văn hóa từ chức ở việt nam hiện nay thực trạng và giải pháp tiểu luận cao học - Pdf 42

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức ở nước ta đang được nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến và được dư luận xã hội quan tâm. Người ta vẫn hay
quan niệm văn hóa từ chức là một hành động rất đặc biệt trong xã hội. Khi
người được giao trách nhiệm đã cố tình hay không đủ khả năng làm tròn thì
với lòng tự trọng của mình người đó sẽ tự nguyện xin từ chức.
Từ chức chỉ được xem là một hành vi có văn hóa khi người ta tự
nguyện và mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho xã hội. Việc từ chức tự nguyện của
người có chức, có quyền sẽ tạo cơ hội cơ cấu lại, kiện toàn đội ngũ cán bộ của
cơ quan, tổ chức nghĩa là tạo ra sự hợp lý tốt hơn trong xã hội. Điều đó giúp
những người thực sự có nhân cách, tài giỏi, có trình độ, năng lực thực tiễn có
thể phát huy cao nhất năng lực của mình nếu ở đúng vị trí, đồng thời cũng
giúp cho cơ quan, tổ chức và xã hội tránh được những thiệt hại không đáng
có. Văn hóa từ chức là một dạng văn hóa cá nhân của những người có chức,
có quyền. Họ được cơ quan, tổ chức và xã hội tôn trọng khi ở họ có nhân cách
đạo đức, biết lãnh đạo bằng tấm gương. Nếu không có nhân cách và gương
mẫu thì không thể thuyết phục được mọi người.
Vấn đề đặt ra ở đây là Văn hóa từ chức là gì? Văn hóa từ chức ở các
nước trên thế giới như thế nào? Ở Việt Nam có văn hóa từ chức không? Nếu
có thì từ bao giờ và văn hóa từ chức trong xã hội Việt Nam hiện nay ra sao?
Trong khuôn khổ tiểu luận này, tác giả xin được đề cập và đi sâu vào trình bày
đề tài “Văn hóa từ chức ở Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp”.

1


NỘI DUNG
I. ĐỊNH NGHĨA TỪ CHỨC VÀ VĂN HÓA TỪ CHỨC
Theo từ điển tiếng Việt, “chức” là “Danh vị thể hiện cấp bậc, quyền hạn
và trách nhiệm của một người trong hệ thống tổ chức của Nhà nước hay đoàn
thể”.

xin từ chức. Còn việc bồi thường thiệt hại, việc xử lý hành chính hay hình sự
do các sai phạm gây ra lại là chuyện khác. Đã có rất nhiều ví dụ về chuyện
các quan chức trên thế giới tự nguyện từ chức.
Tại Nhật Bản, đã có rất nhiều trường hợp một vị lãnh đạo cao cấp dù đã
làm việc hết sức nhưng trong mắt người dân không thấy hiệu quả thì vẫn phải
tự từ chức. Dù quan chức lớn đến cỡ nào chỉ cần có những rắc rối liên quan,
dính dáng đến tên tuổi mình một cách trực tiếp hay gián tiếp cũng tự cảm thấy
xấu hổ mà từ chức và công khai xin lỗi. Trên truyền hình Nhật, lâu lâu lại
thấy cảnh một ban lãnh đạo nào đó cúi rạp người trước ống kính truyền hình
để xin lỗi nhân dân. Với các công ty, các tập đoàn kinh doanh lớn, khi có phàn
nàn của người tiêu dùng, khi có sự cố về tai nạn, thì ban lãnh đạo của công ty,
cơ quan đó đều công khai xin lỗi dân. Đó là một văn hóa ứng xử rất văn minh
của những người lãnh đạo ở Nhật.
Tháng 9/2011, Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật
Bản Yoshio Hachiro, đã từ chức vì các bình luận không đúng mực liên quan
tới vụ rò rỉ phóng xạ ở tỉnh Fukushima. Theo Báo chí Nhật, ông Yoshio
Hachiro là người mới được bổ nhiệm một tuần vào nội các của tân Thủ tướng
Yoshihiko Noda, đã gây phẫn nộ khi gọi các khu vực xung quanh nhà máy
điện Fukushima Daiichi đang gặp sự cố là "shi no machi" (thị trấn chết). Các
nhân chứng còn nói rằng sau chuyến thăm nhà máy điện hạt nhân, ông
Hachiro còn làm bộ như đang quẹt chiếc áo khoác của ông vào một phóng
viên và dọa rằng sẽ khiến anh này nhiễm phóng xạ. Tuyên bố và hành động
của Hachiro được xem là thiếu nhạy cảm.
Vài năm trước, sau khi xảy ra một vụ tai nạn đường sắt, Bộ trưởng
Giao thông Nhật Bản đã nhận lỗi và xin từ chức. Hoặc cao hơn nữa là cựu
Thủ tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama đã phải từ chức vì không thực hiện
được cam kết di dời căn cứ quân sự Futenma của Mỹ ở đảo Okinawa.
3





