văn bản pháp quy.
+ Các văn bản dưới luật mang tính chất luật bao gồm: Nghị
quyết của Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
+ Các văn bản pháp quy gồm nghị quyết, nghị định của Chính
phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông
tư của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; nghị quyết, quyết định,

- Áp dụng pháp luật: Là hình thức thực thi pháp luật mang tính tổ
chức, quyền lực của Nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan Nhà
nước và người có thẩm quyền, hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước
trao quyền theo trình tự, thủ tục do Nhà nước quy định nhằm cá biệt hoá
những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể.
Vì là một công cụ đặc thù và hết sức quan trọng để Nhà nước dùng
điều hành nền kinh tế quốc dân, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có
tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra, bảo vệ và thực hiện nhằm mục tiêu
duy trì và phát triển xã hội nói chung, kinh tế nói riêng theo các đặc trưng xã
hội mong đợi.
Pháp luật của mỗi nước là một tổng thể quy phạm pháp luật và chế
định pháp lý thuộc nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước;
trong đó có tác động trực tiếp là pháp luật kinh tế. Pháp luật kinh tế là tổng
hợp những quy phạm pháp luật, những chế định pháp lý do các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đặt ra trong các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội về quản lý kinh tế và kinh doanh trong và ngoài xã
hội, các quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các danh nghiệp
với nhau trong hoạt động kinh doanh, các quan hệ giữa doanh nghiệp với
người lao động mà doanh nghiệp thuê mướn, sử dụng và các quan hệ xã hội
khác( sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường thiên nhiên…)
Việc sử dụng công cụ pháp luật để điều hành nền kinh tế quốc dân bao
gồm:
- Xây dựng và thực thi hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý kinh
tế, bao gồm:
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
17
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
+ Các yếu tố cần chi phối để quản lý sự phát triển kinh tế - xã
hội trên mọi phương diện, bảo đảm cho xã hội, phát triển ổn định, an toàn,
bền vững.

tiêu chung, lợi ích chung của cả đất nước.
Thực tế đã chỉ rõ, để tiến hành quản lý xã hội, Nhà nước phải giải
quyết triển khai thực hiện rất nhiều mục tiêu khác nhau nhằm giải quyết các
vấn đề khác nhau theo các trình tự ưu tiên khác nhau. Như vừa phải lo phát
triển kinh tế, vừa phải chăm lo đến vấn đề an ninh quốc phòng. Vừa phải
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
18
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
giải quyết vấn đề lo vốn để phát triển vùng dân tộc miền núi, vừa chăm lo
sự nghiệp giáo dục và nâng cao dân trí…
Như vậy, một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với yêu cầu phát
triển của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là bảo đảm vững
chắc cho sự vận hành bình thường, hữu hiệu của nền kinh tế thị trường. Nhờ
đó mà có thể khơi dậy được các tiềm năng, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các
nguồn lực, phát huy tính tích cực, sáng tạo và ý chí vươn lên làm cho dân
giàu, nước mạnh của các tầng lớp dân cư. Ngược lại, chỉ cần một chính sách
sai lầm sẽ gây ra phản ứng tiêu cực dây chuyền đến các chính sách khác,
cũng như đến các bộ phận khác nhau của hệ thống công cụ quản lý kinh tế
quốc dân, kết quả là dẫn đến là giảm thiểu hiệu suất tác động của hệ thống
chính sách, làm suy yếu động lực phát triển kinh tế xã hội.
Chính sách kinh tế của mỗi nước, về thực chất, là một chủ trương
tương đối dài của Nhà nước để sử dụng các nguồn lực và cơ hội nhằm
hướng dẫn, khai thông con đường phát triển kinh tế của đất nước. Chính
sách kinh tế thường hướng vào việc xử lý những lĩnh vực bức bách nhằm
khai thông và phát triển lực lượng sản xuất trong nước, bảo đảm cho sự tồn
tại và phát triển của đất nước, chống trả các mũi nhọn cản phá của thế lực
thù địch cố ý hoặc vô tình gây ra. Cho nên mỗi chính sách đều có thời hạn
tồn tại nhất định của nó.
Trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế quốc dân, chính sách là bộ
phận năng động nhất, có độ nhảy cảm cao trước những biến động trong đời

