BIỂU HIỆN CĂNG THẲNG CỦA PHỤ HUYNH VỀ VIỆC HỌC TẬP ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH LỚP 12 - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC

Nguyễn Phương Thảo Vy

BIỂU HIỆN CĂNG THẲNG CỦA PHỤ HUYNH
VỀ VIỆC HỌC TẬP ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA
HỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 5,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TPHCM – 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC

Nguyễn Phương Thảo Vy

BIỂU HIỆN CĂNG THẲNG CỦA PHỤ HUYNH
VỀ VIỆC HỌC TẬP ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA
HỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 5,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tâm lý học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Thạc sĩ Chung Vĩnh Cao


3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................. 3
4. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Giới hạn nghiên cứu ..................................................................................... 4
7. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ................................................ 4

CHƯƠNG 1 ...........................................................................................8
LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN CĂNG THẲNG (STRESS) CỦA
CHA MẸ HỌC SINH LỚP 12 VỀ VẤN ĐỀ HỌC TẬP ĐỊNH
HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CON ...............................................8
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề căng thẳng (stress) của cha mẹ học sinh
lớp 12 về việc học tập định hướng nghề nghiệp của con.................................... 8
1.1.1. Một số nghiên cứu về vấn đề căng thẳng ............................................ 8
1.1.2. Một số nghiên cứu về việc cha mẹ tham gia vào việc học tập định
hướng nghề nghiệp của con ........................................................................... 23
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài .............................................................. 28


1.2.1. Căng thẳng (stress) ............................................................................ 28
1.2.2. Hoạt động học tập định hướng nghề nghiệp của học sinh trung
học phổ thông ................................................................................................. 33
1.2.3. Đặc điểm cha mẹ học sinh lớp 12 ..................................................... 37
1.3. Các biểu hiện của căng thẳng (stress) ..................................................... 39
1.3.1. Biểu hiện căng thẳng (stress) ở mặt cơ thể ....................................... 44
1.3.2. Biểu hiện căng thẳng (stress) ở mặt tâm lý ....................................... 44
1.3.3. Biểu hiện căng thẳng (stress) của cha mẹ về việc học tập định
hướng nghề nghiệp của con ........................................................................... 48
1.3.4. Những yếu tố liên quan đến căng thẳng (stress) cha mẹ học sinh
lớp 12 đối với việc học tập định hướng nghề nghiệp của con ....................... 50


Bảng 2. 2: Cách đánh giá mức độ biểu hiện........................................................ 59
Bảng 2. 3: Mô tả khách thể nghiên cứu theo thông tin bản thân khách thể
(N=113) ................................................................................................................ 63
Bảng 2. 4: Mô tả khách thể nghiên cứu theo các thông tin khác (N=113) ......... 64
Bảng 2. 5: Mức độ biểu hiện căng thẳng (stress) của cha mẹ học sinh lớp 12
về việc học tập định hướng nghề nghiệp của con trên địa bàn quận 5 – thành
phố Hồ Chí Minh ................................................................................................. 66
Bảng 2. 6: So sánh mức độ biểu hiện căng thẳng chung trên các bình diện
giới tính, học vấn của khách thể, thu nhập trung bình hàng tháng của gia đình,
sự hiểu biết ngành nghề và mức độ quan tâm của cha mẹ dành cho việc học
tập định hướng nghề nghiệp của con, giới tính của con, học lực hiện tại và dự
định của con sau khi tốt nghiệp THPT ................................................................. 67
Bảng 2. 7: So sánh mức độ biểu hiện căng thẳng chung của cha mẹ ở phương
diện mức thu nhập ................................................................................................ 68
Bảng 2. 8: Tương quan giữa biểu hiện mặt cơ thể và biểu hiện mặt tâm lý ....... 69
Bảng 2. 9: Vấn đề gây căng thẳng (stress) cho cha mẹ học sinh lớp 12 về việc
học tập định hướng nghề nghiệp của con............................................................. 70
Bảng 2. 10: Biểu hiện căng thẳng (stress) của cha mẹ học sinh lớp 12 về việc
học tập định hướng nghề nghiệp của con trên địa bàn quận 5 – thành phố Hồ
Chí Minh ở mặt cơ thể ......................................................................................... 73


