Kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm vắc xin cúm mùa của nhân viên y tế hai bệnh viện tuyến trung ương tại hà nội năm 2015 và yếu tố liên quan - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cúm mùa là một bệnh nhiễm trùng hô hấp cấp tính do vi rút cúm gây
nên. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân, lây nhiễm trực tiếp từ người
bệnh sang người lành qua các giọt bắn nhỏ khi nói chuyện, khi ho, hắt hơi [1].
Vi rút gây bệnh thường gặp là cúm A(H3N2), cúm A(H1N1), cúm B [1],[2].
Bệnh cúm lan truyền khắp nơi trên thế giới qua các dịch theo mùa trong
năm, tính chất ngày càng nghiêm trọng bởi sự biến chủng nguy hiểm và tiềm
tàng của vi rút cúm [3]. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 20 - 30% trẻ em
và 5 - 10% người lớn mắc bệnh cúm; trung bình các vụ dịch cúm gây bệnh
cho khoảng 500 - 800 triệu người/năm, trong đó khoảng 3 - 5 triệu trường hợp
bị bệnh cúm nặng và 250.000 - 500.000 trường hợp tử vong [4]. Tại Việt
Nam, hàng năm ghi nhận khoảng 1,6-1,8 triệu trường hợp mắc bệnh cúm.
Tiêm phòng vắc xin cúm mùa hàng năm là một trong những biện pháp
phòng lây nhiễm cúm. Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã khuyến cáo nhân
viên y tế (NVYT) là nhóm nguy cơ cao cần được tiêm vắc xin cúm mùa [5].
Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã có quy định bệnh cúm là bệnh bắt buộc phải sử
dụng vắc xin đối với người có nguy cơ mắc bệnh, người sống tại vùng có dịch
hoặc đến vùng có dịch [6], đồng thời ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều
trị bệnh cúm mùa trong đó khuyến cáo NVYT nên được tiêm phòng vắc xin
cúm mùa hàng năm [1]. Ngoài ra, Bộ Y tế đã phê duyệt Kế hoạch phát triển
và sử dụng vắc xin cúm giai đoạn 2013 - 2020, tầm nhìn đến 2030 nêu rõ lộ
trình giai đoạn 2021 - 2030 “Xem xét đưa vắc xin cúm mùa vào tiêm chủng
mở rộng cho nhóm đối tượng nguy cơ cao” [7] trong đó có NVYT [1].
Một số nghiên cứu cho thấy, so với những người không làm trong lĩnh
vực y tế, NVYT là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cúm cao hơn và là một
trong những mắt xích liên quan đến việc lây truyền vi rút cúm sang nhóm


2


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm bệnh cúm ở người
1.1.1. Khái niệm về bệnh cúm
- Bệnh cúm là bệnh nhiễm vi rút cấp tính đường hô hấp với biểu hiện sốt,
đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Ho thường nặng và kéo
dài. Có thể kèm theo các triệu chứng đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy),
đặc biệt ở trẻ em. Thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 27 ngày. Ở trẻ em và người lớn tuổi, người mắc bệnh mạn tính về tim phổi,
thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc người có suy giảm miễn dịch, bệnh có
thể diễn biến nặng hơn như viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi, viêm não có
thể dẫn đến tử vong [20].
1.1.2. Tác nhân gây bệnh
- Vi rút cúm (Influenza virus) thuộc nhóm Orthomyxoviridae và được
chia thành 3 týp A, B và C. Vỏ của vi rút bản chất là glycoprotein bao gồm 2
kháng nguyên: Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu H (Hemaglutinin) và
kháng nguyên trung hoà N (Neuraminidase). Có 15 loại kháng nguyên H (H1H15) và 9 loại kháng nguyên N (N1-N9). Những cách tổ hợp khác nhau của
hai loại kháng nguyên này tạo nên các phân týp khác nhau của vi rút cúm A.
Trong quá trình lưu hành của vi rút cúm A, 2 kháng nguyên này, nhất là kháng
nguyên H, luôn luôn biến đổi. Những biến đổi nhỏ liên tục gọi là “trôi” kháng
nguyên (antigenic drift) [21] thường gây nên các vụ dịch vừa và nhỏ. Những
biến đổi nhỏ dần dần tích lại thành những biến đổi lớn, tạo nên phân týp
kháng nguyên mới gọi là “thay đổi” kháng nguyên (antigenic shift). Đó là do
sự tái tổ hợp giữa các 4 chủng vi rút cúm động vật và cúm người. Những phân
týp kháng nguyên mới này sẽ gây đại dịch cúm trên toàn cầu [21].


