THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC CÁC VĂN BẢN VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2013 – 2017

GVHD: ThS. Nguyễn Thành Ngọc Bảo
SVTH: Nguyễn Hoàng Huân
MSSV: K39.601.040

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 05 năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2013 – 2017

THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC
CÁC VĂN BẢN VĂN XUÔI VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA
GVHD: ThS. Nguyễn Thành Ngọc Bảo
SVTH: Nguyễn Hoàng Huân
MSSV: K39.601.040

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 05 năm 2017



1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 5
1.1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 5
1.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài............................................................ 8
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................................. 9
2.1. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa ............................................................ 9
2.2. Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ văn hóa .............................................. 11
2.3. Nhận xét chung ............................................................................................. 15
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................. 17
4. Giả thuyết khoa học .................................................................................................. 17
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 17
6. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................................... 18
4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận .................................................................. 18
4.2. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm.............................................................. 18
7. Bố cục khóa luận ....................................................................................................... 19
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................ 21
1


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .................................................... 21
1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................................... 21
1.1.1. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa ....................................................... 21
1.1.2. Lý do cần tiếp cận văn bản văn xuôi từ góc độ văn hóa ............................ 33
1.1.3. Yêu cầu của Chƣơng trình Giáo dục Phổ thông từ sau năm 2018 ............. 34
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................ 36
CHƢƠNG 2. THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC CÁC VĂN BẢN VĂN XUÔI VIỆT
NAM HIỆN ĐẠI TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA ................................................................ 39
2.1. Kế hoạch bài học .................................................................................................... 39
2.2. Khái quát về các văn bản văn xuôi Việt Nam hiện đại đƣợc chọn trong chƣơng
trình Ngữ văn 12, tập 2 ................................................................................................. 41
2.3. Mô hình kế hoạch bài học đọc – hiểu văn bản văn xuôi Việt Nam hiện đại từ góc


Nhà trƣờng phổ thông

ĐHVB

Đọc – hiểu văn bản

THPT

Trung học phổ thông

KHBH

Kế hoạch bài học

VBVX

Văn bản văn xuôi

SGK

Sách giáo khoa

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

dần chuyển mình với nhiều phƣơng pháp dạy học tích cực, nhƣ dạy học dự án, dạy
5


học bằng sơ đồ tƣ duy,… Từ những điều đó, có thể thấy đƣợc sự cấp thiết cần phải
đa dạng hóa các cách dạy học ĐHVB. Và đã đến lúc tiếp cận văn bản từ góc độ văn
hóa cũng nên đƣợc nghiên cứu nhƣ một hình thức đọc – hiểu và đƣợc triển khai ở
nhà trƣờng Trung học Phổ thông (THPT).
Dạy ĐHVB nhƣ hiện nay, đứng trƣớc yêu cầu mới, cần không ngừng tìm tòi,
sáng tạo những cách thức nhằm phát huy tối đa năng lực của HS và đạt đƣợc tối ƣu
hiệu quả giáo dục. Điều này đƣợc đề cập rất rõ trong Đề án phát triển chương trình
giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015 và gần đây nhất là Dự thảo chương trình
giáo dục phổ thông tổng thể tháng 04 năm 2017. Đối với vấn đề đổi mới dạy học
Ngữ văn, Đề án nhấn mạnh nhiệm vụ và mục tiêu của môn học. Thứ nhất, hình
thành và phát triển các năng lực đặc thù và năng lực cốt lõi của môn học, đặc biệt
là năng lực giao tiếp và năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học. Thứ hai, bồi dưỡng
và nâng cao vốn văn hóa cho người học, từ đó giáo dục, hình thành và phát triển
cho HS những tư tưởng, tình cảm nhân văn, trong sáng, cao đẹp. Không dừng lại ở
đó, Dự thảo tổng thể tháng 04 năm 2017 khẳng định yêu cầu cấp thiết của sự dịch
chuyển từ nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển
toàn diện về cả phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất
tiềm năng của mỗi học sinh. Trong đó, mục tiêu đặt ra cho môn Ngữ Văn bậc THPT,
nằm trong tổng thể định hƣớng giáo dục ngôn ngữ và văn học, đó là bồi dƣỡng cho
HS những phẩm chất chủ yếu: yêu đất nước, yêu con người, trung thực, trách nhiệm;
bên cạnh đó còn giúp HS phát triển các năng lực cần thiết nhƣ năng lực ngôn ngữ,
năng lực thẩm mỹ, năng lực khám phá tự nhiên và xã hội,… Từ những mục tiêu về
phẩm chất và năng lực cần đạt đó, có thể thấy rằng: một là, cần đa dạng hóa cách
thức dạy học ĐHVB; hai là, cần thay đổi cách thức tổ chức hoạt động dạy học trong
giờ ĐHVB. Do vậy, nghiên cứu và phát triển các phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
mới, cụ thể ở đây là ĐHVB, là việc làm cấp thiết trong bối cảnh đó. Nhƣ đã trình