tin, vật chất, dịch vụ nhằm phục vụ cho các nhu cầu có tính phổ biến của
sản xuất và đời sống cộng đồng dân cư theo lãnh thổ ( hệ thống đường giao
thông, bưu chính, viễn thông, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn quản
lý, y tế, đào tạo, pháp luật…) quận nào có trình độ kinh tế phát triển hơn thí
sẽ có kết cấu hạ tầng cao hơn. Ngày nay, một kết luận đã được thừa nhận, là
để phát triển kinh tế quốc dân vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng xã hội phải
được ưu tiên phát triển đi trước một bước.
5. Các doanh nghiệp Nhà nước:
Doanh nghiệp Nhà nước là một tổ chức sản xuất kinh doanh, do Nhà
nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu, hoạt động
theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật.
Các doanh nghiệp Nhà nước với tư cách là một trong các công cụ điều
hành nền kinh tế quốc dân của Nhà nước được thể hiện qua vai trò quan
trọng của nó đối với quá trình vận hành nền kinh tế quận phát triển
+ Tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho quận mà các
thành phần kinh tế khác không muốn và không có khả năng sản xuất,
+ Góp phần tích cực trong việc khai thác sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài nguyên trong quận, tạo ra của cải, chỗ làm cho mọi công dân
trong quận nói riêng và Nhà Nước nói chung, dẫn dắt các thành phần kinh tế
khác phát triển
Chính vì với vai trò to lớn này mà các nước Xã hội chủ nghĩa đều coi
các doanh nghiệp Nhà nước là nền tảng của nền kinh tế nhà nước, giúp cho
nền kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo của mình trong việc
quản lý và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Các doanh nghiệp Nhà nước còn giúp Nhà nước xoá bỏ tình
trạng độc quyền sản xuất kinh doanh bất hợp lý của các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác vì lợi ích chung của cộng đồng và xã hội.
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
20
Chuyên đề thực tập chuyên ngành

Phương Mai, Phương Liên, Kim Liên, Trung Tự, Nam Đồng, Quang Trung,
Ô Chợ Dừa, Láng Hạ, Láng Thượng.
2. Đặc điểm kinh tế xã hội
Năm 2001 Quận Đống Đa có dân số 315.980 người với 79.200 hộ dân
sinh sống và hơn 400 cơ quan tổ chức hoạt động trên địa bàn quận. Quận
Đống Đa là một trong bốn quận nội thành cũ của Hà Nội, đang trong quá
trình quận hoá với tốc độ nhanh, dân số tập trung đông, mật độ dân cư cao
nhất thành phố, thành phần dân cư đa dạng và phức tạp từ Cán bộ công nhân
viên chức Nhà nước, quân nhân trong quân đội, dân lao động phổ thông và
rất đông bà con làm nghề buôn bán nhỏ.
Trong những năm qua Quận Đống Đa luôn giữ được tốc độ tăng
trưởng khá. So với năm trước giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17% trong đó
kinh tế tập thể tăng 8.4%, kinh tế hỗn hợp tăng 20.5% đặc biệt kinh tế tư
nhân tăng 54.3%. Hoạt động buôn bán trên địa bàn quận diễn ra cũng hết sức
mạnh mẽ, tấp nập.
Với lợi thế nằm ở trung tâm thành phố, trên địa bàn quận Đống Đa lại
có các trục giao thông chính của Hà Nội chạy qua hoặc tiếp giáp như: Giảng
Võ, Nguyễn Thái Học, đường Giải Phóng, Lê Duẩn, Tây Sơn, Tôn Đức
Thắng, Thái Hà, Huỳnh Thúc Kháng, Láng Hạ, Nguyễn Chí Thanh…Mật độ
đường xá khá dày đặc, đặc biệt gần đây được nâng cấp tu sửa rất khang
trang. Điều đó là một thuận lợi lớn cho việc giao lưu buôn bán phát triển
kinh tế xã hội cũng như giao thông đi lại của nhân dân trong quận.
Nói tóm lại, trong những năm qua đời sống kinh tế văn hoá của nhân
dân trong Quận được nâng cao rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần. Cũng chính
vị vậy quận trở thành một trong những địa điểm thu hút dân cư từ nơi khác
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
22
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
chuyển đến làm ăn sinh sống, là nơi ngày càng tập trung đông các tổ chức
kinh tế, văn hoá, xã hội. Đây là thuận lợi đồng thời cũng là một vấn đề cần