Bảng 2. 11: So sánh mức độ biểu hiện căng thẳng (stress) ở mặt cơ thể của
cha mẹ học sinh lớp 12 về việc học tập định hướng nghề nghiệp của con trên
địa bàn quận 5 – thành phố Hồ Chí Minh trên phương diện giới tính, trình độ
học vấn của cha mẹ và thu nhập hàng tháng của gia đình ................................... 75
Bảng 2. 12: So sánh mức độ biểu hiện căng thẳng (stress) ở mặt cơ thể trên
phương diện sự hiểu biết rõ nét về các ngành nghề và mức độ quan tâm của
cha mẹ đối với việc học tập định hướng nghề nghiệp của con ............................ 77
Bảng 2. 13: So sánh mức độ biểu hiện căng thẳng (stress) ở mặt cơ thể trên


Chữ viết tắt
ĐTB
HNK
KBG
LL
THPT
TPHCM
TT
TX

Chữ viết đầy đủ
Điểm trung bình
Hầu như không
Không bao giờ
Luôn luôn
Trung học phổ thông
Thành phố Hồ Chí Minh
Thỉnh thoảng
Thường xuyên


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Cuộc đời mỗi con người đều phải đưa ra những quyết định quan trọng.
Trong đó, những lựa chọn quạn trọng nhất bao gồm: Chọn lẽ sống, chọn
thầy để học, chọn việc để làm, chọn người để lấy và chọn bạn để chơi.

kỳ vọng của cha mẹ vào việc học tập của con cái đã bắt đầu ngay từ khi
đứa trẻ mới chuẩn bị đi học và nó kéo dài suốt quãng đường học tập của
con. Đặc biệt là ở học sinh khối 12, năm học mà con phải đối mặt với
những kì thi quan trọng, quyết định tương lai, chắc hẳn cha mẹ lại càng
quan tâm và kỳ vọng vào con, vào sự đầu tư suốt nhiều năm của mình.
Bên cạnh đó là sự thay đổi cách thức tuyển sinh trong một vài năm gần
đây, có thể sẽ làm gia tăng những căng thẳng của cha mẹ về việc học tập
định hướng nghề nghiệp của con.
Stress là một phần tất yếu không thể tránh khỏi trong cuộc sống của
mỗi người. Lứa tuổi nào cũng đều có những tác nhân gây stress. Nói
chung, stress xuất hiện ở mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh sống của con
người: stress trong gia đình, stress nơi công xưởng, stress giữa đường phố,
stress trong giao tiếp, stress trong học tập, stress vì công việc...[19].
Với sự phát triển của xã hội hiện đại, cuộc sống của con người có nhiều
thay đổi. Mỗi người không chỉ căng thẳng bởi vấn đề của bản thân mình
mà còn có cả vấn đề của gia đình, vấn đề con cái.
Học sinh lớp 12 phải đối mặt với những kì thi quan trọng. Bản thân các
em luôn gặp phải những khó khăn, căng thẳng. Cha mẹ là những người
luôn dõi theo, đặt kì vọng vào con, cũng như tạo điều kiện để con có thể
học tập tốt nhất chắc hẳn cũng sẽ gặp phải những căng thẳng nhất định.
Những căng thẳng này gây ra những ảnh hưởng đối với bản thân cha mẹ.

2


Mặt khác, những căng thẳng của cha mẹ có thể sẽ có những tác động đến
tâm lý của con. Mari-Geneviève Thomas cho rằng “cảm thấy một cách
thường xuyên về sự tràn bờ hay bị ức chế, phong tỏa bởi những cảm xúc
dai dẳng là dấu hiệu về việc các cảm xúc đó có thể là do bị chuyển giao
qua các thế hệ, có nghĩa là chúng thuộc về một thành viên khác của gia


3


4.

Giả thuyết nghiên cứu

Cha mẹ học sinh lớp 12 có gặp phải những căng thẳng (stress) về việc
học tập định hướng nghề nghiệp của con và căng thẳng này thể hiện trên
nhiều mặt.
Biểu hiện căng thẳng (stress) về việc học tập định hướng nghề nghiệp
của con có sự khác biệt giữa cha và mẹ, giữa mức độ quan tâm, nghề
nghiệp, trình độ học vấn của cha mẹ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá lý luận liên quan đến vấn đề biểu hiện căng thẳng của
phụ huynh việc học tập định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trên
địa bàn Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ ra biểu hiện, phân loại
mức độ và tiêu chí đánh giá vấn đề này.
- Xác định các biểu hiện căng thẳng của phụ huynh việc học tập định
hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trên địa bàn Quận 5, Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay, phân tích so sánh một số tiêu chí như: mức độ
quan tâm, nghề nghiệp, trình độ học vấn của cha mẹ…
6.