chuyên môn, mà là chuyên chở, truyền tài và bồi dƣỡng tâm hồn các em thông qua
nội dung ý nghĩa và vẻ đẹp của ngôn từ, chúng tôi hy vọng với hình thức ĐHVB
này, HS sẽ nhìn lại đƣợc vẻ đẹp văn hóa của ông cha mình từ đời trƣớc, giúp các em

7


hiểu thêm về bản thân, về dân tộc, thêm yêu quý và trân trọng những giá trị văn hóa
truyền thống, cũng nhƣ có ý thức trách nhiệm đối với quê hƣơng đất nƣớc.
Việc phát triển năng lực ở cả ngƣời học lẫn ngƣời dạy là việc làm mang tính
hiển nhiên, quy luật trong quá trình sƣ phạm. Vì vậy, thực hiện đề tài này, chúng tôi
không chỉ mong muốn góp phần phát triển các năng lực thiết yếu ở HS, mà ngay cả
giáo viên (GV) cũng sẽ đƣợc rèn luyện và trau dồi các phẩm chất, năng lực cần thiết
khác để đáp ứng nhu cầu ngày một cao của bối cảnh giáo dục hiện đại.
Vì những lý do đã nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu THIẾT KẾ
KẾ HOẠCH BÀI HỌC CÁC VĂN BẢN VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TỪ
GÓC ĐỘ VĂN HÓA.
1.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
1.2.1. Về lý luận
Đề tài góp phần làm rõ các vấn đề lý thuyết sau:
Thứ nhất, văn học trong mối quan hệ với văn hóa;
Thứ hai, kế hoạch bài học (KHBH) trong sự so sánh với giáo án
truyền thống;
Thứ ba, đề xuất mô hình đọc – hiểu văn bản văn xuôi (VBVX)
từ góc độ văn hóa.
1.2.2. Về thực tiễn
Đề tài có ý nghĩa về mặt thực tiễn nhƣ sau:
Cách tiếp cận VBVX từ góc độ văn hóa khiến cho giờ học sinh
động và sôi nổi hơn;
Khám phá VBVX từ góc độ văn hóa, từ đó nâng cao hiểu biết

quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của
9


bạn đọc [19, 20]. Tiếp đến, ông vạch ra sự tác động trở lại của văn học đến văn hóa:
hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua những bộ phận hợp thành khác của nó.
Hơn thế nữa, ông còn cho rằng: Những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng
là những nhà văn hóa lớn. Từ đây cho thấy sự gắn bó mật thiết, chặt chẽ của hai đối
tƣợng văn học – văn hóa.
Lê Nguyên Cẩn trong công trình Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã
trình bày: Nếu coi văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần mà con người
sáng tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử nhằm tạo dựng diện mạo riêng cho nó, nhằm
tạo ra bản sắc văn hóa cho riêng mình thì tác phẩm văn học là một trong những giá
trị sáng tạo đó. Tác phẩm văn học – chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ tái hiện đời
sống tinh thần của các dân tộc – là kết tinh cao nhất của văn hóa một tộc người, một
đất nước [6, 13]. Một tác phẩm văn học bao giờ cũng mang những biểu hiện văn hóa
của nền văn hóa mà nó đƣợc sinh ra. Cái chúng ta tìm kiếm khi đọc một tác phẩm
không dừng lại ở bình diện thƣởng thức nghệ thuật nữa, mà là hành trình tìm về với
văn hóa cội nguồn, văn hóa dân tộc.
Ngoài ra, vấn đề về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa còn có thể đƣợc tìm
thấy ở các bài nghiên cứu, chuyên luận viết về biểu hiện văn hóa trong một hoặc một
nhóm tác phẩm cụ thể, trƣớc khi đi vào thực hành đều trải qua công đoạn trình bày
các vấn đề về lý luận, để chỉ rõ rằng: mối quan hệ giữa văn học – văn hóa là mối
quan hệ biện chứng chặt chẽ, mật thiết. Có thể kể đến một số tài liệu tiêu biểu nhƣ:
Lê Nguyên Cẩn với Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, Đặng Văn Kim với
Truyện Kiều và truyền thống văn hóa người Việt trong sự đối sáng với Kim Vân
Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Đinh Hài với Văn học – văn hóa Tây Nguyên
qua sáng tác của Nguyên Ngọc,…
Từ những tài liệu trên, có thể kết luận mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
nhƣ sau:

tiếp cận này cho đến nay đã tồn tại trên dƣới hai mƣơi năm, và đạt đƣợc nhiều thành
11


tựu nhất định. Đỗ Lai Thúy ở phần cuối bài viết trên đã khẳng định: cần nâng cấp
phê bình văn học từ văn hóa thành một phương pháp với tư cách đầy đủ.
Từ đó cho thấy, nắm vững lý luận về mối quan hệ văn hóa – văn học là một
chuyện, và sử dụng nó để vận dụng vào nghiên cứu, tìm tòi lại là câu chuyện khác.
Có thể kể đến một số tác giả đã thành công trong việc vận dụng lý thuyết để tìm hiểu
những biểu hiện của văn hóa trong tác phẩm cụ thể, đóng góp không nhỏ cho phê
bình, nghiên cứu văn học.
Trần Nho Thìn, trong Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa đã
xác định nhiệm vụ nghiên cứu: cắt nghĩa nền tảng văn hóa của một hình tƣợng nghệ
thuật, một thủ pháp nghệ thuật hay nói chung là một khía cạnh nào đó của cấu trúc
nghệ thuật tác phẩm. Phần thứ hai – Tiếp cận văn hóa với một số tác giả, tác phẩm
văn học trung đại – có lẽ là đóng góp quan trọng và ý nghĩa nhất của toàn bộ công
trình. Sau khi trình bày các vấn đề về học thuật ở phần một, sang phần này, Trần
Nho Thìn tiếp cận một số tác giả cùng tác phẩm văn học trung đại từ góc nhìn văn
học hết sức độc đáo. Cụ thể, nhà nghiên cứu đã dùng một số đặc điểm của văn hóa
Nho giáo để tìm hiểu hình mẫu nhà Nho đƣơng thời, từ đó tiến tới tìm hiểu và phân
chia văn chƣơng của nhà Nho thành hai loại. Ở một phần khác, Trần Nho Thìn soi
sáng bi kịch của nhà Nho qua thơ văn thông qua việc xem xét hình mẫu nhà Nho
nhƣ một kết tinh văn hóa về con ngƣời của thời đại. Phân tích thơ văn Nguyễn
Khuyến, Nguyễn Công Trứ, ông dùng những biểu hiện văn hóa của Nho giáo trong
việc quy định hệ tính cách văn hóa: Đạo, Tâm, Chí để cắt nghĩa và làm rõ các bình
diện nghệ thuật tác phẩm. Đáng chú ý hơn cả ở phần này đó là nghiên cứu của tác
giả về Truyện Kiều. Đây là phần mà tác giả dành nhiều công sức và tâm huyết để
đánh giá và nhìn nhận lại giá trị của Truyện Kiều theo quan điểm nghiên cứu của
mình. Trần Nho Thìn đã dùng mọi biểu hiện của các văn hóa tôn giáo khác nhau:
Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo kết hợp cùng văn hóa tín ngƣỡng dân gian để lý giải

Nguyên Ngọc đã nghiên cứu và trình bày màu sắc văn hóa Tây Nguyên trong sáng
tác của Nguyên Ngọc trên ba phƣơng diện chính: hình tƣợng thiên nhiên và hình
tƣợng cuộc sống; thế giới nhân vật; ngôn ngữ và giọng điệu (tƣơng ứng với ba
13