4

- Khả năng tồn tại ở môi trường bên ngoài: Vì bản chất của vi rút cúm là

- Ổ chứa: Vi rút cúm A có khả năng gây nhiễm các loài động vật có vú
(như lợn và ngựa), các loài chim và gia cầm. Trong đó, vi rút cúm B và C chỉ
gây bệnh ở người. Tất cả các týp vi rút cúm A tồn tại trong quần thể chim
nước hoang dại. Nhìn chung, các vi rút cúm động vật không có khả năng gây
bệnh cho người trừ khi nó đã thích ứng với người hoặc tái tổ hợp với vi rút
cúm người [20].
- Đối với bệnh cúm mùa, người bệnh thể điển hình, hoặc thể nhẹ là ổ
chứa vi rút [20].
1.1.5. Phương thức lây truyền
- Bệnh cúm là bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao và lây truyền nhanh,
có thể gây dịch và đại dịch. Bệnh lây lan qua đường hô hấp, qua không khí
giọt nhỏ qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng của bệnh nhân có
chứa vi rút cúm qua ho, hắt hơi. Vi rút vào cơ thể qua đường mũi họng. Tỷ lệ
lây lan càng mạnh khi tiếp xúc trực tiếp và mật thiết, đặc biệt ở nơi tập trung
đông người như trường học, nhà trẻ, bệnh viện. Trong điều kiện thời tiết lạnh
và ẩm thấp, tế bào đường hô hấp của người dễ bị tổn thương, làm tăng tính
cảm nhiễm với bệnh [20].
1.1.6. Các biện pháp phòng chống dịch
- Biện pháp dự phòng: Giáo dục nhân dân và nhân viên y tế về vệ sinh cá
nhân, đặc biệt về đường lây truyền bệnh do ho, hắt hơi, tiếp xúc.
- Biện pháp dự phòng đặc hiệu:
+ Tiêm phòng vắc xin là biện pháp chủ yếu đề phòng bệnh cúm và giảm
ảnh hưởng của dịch cúm. Nhiều loại vắc xin cúm mùa đã được sử dụng trong
hơn 60 năm qua, các vắc xin cúm mùa là an toàn và có tỷ lệ bảo vệ từ 7090%. Ở người già, vắc xin cúm mùa làm giảm 60% tỷ lệ mắc bệnh và 70-80%
tỷ lệ tử vong có liên quan đến cúm. Hiệu quả bảo vệ của vắc xin cúm mùa