Giới hạn nghiên cứu

Nghiên cứu biểu hiện, mức độ căng thẳng (stress) của cha mẹ có con
là học sinh lớp 12 ở một số trường trên địa bàn Quận 5, thành phố Hồ
Chí Minh trên các mặt biểu hiện.

Hướng tiếp cận thực tiễn

Vận dụng hướng tiếp cận hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận
và tiếp cận đề tài như nhìn nhận căng thẳng của cha mẹ học sinh lớp 12
trong các mặt biểu hiện của đời sống.
Phương pháp nghiên cứu

7.2.

Việc phối hợp các phương pháp nghiên cứu phải đảm bảo các nguyên
tắc sau:
- Đảm bảo tính khách quan
- Các phương pháp cụ thể kết hợp thành hệ thống phương pháp có sự
hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo độ tin cậy về số liệu và các nhận xét, kết
luận từ số liệu nghiên cứu.
- Các phương pháp nghiên cứu phù hợp với đối tượng và khách thể
nghiên cứu.
7.2.1.


Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích nghiên cứu

5


Phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu như sách, tạp chí, các công
trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, các bài viết khoa học…
nhằm thu thập tất cả những thông tin có liên quan đến đề tài và khái quát
hóa, hệ thống hóa thành cơ sở lý luận để tiến hành định hướng cụ thể nội


Mô tả công cụ

6


Công cụ khảo sát được trình bày trên giấy in, trong đó gồm các nội
dung chính như sau:


Nguyên tắc thiết kế

- Đảm bảo giá trị về mặt nội dung
- Sử dụng các hình thức câu hỏi sao cho phù hợp với nội dung nghiên
cứu và phù hợp với đặc điểm của khách thể nghiên cứu.


Cách đánh giá kết quả

Sử dụng kết hợp thống kê mô tả và thống kê phân tích.
7.2.3.


Phương pháp thống kê toán học
Mục đích nghiên cứu

Xử lý tất cả các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát nhằm
làm cơ sở để biện luận kết quả nghiên cứu.



như là một vấn đề của cuộc sống hiện đại. Căng thẳng trong nhiều lĩnh vực
cuộc sống, căng thẳng do nhiều nguyên nhân và căng thẳng gây ra nhiều hậu
quả. Thế nhưng căng thẳng không chỉ là vấn đề của cuộc sống ngày nay. Từ
xưa, vấn đề căng thẳng đã được đặt ra và quan tâm nghiên cứu. Vấn đề căng
thẳng (stress) ở con người đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu
từ rất sớm, bắt đầu từ những nghiên cứu cơ thể con người thích ứng như thế
nào đối với các thay đổi ở bên ngoài, tức là khía cạnh sinh lý của căng thẳng.
Đại diện tiêu biểu cho các nghiên cứu loại này là Claude Bernard (1850),
ông cho rằng những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng
đến cơ thể, nếu cơ thể bù trừ và làm cân bằng những thay đổi đó, chính hệ
thần kinh đảm bảo chức năng điều tiết bằng cách sắp đặt và làm hài hoà hoạt
động các yếu tố của cơ thể và chỉ có con người mới có hệ thần kinh đủ khả
năng điều tiết làm cho cơ thể lấy lại cân bằng. Phát hiện của Claude Bernard
khai phá lịch sử nghiên cứu hiện đại về khả năng tự điều chỉnh để thích nghi
của cơ thể con người. Tiếp nối ý tưởng của các nhà nghiên cứu về stress đi
trước, nhà sinh lý học người Mỹ W.B. Cannon với tác phẩm nổi tiếng "Sự