chƣơng). Đến cuối cùng, tác giả gần nhƣ đã phục dựng lại toàn bộ không gian văn
hóa đặc sắc của Tây Nguyên đến với bạn đọc thông qua việc đặt tác phẩm văn học
trong sự gắn bó của nó với nền văn hóa mà nó đƣợc sinh ra. Ý nghĩa của việc làm
này không chỉ cho thấy sự gắn bó giữa một tác phẩm với nền văn hóa phôi thai của
nó, mà còn cho thấy khả năng và mức độ tác động của văn hóa đến các bình diện
nghệ thuật cấu trúc nên tác phẩm.
Trong Văn chương Vũ Bằng với góc nhìn văn hóa, Đỗ Thị Ngọc Chi đã tiếp
cận thế giới văn chƣơng của Vũ Bằng trên những phƣơng diện: những lớp văn hóa
cần khảo sát và vấn đề văn hóa truyền thống – hiện đại, dân tộc – nhân loại; sự kết
tinh văn hóa Hà Nội trong văn chƣơng Vũ Bằng qua các biểu hiện thiên nhiên, ẩm
thực và hoạt động sinh hoạt. Từ đó, tác giả không chỉ nhận diện, miêu tả các biểu
hiện văn hóa có mặt trong văn chƣơng Vũ Bằng, mà còn tiến hành lý giải, cắt nghĩa
các biểu tƣợng ấy, đồng thời cho thấy ý nghĩa sự tồn tại đó trong TPVH. Nhƣ vậy,
nhà nghiên cứu thực sự đã làm nổi bật đƣợc văn hóa Hà Nội thông qua văn chƣơng
của Vũ Bằng, gợi ý những hƣớng khám phá văn hóa thông qua việc tiếp cận một
TPVH.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nhiều bài viết, luận văn tiếp cận TPVH từ góc
nhìn văn hóa theo mô típ: Sáng tác của + tên tác giả + dưới góc nhìn văn hóa càng
chứng tỏ sức hút và tiềm năng của hƣớng nghiên cứu này. Có thể kể đến nhƣ:
Nguyễn Phan Phƣơng Uyên với Truyện ngắn Trang Thế Hy dưới góc nhìn văn hóa,
Phạm Thị Thu Hƣơng với Truyện ngắn Trần Thùy Mai từ góc nhìn văn hóa, Nguyễn
Thị Mai Phƣơng với Truyện ngắn Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hóa,… Điểm
chung của các tài liệu này đó là tìm hiểu những biểu hiện văn hóa có mặt trong chùm
tác phẩm của một tác giả, phân tích và lý giải ý nghĩa của văn hóa đối với giá trị tác

khoảng trống nghiên cứu rất lớn.
Từng bƣớc thực hiện việc vận dụng các yếu tố văn hóa để dạy đọc – hiểu văn
bản, Nguyễn Thị Thành trong luận văn Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ vào
dạy học thơ Đường trong trường Trung học Cơ sở, và Nguyễn Quang Bình trong bài
15


viết Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ vào giảng dạy tác phẩm Người lái đò
sông Đà đều gặp nhau ở một điểm chung: dùng tri thức lịch sử – địa lý – văn hóa xã
hội ngoài văn bản để giúp HS tiếp cận dễ dàng và nắm bắt hiệu quả hơn một số yếu
tố thuộc văn bản. Tuy nhiên, đây chƣa thể đƣợc xem là dạy đọc – hiểu văn bản từ
góc độ văn hóa bởi quy mô và cách thức triển khai chƣa thật sự đậm màu sắc văn
hóa, mà chỉ dùng những biểu hiện rất nhỏ của văn hóa để phân tích bài học ở một số
nội dung.
Bên cạnh đó, khóa luận tốt nghiệp Giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
gắn với định hướng tiếp cận văn hóa của Trịnh Tự Mạnh Dũng (sinh viên khoa Ngữ
Văn, trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh) có điểm gần gũi và tƣơng
đồng với đề tài chúng tôi đang nghiên cứu. Tuy gặp gỡ nhau ở mục tiêu hƣớng đến,
nhƣng cách triển khai lại khác biệt. Khóa luận nói trên giảng dạy các văn bản thơ và
văn xuôi theo loại thể nhƣ thông thƣờng, và chỉ dùng các yếu tố văn hóa để bình
giảng, phân tích ở một vài điểm đáng lƣu ý. Nhƣ vậy, vẫn chƣa thấy nổi bật các yếu
tố văn hóa trong bản thân mỗi văn bản cũng nhƣ ý nghĩa tác động của nó đến cấu
trúc nội tại một văn bản văn học. Mặc dù vậy, khóa luận này cho thấy tiềm năng của
hƣớng tiếp cận văn bản từ văn hóa; chỉ rõ quan hệ giữa việc tiếp cận từ đặc trƣng
loại thể và tiếp cận từ góc độ văn hóa; những điều cần lƣu ý khi dùng văn hóa để tìm
hiểu văn học. Những điều đã làm đƣợc và còn tồn tại của khóa luận này là tiền đề cơ
sở giúp chúng tôi có thêm sự tham khảo và học hỏi trong quá trình thực hiện đề tài
của mình.
Tóm lại, để hiện thực hóa những thành tựu của việc nghiên cứu mối quan hệ
giữa văn học và văn hóa vào việc dạy đọc – hiểu văn bản văn xuôi từ góc độ văn hóa

hiện đại Việt Nam thuộc chƣơng trình Ngữ văn 12, tập 2 nhƣ: không gian, ngôn ngữ, hoạt
động sinh hoạt,… Ngoài ra, khóa luận còn chú ý tìm hiểu một số biểu hiện văn hóa ngoài