Bryson cho biết khó hoàn thành tốt công việc khi sức khỏe không đảm bảo vì
vậy cần phải để cho những người có sức khỏe hơn, năng lực để gánh trên vai
trọng trách của quốc gia.
Có vô cùng nhiều lý do để một nhà lãnh đạo cấp cao đệ lá đơn từ chức.
Họ có thể cảm thấy không đảm đương được công việc hoặc để xảy ra những
hậu quả, làm mất lòng dân thì và vì lòng tự trọng của một người đã được tin
tưởng, họ sẵn sàng từ chức. Cũng có người từ chức vì nhận thấy rằng trong
các sự việc đáng tiếc xảy ra, dù chỉ liên quan một phần rất nhỏ, nhưng mình
phải chịu trách nhiệm với tư cách lãnh đạo cao nhất. Từ chức dù không phải
là việc làm dễ dàng nhưng đối với họ là cần thiết và nên làm. Nó đã trở thành
một nét văn hóa trong đời sống chính trị tại nhiều nước.
III. VĂN HÓA TỪ CHỨC TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
3.1.

Văn hóa từ chức ở Việt Nam thời kỳ trước 1945

Trong lịch sử Việt Nam, thời kỳ phong kiến, đã có khá nhiều người tài
giỏi nhưng đã treo ấn từ quan như Chu Văn An, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn
Bỉnh Khiêm,... Các ông từ chức không phải không làm tròn chức trách, gây
tác hại lớn mà phần nhiều là do khảng khái, không đồng ý với quan điểm của
vua. Thời Phong kiến, nam nhi học để ra làm quan, để có địa vị trong xã hội
“Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Nếu không hợp thế thời, bị đè nén
trù dập hay không được trọng dụng thì rời bỏ chốn phồn hoa, cáo quan về quê
ở ẩn. Sống ở quê, trồng rau, nuôi cá, lao động chân tay mà “tránh sự đời” dù
vẫn âm ỉ nuôi mộng sĩ phu. Có người sẽ trở lại quan trường khi được mời,
trọng dụng; có người nuôi trở thành thầy dạy, truyền lại kiến thức cho hậu bối
tâm phúc, đệ tử thay mình tiếp nối, hoặc rũ hẳn khát vọng, lảng tránh sự đời,
gửi tâm sự vào thơ phú vịnh ngâm.

nhiệm làm Đông Các hiệu thư (chuyên việc soạn thảo, sửa chữa các văn thư
của triều đình) rồi sau được cử giữ nhiều chức vụ khác nhau như Tả thị lang
bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Nhân lúc triều chính
nhiễu nhương chia bè kết phái do Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) còn ít tuổi
lên thay vua cha nhưng chưa đủ năng lực điều hành chính sự, Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã dâng sớ trị tội 18 lộng thần (trong đó có cả con rể của ông là Phạm
6