8


khôn ngoan của cơ thể" xuất bản tại New York năm 1933 đã đề xuất thuật
ngữ "Homeostasie” nghĩa là "Cân bằng nội môi" để mô tả những trạng thái
phức hợp cân bằng sinh lý mà ông nhận thấy chủ yếu khi thay đổi nồng độ
các chất có trong máu như: nước, natri, đường, đạm, mỡ. v.v... Trên cơ sở sự
điều tiết của hệ thần kinh thực vật và lõi thượng thận (catecholamin gồm hai
chất adrenalin do lõi thượng thận và noadrenalin do thần kinh thực vật tiết
ra), phản ứng này là cấp thời. I. P. Pavlov (1932) cũng đã nêu ra đặc tính
chung của khái niệm này: "...Cơ thể là một hệ thống (đúng hơn là cái thấy) tự
điều chỉnh, là một hệ thống tự điều chỉnh bản thân ở mức cao nhất, hệ thống
ấy tự duy trì bản thân, tự hiệu chỉnh bản thân, tự cân bằng bản thân và thậm

rằng; khả năng làm việc giảm đi khi stress xuất hiện, sự giảm sút này ở những
người có hệ thần kinh yếu xảy ra sớm hơn những người có hệ thần kinh mạnh.
Khả năng làm việc khi bị stress không chỉ phụ thuộc vào độ mạnh của hệ thần
kinh mà còn vào một số các yếu tố khác. Những người có hệ thần kinh mạnh
có thể dễ bị stress hơn đối với tác nhân là đơn điệu và kéo dài. Những người
có hệ thần kinh yếu ít bị stress hơn đối với các tác nhân đơn điệu. Điều này
cho thấy; sự khác biệt về stress ở cá nhân không chỉ phụ thuộc vào tình
huống, tác nhân tác động, mà còn phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của hệ
thần kinh.
Các nhà sinh lý học thường chỉ tập trung mô tả các phản ứng sinh lý trước
các tác động vào chủ thể, mà không nhận thấy tầm quan trọng của những đặc
điểm tâm lý và hành vi trong các phản ứng sinh học của cơ thể. Sự xuất hiện
của các phản ứng chống trả hoặc bỏ chạy phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức
của chủ thể đối với kích thích (có hại hay không có hại). Mason (1975) cho
rằng; khi các tác nhân có hại tác động vào cơ thể mà chủ thể không nhận thức
được, thì các đáp ứng sinh học của cơ thể sẽ không xảy ra. Ví dụ, những bệnh
nhân sắp chết (đang trong tình trạng hôn mê) thì không có một bằng chứng
10


sinh học nào của stress; trong khi đó những người sắp chết nhưng còn tỉnh táo
thì lại có những phản ứng sinh học rất rõ [33].
Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng; cách thức đối phó của chủ thể đối
với những tình huống nguy hiểm, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các phản ứng sinh
lý đối với tình huống đó. Weiss (1968) đã khẳng định rằng, sự kiện nguy
hiểm sẽ ít gây ra hậu quả hơn, nếu chủ thể biết được khi nào nó sẽ xảy ra và
sẵn sàng hành động đối phó với nó, đồng thời nhận được phản hồi về hiệu quả
của hành động [32]. Tác giả đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nhận thức
và sự kiểm soát của chủ thể đối với những phản ứng sinh học xảy ra do các
kích thích từ bên ngoài.

(1967) nghiên cứu căng thẳng trên quan điểm môi trường, và đã chỉ ra những
sự kiện gây căng thẳng như: ly hôn, kết hôn, sinh con, mắc nợ, lễ giáng sinh.
Mỗi sự kiện trên được xem như là những yếu tố gây căng thẳng và đòi hỏi cơ
thể thích ứng. Nhiều nghiên cứu đã sử dụng công cụ SRE (danh sách các sự
kiện mới nhất) của Holme và Rahe để đánh giá quan hệ giữa căng thẳng và
sức khoẻ. Những nghiên cứu này có thể giải thích căng thẳng trong thời điểm
hiện tại và chẩn đoán xu hướng của nó trong tương lai. Rabkin và Struening
(1976) nghiên cứu trên các bệnh nhân đột tử do bệnh tim đã làm rõ tương
quan giữa số lượng với mức độ tác động của các yếu tố gây căng thẳng đối
với căn bệnh này [37]. Quan niệm stress như sự kiện từ môi t