6

phụ thuộc vào độ tuổi và đáp ứng miễn dịch của người được tiêm vắc xin,

vong. Theo thông báo của TCYTTG ngày 06/8/2010, toàn thế giới đã ghi
nhận 214 quốc gia và vùng lãnh thổ có xét nghiệm dương tính với vi rút cúm
A(H1N1), trong đó 18.449 trường hợp tử vong. Ngày 10/8/2010, TCYTTG đã
đưa ra Thông báo: Thế giới không còn trong giai đoạn đại dịch cúm (giai đoạn
6), đã chuyển sang giai đoạn sau đại dịch. Như vậy sau 14 tháng (kể từ ngày
11/6/2010) tuyên bố đại dịch cúm A(H1N1) trên toàn cầu, TCYTTG đã khẳng
định tình hình cúm A(H1N1) bước vào giai đoạn thoái lui. Theo nhận định
của các chuyên gia quốc tế, vi rút cúm A(H1N1) gây đại dịch năm 2009 sẽ
diễn biến như cúm mùa và tiếp tục lưu hành. Hiện chưa phát hiện sự biến đổi
gen của vi rút cúm A(H1N1) gây đại dịch năm 2009.
- Cúm A(H3N2): Tác nhân gây bệnh là vi rút cúm A(H3N2), được hình
thành do trao đổi tích hợp giữa vi rút cúm người và vi rút cúm gia cầm [22].
Đại dịch cúm này cũng bắt nguồn từ Trung Quốc vào tháng 7 năm 1968 sau
đó lan sang Hồng Kông và nhanh chóng đạt đỉnh trong vòng 2 tuần. Đến
tháng 8, dịch lan sang Đài Loan, Philippine, Singapore và Việt Nam và tháng
9 xuất hiện ở Úc, Ấn Độ và Iran. Cũng vào thời gian này, dịch xâm nhập vào
California, Mỹ do lính Mỹ từ Việt Nam mang theo dịch bệnh trở về Mỹ. Tại
Mỹ dịch đạt đỉnh vào tháng 12 năm 1968 [22]. Đại dịch này gây nhiễm cho
khoảng 30 - 50% dân số thế giới và có sự dao động giữa các quốc gia. Tại Mỹ
và Úc, tỷ lệ nhiễm cúm đại dịch này lên tới trên 50% dân số. Tuy nhiên, tỷ lệ
tử vong do bệnh cúm trong đại dịch này dưới 30/100.000 người với tổng cộng
khoảng trên 1 triệu trường hợp tử vong trên toàn cầu [23].
- Cúm A(H5N1): Dịch cúm A(H5N1) bắt đầu được ghi nhận từ tháng
12/2003. Đến tháng 9/2014, toàn thế giới đã ghi nhận 667 trường hợp mắc
cúm A(H5N1) tại 16 quốc gia, trong đó có 393 trường hợp tử vong.
- Cúm A(H7N9): Chủng cúm A(H7N9) mới xuất hiện ở Trung Quốc từ
ngày 04/5/2013, theo ghi nhận của cơ quan đầu mối IHR - Tổ chức Y tế thế


8

9

Hiện chưa phát hiện sự biến đổi gen của vi rút ảnh hưởng đến độc lực và
sự kháng thuốc của vi rút cúm tại Việt Nam.
- Cúm A(H5N1): Lũy tích từ năm 2003 đến tháng 9/2014, Việt Nam đã
ghi nhận 127 trường hợp mắc, 64 trường hợp tử vong.
- Cúm A(H7N9): Đến nay, chưa có trường hợp nhiễm cúm A(H7N9) nào
được ghi nhận, cả ở người và gia cầm.
1.3. Tình hình sử dụng vắc xin cúm mùa
1.3.1. Lịch sử vắc xin cúm mùa
- Vắc xin cúm mùa có lịch sử phát triển khá sớm, bắt đầu từ những năm
đầu của thập kỷ 30 của thế kỷ XX. Chế phẩm đầu tiên cho dự phòng bệnh
cúm là vắc xin cúm mùa toàn thân vi rút bất hoạt, với việc sử dụng chủng vi
rút cúm A/Puerto-Rico/8/1934/H1N1 nuôi cấy trên trứng gà có phôi và bất
hoạt bằng beta-propiolactone để kích thích tạo kháng thể trung hoà dự phòng
cúm cho người [24]. Cho tới nay đã có hàng chục loại vắc xin cúm bất hoạt và
cúm sống giảm độc lực được sản xuất theo những cách tiếp cận công nghệ
khác nhau, được sản xuất thử nghiệm hoặc đã qua thử nghiệm lâm sàng và
được cấp phép sử dụng rộng rãi cho cộng đồng.
- Vắc xin cúm mùa hiện đang được sản xuất dưới 2 dạng: vắc xin sống
giảm độc lực dùng đường mũi và vắc xin bất hoạt toàn thân hoặc tiểu thành
phần HA, NA tinh khiết dùng đường tiêm. Theo quy định hiện nay của
TCYTTG công thức của vắc xin cúm mùa luôn chứa kháng nguyên của 2
phân týp cúm A đại diện là A(H1N1); A(H3N2) và kháng nguyên týp, vì thế
thường được gọi là vắc xin cúm “tam liên”.
1.3.2. Tình hình sử dụng vắc xin cúm mùa trên thế giới
- Theo báo cáo tổng kết của nhóm chuyên gia tư vấn về chiến lược tiêm
chủng (NCGTV) của TCYTTG đã có hơn 570 triệu liều vắc xin cúm