Dao làm Trấn thủ Sơn Nam) nhưng không được vua chấp thuận. Bởi vậy, năm
1542 ông xin về quê trí sĩ sau 8 năm làm quan tại triều đình. Sau hai năm về
trí sĩ, tới năm Giáp Thìn (1544), vua Mạc lại cho người về phong tước Trình
Tuyền Hầu cho ông, rồi sau lại thăng ông lên chức Thượng thư bộ Lại, Thái
phó, tước Trình Quốc Công. Do vậy mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình.
Gần 20 năm từ năm 53 tuổi tới 73 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy quy ẩn tại
quê nhà, nhưng vẫn cáng đáng nhiều việc triều chính, lúc bàn quốc sự, lúc
theo xa giá nhà vua đi dẹp loạn, vua Mạc tôn kính ông như bậc quân sư.
Những việc trọng đại nhà vua thường sai sứ giả về hỏi, có khi lại đón ông lên
kinh để bàn việc, xong rồi ông lại trở về làng Trung Am. Ngoài 73 tuổi, ông
mới chính thức treo ấn từ quan, về quy ẩn nơi quê nhà.
Lê Quý Đôn (1726 - 1784), tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn
Hậu, hiệu Quế Đường. Ông sinh ra tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn
Nam; nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Là quan thời
Lê trung hưng, là nhà thơ, và là "bác học lớn của Việt Nam trong thời phong
kiến". Năm Quý Dậu 1753, sau khi đỗ đại khoa, Lê Quý Đôn được bổ làm Thị
thư ở Viện Hàn Lâm, rồi sung làm Toản tu quốc sử vào mùa xuân năm Giáp
Tuất 1754. Trong cuộc đời làm quan của mình, Lê Quý Đôn đã có công rất
lớn trong việc phát giác và tố cáo nhiều viên quan ăn hối lộ, lạm dụng quyền
hành, áp bức người dân. Năm Giáp Thân (1764), ông dâng sớ xin thiết lập
pháp chế, vì thấy một số quan lại lúc bấy giờ "đã quá lạm dụng quyền hành,

Người là tấm gương sáng về người lãnh đạo, người đứng đầu ở vị trí cao
nhất nhưng luôn trung thành, tận tụy vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, không
mưu cầu lợi ích riêng cho cá nhân và gia đình. Người tâm sự khi phải giữ trọng
trách Chủ tịch nước: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút
nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng
sức làm, cũng như người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận.
Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thi tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham
muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta
được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để
câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu,
không dính líu gì với vòng danh lợi”.

9


Tư tưởng và tấm gương “Tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú
quý chút nào” một lần nữa lại được Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước kỳ
họp thứ hai Quốc hội khóa I (31-10-1946): “Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao
phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa
được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà
làm. Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước
thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng
quan phát tài”. Trong lời tuyên bố, Người nhấn mạnh việc đảm nhận chức vụ
trong một hoàn cảnh đất nước khó khăn, đầy gian khổ, hy sinh khi “Việt Nam
chưa được độc lập, chưa được thống nhất”. Chức vụ đó là do Quốc hội (nhân
dân) ủy thác thì phải gắng sức làm. Còn thì đồng bào đã cho lui thì lại vui vẻ trở
về cuộc sống của một người dân bình thường.

Người đã từng dũng cảm xin lỗi dân. Đó là khi Đảng có sai lầm trong

tố tràn lan, mất kiểm soát. Nhiều người bị quy tội sơ sài là "địa chủ, tư sản bóc
lột" và bị xử tử hình hay tù khổ sai. Nhiều trường hợp lạm quyền của các cán
bộ đội viên đội công tác ruộng đất trong công tác đất đai, dẫn đến trả thù cá
nhân, thậm chí bùng phát bạo lực, dẫn đến nhiều cái chết oan ức. Tuy không
trực tiếp và là người chịu trách nhiệm duy nhất về những sai lầm của cấp dưới,
nhưng là người lãnh đạo cao nhất của Cải cách ruộng đất, tất nhiên ông phải
gánh phần nặng nhất. Tháng 9 năm 1956, trong Hội nghị Trung ương về vấn đề
sửa sai cải cách ruộng đất, ông phải từ chức Tổng Bí thư. Sau đó ông đứng đầu
chỉ đạo công tác sửa sai, cho đến năm 1958.
Ngày 14 tháng 7 năm 1986, tại Hội nghị đặc biệt Ban Chấp hành Trung
ương, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam thay cho Lê
Duẩn vừa mất. Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, trong vai trò
Tổng bí thư ông đã đóng vai trò quyết định phát động công cuộc Đổi Mới,
điều Nguyễn Văn Linh viết Báo cáo chính trị, và sau chủ động từ chức,
nhường chỗ cho Nguyễn Văn Linh. Với vai trò là người tán thành, lãnh đạo
đường lối đổi mới, nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự khủng hoảng toàn diện
trong vòng 10 năm sau ngày thống nhất, ông được cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt
gọi là "Tổng bí thư của đổi mới" và nhiều lãnh đạo Đảng ca ngợi.