17


văn bản, nhƣ: bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội, thời đại văn học,… để có những phân tích, lý
giải sâu sắc và toàn diện.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là ba văn bản văn xuôi hiện đại Việt Nam trong
chƣơng trình Ngữ văn 12, tập 2. Cụ thể:
- Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài);
- Rừng xà nu (Nguyên Ngọc);
- Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi).
Cả ba văn bản đƣợc trích trong sách giáo khoa (SGK) mà HS đƣợc học đáp ứng đầy
đủ những yêu cầu tiên quyết của việc tiếp cận văn học từ văn hóa: đó là sự biểu hiện đậm
nét và sinh động đời sống văn hóa từ Bắc chí Nam trên dải đất hình chữ S, từ văn hóa Tây
Bắc, văn hóa Tây Nguyên cho đến văn hóa đồng bằng Nam Bộ. Những vùng văn hóa kể
trên đều còn là những vùng văn hóa hết sức đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Màu sắc văn
hóa vùng miền trong cả ba văn bản này đều có thể đƣợc tìm thấy dễ dàng và phân tích đƣợc
ý nghĩa của chúng đối với các yếu tố nghệ thuật của một văn bản văn học, trƣớc khi đi đến
tìm hiểu những biểu hiện khác của tổng thể văn hóa nói chung.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Khi tiến hành nghiên cứu lý luận, chúng tôi sử dụng những phƣơng pháp sau:
- Phương pháp hồi cứu tư liệu: phƣơng pháp này dùng để tập hợp các tài liệu
nghiên cứu về vấn đề đã có trƣớc đó, nhằm xác lập cơ sở và hƣớng đi cho đề tài.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: dựa trên những tài liệu đƣợc thu thập,
chúng tôi tiến hành việc đọc, phân tích tài liệu, nhằm xác định những thành tựu của
những tác giả cùng đề tài đi trƣớc, cũng nhƣ những hạn chế còn lại, từ đó tiến tới
tổng hợp các thông tin một cách hệ thống, tạo tiền đề cơ sở trong quá trình nghiên

19


Chƣơng 2: Thiết kế kế hoạch bài học các văn bản văn xuôi Việt Nam hiện đại
từ góc độ văn hóa. Chƣơng này dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã trình bày ở chƣơng
1, tiến hành đề xuất KHBH cho một số VBVX Việt Nam hiện đại trong chƣơng trình Ngữ
văn 12, tập 2.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. Chƣơng này sẽ trình bày mục tiêu, cách thức
thực nghiệm và kết quả thực nghiệm. Từ đó sẽ rút ra những kết luận và đề xuất cho vấn đề
nghiên cứu đã đặt ra.

20


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
1.1.1.1. Văn học
a. Khái niệm
Bàn về khái niệm văn học, các tác giả của giáo trình Lý luận văn học,
tập 1 (Trần Đình Sử chủ biên) đƣa ra ba cấp độ khái niệm dƣới đây.
Theo nghĩa rộng, văn học là thuật ngữ gọi chung mọi hành vi ngôn
ngữ nói, viết và các tác phẩm ngôn ngữ.
Theo nghĩa hẹp, văn học chỉ khái niệm văn học – nghệ thuật mà ta
quen dùng hiện nay, bao gồm các tác phẩm ngôn từ biểu hiện tình cảm và
sáng tác bằng hư cấu, tưởng tượng.
Theo nghĩa chiết trung, văn học chỉ những tác phẩm viết và nói không
dễ dàng xếp loại. Chẳng hạn: văn xuôi chư tử, sử truyện, tạp văn, phóng sự,

đƣợc cảnh sống tùng quẫn, bí bách của ngƣời dân cùng sự xuống cấp trầm
trọng của xã hội đƣơng thời. Nếu Don Quixote đƣa ta đến vùng đất Tây Ban
Nha với những câu chuyện phiêu lƣu nhuốm màu hiệp sĩ, thì Nghệ nhân và
Margarita cho ta thấy cuộc sống muôn màu muôn vẻ của thành thị Nga
những năm 20 – 30 của thế kỷ XX. Có thể thấy, văn học cung cấp cho bản
thân ngƣời đọc những hiểu biết mà không qua con đƣờng trải nghiệm. Tái
hiện cuộc sống, văn học còn đƣa vào đó đối tƣợng con ngƣời. Nói cách khác,
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status