11

A/California/7/2009 sẽ có hiệu giá tương tự như vắc xin phòng cúm A(H1N1)
đại dịch 2009 [20].
- Thêm vào đó, chủng cúm A(H3N2) cũng được phát hiện bùng phát ở
một số nước, phần lớn các chủng vi rút cúm mới gần đây khác với thành phần
của vắc xin cúm A/Perth/16/2009 và có thể có sự liên quan nhiều với chủng
A/Victoria/361/2011 hơn. Vắc xin chứa thành phần A/Perth/16/2009 có hiệu
giá thấp đối với các chủng cúm A(H3N2) đang lưu hành [20].
- Vi rút cúm B cũng đã được báo cáo là đang bùng phát tại nhiều nước.
Chủng vi rút cúm B/Yamagata/16/88 xuất hiện tại nhiều nơi trên thế giới tuy
nhiên chủng vi rút cúm B/Victoria/2/87 lại chiếm ưu thế ở một số nước, đặc
biệt là Trung Quốc. Đa số các chủng vi rút đang lưu hành có kháng nguyên
B/Victoria/2/87



liên

quan

chặt

chẽ

với

chủng


2006 - 2013 tại Việt Nam.
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Tổng

Fluarix

Inflexal V

Influvax

Vaxigrip

Tổng

(liều)
3.644
4.559
5.966
4.959
12.660
14.253
13.291

78.693
121.492
75.278
123.109
588.832

(liều)
29.784
41.685
50.157
128.160
103.666
149.657
104.565
163.271
770.945

- Theo khuyến cáo của Bộ Y tế thì nên tiêm phòng vắc xin cúm hàng
năm trước mùa cúm do vi rút cúm thường thay đổi và những chủng vi rút mới
sẽ luân chuyển hàng năm. Việc sử dụng vắc xin cúm là biện pháp dự phòng
hiệu quả làm giảm 89% nguy cơ lây nhiễm cúm ở người khỏe mạnh, 78% số
ngày nghỉ việc ở những người có độ tuổi làm việc, giảm 57% nguy cơ nhập
viện và 67% nguy cơ tử vong ở tuổi già, giảm 85% nguy cơ bị hội chứng cúm
và giảm 41% nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em. Tuy nhiên số liệu về tình
hình sử dụng vắc xin cúm mùa tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ này là tương đối
thấp so với số đối tượng nguy cơ cao mặc dù đã có xu hướng tăng qua các
năm đặc biệt là từ năm 2009 khi đại dịch cúm xảy ra.
1.4. Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới




14

những hậu quả nghiêm trọng cho bản thân họ, bệnh nhân của họ và cộng
đồng, 81% trong đó đều biết vắc xin có thể phòng chống được bệnh cúm. Lý
do của việc không tiêm vắc xin cúm là: không biết có vắc xin cúm tại địa
phương (32%), nghi ngờ về tính an toàn của vắc xin (18%), không có thời
gian tiêm vắc xin (12%), lo sợ những tác dụng phụ (4%). 61% cho rằng các
chương trình vắc xin được thúc đẩy do lợi nhuận. 88% cho rằng việc tiêm vắc
xin cúm cho NVYT là bắt buộc [26].
- Một nghiên cứu khác về kiến thức và thái độ đối với vắc xin cúm của
NVYT cũng đã được tiến hành tại Tây Ban Nha vào năm 2012 cho thấy
50,7% NVYT đã tiêm vắc xin cúm trong năm 2012 trong đó nhóm tuổi có tỷ
lệ tiêm vắc xin cao nhất là từ 55 tuổi trở lên (55,7%), giới nam có tỷ lệ tiêm
chủng là 57,4% và tỷ lệ này ở nhóm bác sỹ nhi khoa là 63,1%. Những yếu tố
liên quan đến việc quyết định tiêm vắc xin bao gồm: lo lắng về việc lây nhiễm
bệnh tại nơi làm việc (OR: 4,93; 95% CI: 3,72 - 6,53), cho rằng tiêm vắc xin
là quan trọng đối với NVYT (OR: 2,62; 95% CI: 1,83 - 3,75) và tiêm vắc xin
là biện pháp hiệu quả trong phòng, chống bệnh cúm (OR: 2,40; 95% CI: 1,56
- 3,67). Nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ giữa kiến thức hay đặc tính
của vắc xin. Các chương trình đào tạo, tập huấn cần tập trung xóa bỏ những
nhận thức sai lầm và thái độ tiêu cực đối với việc sử dụng vắc xin [27].