11


IV. VĂN HÓA TỪ CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Thực trạng văn hóa từ chức ở Việt Nam hiện nay
Đã có không ít ý kiến cho rằng từ chức là một loại hình văn hóa xa xỉ ở
Việt Nam hiện nay khi số lượng các nhà lãnh đạo, quản lý công khai xin lỗi
và từ chức trước dân vô cùng ít. Trong những năm gần đây đã có một số cá
nhân chủ động từ chức gây xôn xao dư luận.
PGS. TSKH Nguyễn Kế Hào sinh năm 1942 tại Vĩnh Phúc. Năm 1961,
ông là giáo viên cấp II và 6 năm sau, ông học tại Đại học Lômônôxốp (Nga).

(VTV). Hơn 20 năm công tác tại VTV, ông Trần Đăng Tuấn đã có nhiều đóng
góp quan trọng trong việc xây dựng chiến lược Đài Truyền hình Việt Nam.
Ngày 30/8/2010, ông đột ngột xin từ chức ở VTV, từ chối lời mời của AVG
(Công ty nghe nhìn toàn cầu) để về hãng phim truyền hình VN và sau đó xác
nhận sẽ làm việc cho AVG, ông Trần Đăng Tuấn đưa dư luận đi từ bất ngờ
này sang bất ngờ khác. Không ít người đã đặt ra câu hỏi trước việc xin từ
chức của ông Trần Đăng Tuấn? Phải chăng nó ít nhiều liên quan đến những
cách ông chiến đấu với những điều bất bình khi vẫn còn đương chức tại Đài
Truyền hình Việt Nam? Riêng Trần Đăng Tuấn chỉ giải thích lý do ông rời
khỏi VTV, nơi ông đã góp công lớn xây dựng và phát triển trong suốt 20 năm
là vì muốn thay đổi môi trường làm việc để được nhìn nhận cuộc sống từ
những khía cạnh, góc độ khác, để có thêm những trải nghiệm mới. Sau khi
ông rời ghế Phó Tổng Giám đốc VTV, ngang với hàng Thứ trưởng, ông Tuấn
vẫn miệt mài đóng góp cho đời, cho xã hội bằng công tác từ thiện. Thương
những đứa trẻ vùng cao, ông đã nhiều lần bỏ tiền túi, vận động bạn bè lên
miền núi phía Bắc làm từ thiện. Tháng 9/2011, ông lập ra chương trình dài
hạn “Cơm có thịt" cho trẻ con vùng cao.
Khác với Nguyễn Kế Hào và Trần Đăng Tuấn, từ chức là tự nguyện,
không phải do dính líu tới một vụ bê bối nào, một số trường hợp khác từ chức
“bất đắc dĩ” là Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Huy Ngọ
xin từ chức vào năm 2004. Ông Lê Huy Ngọ bị kỷ luật vì đã buông lỏng quản
lý, để Công ty Tiếp thị đầu tư thương mại do Lã Thị Kim Oanh làm giám đốc
vi phạm pháp luật, làm thất thoát hơn 100 tỷ đồng. Trước đó, tại Hội nghị Ban
chấp hành trung ương Đảng lần thứ 9, ông Lê Huy Ngọ đã bị kỷ luật Đảng
13


với hình thức cảnh cáo. Ngày 3/4/2006, ông Bộ trưởng Bộ Giao thông Đào
Đình Bình cũng nộp đơn xin từ chức, Trong lá đơn này, ông Đào Đình Bình
thừa nhận đã không làm tròn trách nhiệm Đảng, Nhà nước và nhân dân giao