12


rường cũng bị các lý thuyết, quan điểm khác phê phán. Một số nhà nghiên
cứu cho rằng; các sự kiện không gây căng thẳng giống nhau ở các cá nhân
khác nhau. Mức độ căng thẳng phụ thuộc vào ý nghĩa của sự kiện và những
tiềm năng sẵn có ở mỗi cá nhân trong việc ứng phó với căng thẳng. Lazarus,
Homikos và Rankin đã cho rằng quan niệm căng thẳng như một sự kiện từ
môi trường là chưa hoàn chỉnh và nhấn mạnh; nhận thức sự kiện đóng vai trò
trung tâm đối với căng thẳng [26]. Một số nhà nghiên cứu khác như Sarason,
Johnson, Siegel (1978) đã dựa thêm vào cách tiếp cận này với yêu cầu chủ thể
đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự kiện đang trải nghiệm (tích cực hoặc tiêu
cực). Thông qua kết quả đánh giá này có thể nghiên cứu được nhận thức và
khả năng ứng phó của chủ thể trước sự kiện gây ra căng thẳng.
Như vậy, quan điểm sinh học và môi trường đều giống nhau ở chỗ; dựa vào
mô hình kích thích–phản ứng (Stimulus–Response). Các quan điểm này đã
không đề cập đến những yếu tố trung gian điều hoà tương tác giữa sự
kiện (tác nhân) từ môi trường và các phản ứng sinh học bên trong [7].
Một bình diện khác của các nghiên cứu về căng thẳng mà tác giả rất quan

Lazarus tiếp cận stress về mặt nhận thức - hành vi, định nghĩa căng thẳng
như một quá trình tương giao giữa con người và môi trường, trong đó đương
sự nhận định sự kiện từ môi trường là có tính chất đe dọa và có hại, và đòi
hỏi đương sự phải cố gắng sử dụng các tiềm năng thích ứng của
mình (Lazarus, 1966; Lazarus, Folkman, 1984). căng thẳng không chỉ trú ngụ
trong sự kiện hoặc trong đáp ứng của đương sự, mà tồn tại trong cả hai yếu tố
đó, cũng như trong các đáp ứng nhận thức – hành vi giữ vai trò điều hòa hai
yếu tố đó. Cách nhìn này rõ ràng nhấn mạnh vào khía cạnh nhận thức – hành
vi (thuộc về tâm lý) trong việc hiểu biết về stress, vì thế, nó đã bù đắp vào
14


những thiếu sót của các mô hình căng thẳng “sinh học” và căng thẳng “môi
trường” [40].
Từ những năm 1990 trở lại đây, các công trình nghiên cứu về căng
thẳng trong lao động rất phát triển ở một số nước châu Âu (Anh, Pháp...).
Các nghiên cứu này đã mô tả những phản ứng sinh lý, tâm lý và khả năng ứng
phó của người lao động khi rơi vào trạng thái căng thẳng, đánh giá mối quan
hệ giữa các loại hình công việc với mức độ căng thẳng, nghiên cứu hậu quả
của căng thẳng đối với doanh nghiệp và đưa ra các chiến lược, biện pháp dự
phòng.
Vấn đề căng thẳng trong học tập của sinh viên các trường học nước
ngoài cũng được các nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu
này đã làm rõ thực trạng căng thẳng, các tác nhân gây căng thẳng đồng thời
đưa ra giải pháp ứng phó với căng thẳng, giúp sinh viên có thể học tập được
tốt hơn. Kết quả của các công trình nghiên cứu này đã là cơ sở cho các trường
đại học xây dựng chương trình can thiệp, hỗ trợ phòng tránh căng thẳng trong
học tập.
Vấn đề căng thẳng trong học tập của sinh viên cũng đã trở thành chủ đề
nóng bỏng trong hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học trên thế

quan hệ, hoặc rối loạn sử dụng chất gây nghiện (Patnaik, 2014) [34].
1.1.1.2. Một số nghiên cứu về vấn đề căng thẳng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, từ những năm nửa cuối thế kỷ XX, giới nghiên cứu ở Việt
nam bắt đầu quan tâm nhiên cứu về căng thẳng.
Người đầu tiên nghiên cứu căng thẳng dưới học độ sinh lý và y học là nhà
khoa học Tô Như Khuê với công trình nghiên cứu “Phòng chống trạng thái
căng thẳng (stress) trong đời sống và lao động”, Hậu Cần xuất bản, tháng

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status