tế xã hội; công tác giải phóng mặt bằng còn chậm; tình trạng quá tải về giao
thông, ô nhiễm môi trường chưa được khắc phục.
Trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn còn tồn tại, các mục tiêu
được đặt ra là: khai thác và huy động tối đa mọi nguồn lực nhằm ổn định
kinh tế, tăng dần các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, tập trung cho các lĩnh vực
phát triển hạ tầng quận, hoàn thành cơ bản việc cấc giấy chứng nhận quyền
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
23
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, đổi mới sâu rộng và phát triển giáo dục -
đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng, có cơ cấu
hợp lý theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung giải quyết các
vấn đề nhà ở, còn hộ nghèo, các tệ nạn xã hội; giữ vững ổn định an ninh
chính trị trên địa bàn, bảo đảm trật tự kỷ cương, an toàn xã hội, phục vụ yêu
cầu nhiệm vụ trong các hoạt động kinh tế - xã hội.
Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm ( 2001-2005) của Quận
Đống Đa được thông qua là:
- Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn bình quân 5 năm là 11%
-13%.
- Giá trị xuất khẩu địa phương tốc độ tăng bình quân 5 năm là 13.5%
- Mức giảm tỷ lệ sinh đến năm 2005 là 1.28 %
- Số lao động được giải quyết việc làm là 6500-7000 người / năm.
1
2. Thực trạng tăng trưởng kinh tế quận
Từ năm 2001 đến nay, quận Đống Đa đã có những bước tiến toàn diện
trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội. Thực vậy, nền kinh tế
liên tục tăng trưởng hàng năm với mức 15% - 30%, giá trị sản xuất công
nghiệp ngoài quốc doanh thuộc Quận quản lý tăng qua từng năm, năm sau
giá trị sản lượng luôn cao hơn năm trước và vượt chỉ tiêu Thành phố giao.
Bảng 1: Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh do Quận quản lý

Kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX dưới nhiều hình thức, trình độ
khác nhau trong các ngành, các lĩnh vực đã cố gắng phát huy nội lực, mở
mang ngành nghề kinh doanh, đã sản xuất được nhiều mặt hàng kinh doanh
đa dạng, đóng góp lớn vào ngân sách Nhà nước, giải quyết được công ăn
việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống xã viên…
2.1.2. Thực trạng kinh tế tổ hợp tác
Hiện nay trên địa bàn Quận còn 20 tổ hợp tác, các tổ hợp tác hoạt
động đơn điệu, nhỏ lẻ mang tính chất gia đình là chính hiệu quả thấp, còn
lỏng lẻo, quy mô nhỏ khả năng cạnh tranh kém.
Xu hướng chung của các tổ hợp tác là: có tiềm lực về tài sản, vốn quỹ,
sẽ chuyển đổi thành mô hình doanh nghiệp hoặc HTX, các tổ hợp quy mô
nhỏ hoạt động cầm chừng, đơn điệu sẽ chuyển sang mô hình kinh tế hộ.
2.1.2. Thực trạng kinh tế hợp tác xã
Tổng số HTX trên địa bàn quận Đống Đa tính đến ngày 31/05/2004 là
75 HTX .Trong đó:
- HTX TTCN: 52 HTX ( 03 HTX thành lập mới + 30 HTX chuyển đổi
+ 19 chưa chuyển đổi)
- HTX nông nghiệp: 09 HTX ( chưa chuyển đổi)
- HTX vận tải: 04 HTX ( 03 thành lập mới + 01 chuyển đổi)
- HTX thương mại: 05 HTX ( chuyển đổi)
- HTX khác: 01 HTX ( chuyển đổi)
Trong thời kỳ 2001- 2004, nhiều HTX tỏ ra sa sút, tốc độ tăng trưởng và giá
trị tổng sản lượng bình quân liên tục giảm. Tổng số HTX trên địa bàn quận
Đống Đa là 75 HTX. Trong đó:
Bảng số 2: Tình hình hoạt động của loại hình HTX giai đoạn 2001-2004
Sinh viên: Khương Minh Ngọc Lớp QLKT 44B
25

Trích đoạn Thực trạng kinh tế hợp tác xã Những khó khăn chung và nguyên nhân tồn tại 1 Những khó khăn chung Giải pháp huy động vốn Các kiến nghị đề xuất với Thành phố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status