15

- Nguy cơ lây nhiễm cúm A/H1N1/09 đại dịch trong môi trường bệnh
viện cũng khác biệt so với hộ gia đình vì có những yếu tố liên quan đến nghề
nghiệp. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến nghề nghiệp có thể là: phơi nhiễm

Quảng Bình, Lâm Đồng, Kiên Giang, Sơn La, Ninh Thuận, Bình Dương của
Vũ Thị Minh Hạnh đã được công bố năm 2008, kết quả cho thấy [31]:
+ Chỉ số hiểu biết của NVYT về những thông tin chung liên quan đến
phòng chống cúm A(H5N1) như nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, mức độ
nguy hiểm, đường lây, biện pháp phòng ngừa lây nhiễm trong bệnh viện và
trong cộng đồng thường rất cao đạt tỷ lệ từ >80% đến >95%;
+ Phần đông NVYT trong các cơ sở y tế dự phòng đã có hiểu biết đúng
về cách phát hiện sớm và xử lý các trường hợp nghi nhiễm cúm A(H5N1).
Tuy nhiên, đối với một số thông tin cụ thể liên quan đến chẩn đoán phát hiện
sớm và xét nghiệm, tỷ lệ NVYT có hiểu biết chính xác chưa nhiều. Điều này
sẽ làm hạn chế khả năng phát hiện sớm cũng như xử lý kịp thời các ổ dịch
cúm trong cộng đồng,...
+ Trong các cơ sở điều trị, tỷ lệ NVYT nắm vững kiến thức về chẩn đoán
và điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế rất cao từ >80% đến >90%. Hiểu biết
của họ về các biện pháp phòng lây nhiễm trong bệnh viện cũng khá đầy đủ và
toàn diện.
+ Đáng chú ý hiện đang có một khoảng cách rất lớn giữa nhận thức và
thực hành của NVYT trong xử trí các trường hợp nghi nhiễm cũng như sử
dụng các biện pháp phòng hộ tự bảo vệ trong khi làm việc. Chỉ có >50% xếp
bệnh nhân vào khu vực cách ly khi có dấu hiệu nghi ngờ; >44% chỉ định làm
các xét nghiệm và >17% thông báo với cơ quan chức năng,... Có tới 97,8%
NVYT cho biết phải sử dụng các phương tiện phòng hộ khi tiếp xúc với bệnh
nhân song trong thực tế chỉ có 2% đã sử dụng khẩu trang và găng tay khi
khám bệnh cho bệnh nhân có dấu hiệu về đường hô hấp,... Nguyên nhân của


17

sự cách biệt này là do sự chủ quan của NVYT, nhất là ở những vùng chưa có
dịch, do thói quen, do thiếu ý thức dự phòng lây nhiễm, do thiếu hiểu biết về