Trung ương xin lỗi dân. Các vụ “cơm tù”, “xe cướp” xảy ra trên nhiều nẻo
đường đất nước, cũng chưa thấy vị lãnh đạo địa phương nào, vị lãnh đạo công
an nào công khai xin lỗi dân.
4.2. Cơ sở ảnh hưởng đến sự hạn chế trong văn hóa từ chức của
Việt Nam hiện nay
Có vô cùng nhiều lý do để một nhà lãnh đạo cấp cao đệ lá đơn từ chức.
Bên cạnh các lý do cá nhân như sức khỏe, tuổi tác… Họ có thể cảm thấy
không đảm đương được công việc hoặc để xảy ra những hậu quả, làm mất
lòng dân thì và vì lòng tự trọng của một người đã được tin tưởng, họ sẵn sàng
từ chức. Cũng có người từ chức vì nhận thấy rằng trong các sự việc đáng tiếc
xảy ra, dù chỉ liên quan một phần rất nhỏ, nhưng mình phải chịu trách nhiệm
với tư cách lãnh đạo cao nhất. Từ chức dù không phải là việc làm dễ dàng
nhưng đối với họ là cần thiết và nên làm.
Vừa qua, Chính phủ chỉ đạo Bộ Nội vụ nghiên cứu xây dựng Đề án tiếp
tục cải cách chế độ công vụ, công chức, trong đó có việc nghiên cứu xây dựng
các quy định về từ chức của cán bộ, công chức và coi từ chức - thuộc khía
cạnh văn hóa của chế độ công vụ - là một nội dung nằm trong chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020.
Tại sao Chính phủ lại phải xây dựng các quy định về từ chức của cán
bộ, công chức? Theo bài báo “Văn hóa từ chức” (Nhà báo Quyền Duy, Tạp
chí Cộng Sản) là do những nguyên nhân sau:
Một là, công tác tổ chức cán bộ của chúng ta còn yếu kém, nhất là trong
việc giáo dục, lãnh đạo, quản lý đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ
lãnh đạo, quản lý các cấp thiếu rèn luyện, tu dưỡng, thực hành liêm chính và
thiếu gương mẫu, không làm tròn chức trách, gây tác hại lớn nhưng hầu như
không thấy ai có lời xin lỗi hoặc từ chức cả.
Hai là, chúng ta chưa có hệ thống pháp luật quy định rõ trách nhiệm,
thẩm quyền của từng vị trí, nhất là đối với lãnh đạo, quản lý nên thiếu cơ sở
để người dân hoặc các tổ chức, cơ quan giám sát.
15

văn hóa chính trị ngày càng suy giảm. Thiết nghĩ, để có được lòng tin của
người dân, một hệ thống với văn hóa chính trị lành mạnh phải dám đối diện
và nhận lãnh trách nhiệm đối với những yếu kém, sai phạm của chính mình.

18


MỤC LỤC
Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức ở nước ta đang được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến
và được dư luận xã hội quan tâm. Người ta vẫn hay quan niệm văn hóa từ chức là một
hành động rất đặc biệt trong xã hội. Khi người được giao trách nhiệm đã cố tình hay
không đủ khả năng làm tròn thì với lòng tự trọng của mình người đó sẽ tự nguyện xin từ
chức....................................................................................................................................1
Từ chức chỉ được xem là một hành vi có văn hóa khi người ta tự nguyện và mang lại ý
nghĩa tốt đẹp cho xã hội. Việc từ chức tự nguyện của người có chức, có quyền sẽ tạo cơ
hội cơ cấu lại, kiện toàn đội ngũ cán bộ của cơ quan, tổ chức nghĩa là tạo ra sự hợp lý tốt
hơn trong xã hội. Điều đó giúp những người thực sự có nhân cách, tài giỏi, có trình độ,
năng lực thực tiễn có thể phát huy cao nhất năng lực của mình nếu ở đúng vị trí, đồng
thời cũng giúp cho cơ quan, tổ chức và xã hội tránh được những thiệt hại không đáng có.
Văn hóa từ chức là một dạng văn hóa cá nhân của những người có chức, có quyền. Họ
được cơ quan, tổ chức và xã hội tôn trọng khi ở họ có nhân cách đạo đức, biết lãnh đạo
bằng tấm gương. Nếu không có nhân cách và gương mẫu thì không thể thuyết phục
được mọi người..................................................................................................................1
Có vô cùng nhiều lý do để một nhà lãnh đạo cấp cao đệ lá đơn từ chức. Bên cạnh các lý
do cá nhân như sức khỏe, tuổi tác… Họ có thể cảm thấy không đảm đương được công
việc hoặc để xảy ra những hậu quả, làm mất lòng dân thì và vì lòng tự trọng của một
người đã được tin tưởng, họ sẵn sàng từ chức. Cũng có người từ chức vì nhận thấy rằng
trong các sự việc đáng tiếc xảy ra, dù chỉ liên quan một phần rất nhỏ, nhưng mình phải
chịu trách nhiệm với tư cách lãnh đạo cao nhất. Từ chức dù không phải là việc làm dễ
dàng nhưng đối với họ là cần thiết và nên làm.................................................................15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status