Việt Nam đã có hệ thống văn bản pháp luật hoàn thiện về việc sử dụng
vắc xin bao gồm: Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm và các thông tư, văn
bản hướng dẫn thực hiện Luật. Thêm vào đó, ngành y tế luôn nhận được sự
quan tâm đầu tư của Chính phủ và tích cực tham gia của toàn thể hệ thống
chính trị vào công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm đặc biệt là phòng
chống bệnh cúm ngày càng được nâng cao. Hệ thống y tế dự phòng rộng khắp
từ Trung ương đến cơ sở, có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động tiêm chủng
phòng bệnh. Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đã góp phần quan
trọng trong việc tăng cường nhận thức của người dân, tích cực tiếp cận dịch
vụ y tế.
Việt Nam là một trong số ít các nước trong khu vực sản xuất có khả năng
sản xuất vắc xin từ nhiều năm nay và đã sản xuất nhiều vắc xin đạt chất lượng
tốt đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu. Các nhà sản xuất vắc xin
tại Việt Nam đều có năng lực nghiên cứu, sản xuất vắc xin cúm, được đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và đều có kế hoạch triển khai, nghiên
cứu, sản xuất vắc xin cúm trong thời gian tới. Được sự hỗ trợ tích cực của
chính phủ và các tổ chức quốc tế về kinh phí, chuyển giao công nghệ, cung
cấp chủng.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực và trên thế
giới vẫn phải đối mặt với những khó khăn trong việc sử dụng vắc xin. Nhận
thức của người dân về bệnh truyền nhiễm và các biện pháp phòng chống bệnh
truyền nhiễm ở một số vùng còn hạn chế. Do điều kiện kinh tế còn thấp, ý
thức tự bảo vệ sức khoẻ của người dân chưa cao, việc sử dụng vắc xin còn
dựa chủ yếu vào sự bao cấp của Nhà nước, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa. Vắc xin cúm sử dụng chủ yếu là vắc xin nhập khẩu và sử dụng


19

dưới hình thức tiêm chủng dịch vụ vì vậy việc cung ứng vắc xin phụ thuộc

2004 vì có thành tích xuất sắc trong chống dịch SARS. Bệnh viện Bệnh nhiệt
đới Trung ương là tuyến cao nhất khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng về
các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới có chất lượng hàng đầu, được sự tin cậy
của người bệnh. Bệnh viện có phòng cách ly áp lực âm thuộc loại hiện đại
trên thế giới, vừa qua nhiều bệnh nhân cúm rất nặng được cứu sống tại đây.
Ngoài ra Bệnh viện luôn là đơn vị đi đầu và làm nòng cốt khi có dịch bệnh
nguy hiểm, các dịch bệnh mới xuất hiện như SARS, dịch tiêu chảy cấp nguy
hiểm, liên cầu lợn, dịch sởi, sốt xuất huyết, sốt phát ban,... Đây còn là nơi đào
tạo nhân lực y tế, chỉ đạo tuyến, phòng chống dịch bệnh và nghiên cứu khoa
học, triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại phục vụ
người bệnh chuyên khoa truyền nhiễm và nhiệt đới,...
- Tại hai bệnh viện trên đã triển rất nhiều nghiên cứu về các đề tài khác
nhau trong đó có những nghiên cứu về cúm A(H5N1), cúm A(H1N1), tuy
nhiên chưa có nghiên cứu nào về đề tài nêu trên tại các đơn vị này cũng như
tại Việt Nam.


21

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
- Địa điểm nghiên cứu: Tại 02 bệnh viện là Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh
viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2014
đến tháng 9/2015, trong đó thời gian tiến hành thu thập thông tin tại địa điểm
nghiên cứu là từ tháng 7 - 8/2015.
2.2. Đối tượng nghiên cứu.
- Các bác sỹ hiện đang công tác tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Bệnh
Nhiệt đới Trung ương tự nguyện tham gia được lựa chọn vào nghiên cứu.

Z = 1,96 (tra bảng với độ tin cậy 95%)
α = 0,05 (độ tin cậy mong muốn)
p = 0,5 (để có cỡ mẫu tối thiểu lớn nhất và tại Việt Nam chưa có nghiên
cứu nào về tỷ lệ tiêm vắc xin cúm mùa của bác sỹ trước đó)
d = 0,05 (độ chính xác tuyệt đối)
n = 384 (bác sỹ)
Lấy thêm khoảng 5% cỡ mẫu tính toán. Vậy số lượng bác sỹ cần điều tra
là n = 403. Thực tế đã tiến hành phỏng vấn 412 bác sỹ tại 02 bệnh viện trên.
- Chọn mẫu bằng kỹ thuật chọn mẫu nhiều giai đoạn, cụ thể như sau:
+ Giai đoạn 1: Chọn chủ đích 2 bệnh tuyến trung ương tại Hà Nội là
Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương làm địa điểm
nghiên cứu.
+ Giai đoạn 2: Lập danh sách số bác sỹ hiện đang tham gia công tác
chăm sóc, điều trị bệnh nhân của từng bệnh viện theo đó tổng số bác sỹ là 642
trong đó Bệnh viện Bạch Mai là 542 người (chiếm 84%) và Bệnh viện Bệnh
Nhiệt đới Trung ương là 100 người (chiếm 16%), như vậy với số ĐTNC cần
điều tra là 403 người thì chúng tôi chọn 340 người là của Bệnh viện Bạch Mai
và 63 người là của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Danh sách bác sỹ
tại mỗi bệnh viện được sắp xếp tên bác sỹ trong các khoa, phòng, Trung tâm,
Viện và sắp xếp tên khoa, phòng, Trung tâm, Viện theo alphabet và đánh số
thứ tự từ 1 đến hết.
+ Giai đoạn 3: Chọn bác sỹ để điều tra theo mẫu ngẫu nhiên hệ thống:
• Tính khoảng cách mẫu k = N/n = 642/403 = 1,6 làm tròn là 2
• Chọn một số ngẫu nhiên từ 1 đến k đó là số 1


23

• Lấy 1 là bác sỹ đầu tiên cần điều tra; bác sỹ thứ hai là 1 + k, bác sỹ thứ
3 là 1 + 2k, tiếp tục cho đến khi chọn đủ số mẫu tại mỗi bệnh viện.

tộc) và yếu tố

- Chuyên ngành công tác

- Phân bố tỷ lệ % theo chuyên
ngành công tác của các bác sỹ
(Nội khoa, Ngoại khoa,
Sản/phụ khoa, Nhi khoa,
Truyền nhiễm, chuyên ngành
khác).

- Thâm niên công tác

- Phân bố tỷ lệ % nhóm thâm
niên công tác của các bác sỹ.
Phân bố 04 nhóm thâm niên
công tác là dưới 5; 5-14; 1524; từ 25 năm trở lên.

- Chức vụ hiện tại

- Phân bố tỷ lệ % nhóm chức
vụ của các bác sỹ. Phân bố 02
nhóm chức vụ là nhóm quản
lý và nhóm nhân viên.

trưng cá nhân
của bác sỹ bao
gồm yếu tố

liên quan đến

những lần bị bệnh mà nhân
viên y tế mắc phải; không
phải bệnh được quan tâm
- So với mọi người, NVYT là - Tỷ lệ % bác sỹ đồng ý?
đối tượng có nguy cơ bị mắc
bệnh cúm cao hơn
- Nhóm đối tượng có nguy cơ - Tỷ lệ % bác sỹ chọn ít nhất
bị nhiễm cúm mùa cao
1 trong 5 nhóm đối tượng
(NVYT, PNCT, người cao
nguy cơ cao?
tuổi, trẻ em, người mắc bệnh
mãn tính)

Kiến thức của

- Vắc xin cúm mùa có thể là

- Tỷ lệ % bác sỹ không đồng

bác sỹ về việc

nguyên nhân gây bệnh cúm

ý?

sử dụng vắc

cho người được tiêm vắc xin


Chỉ số

điểm thích hợp để tiêm vắc
xin cúm là trước mùa dịch;
Bộ Y tế đã có khuyến cáo rõ
ràng cho nhân viên y tế về sử
dụng vắc xin cúm.

Thái độ của
bác sỹ về bệnh
cúm mùa và
việc sử dụng
vắc xin cúm

- Nếu cho lời khuyên về sử
dụng vắc xin cúm mùa,
anh/chị sẽ chọn nhóm nào
dưới đây (5 nhóm đối tượng
nguy cơ)

- Tỷ lệ % bác sỹ cho lời
khuyên với cả 5 nhóm?

- Theo anh/chị, đơn vị, cá
nhân nào có trách nhiệm
chính trong việc KHUYẾN
CÁO tiêm vắc xin cúm mùa
cho nhân viên y tế?

- Tỷ lệ % bác sỹ cho rằng Bộ


- Khuyên đồng nghiệp tiêm
- Phân bố thái độ của bác sỹ
vắc xin cúm mùa nếu Bộ Y tế trong việc khuyên đồng
triển khai tiêm miễn phí vắc nghiệp tiêm vắc xin cúm mùa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status