1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hơn 30 năm kể từ khi em bé đầu tiên ra đời từ thụ tinh trong ống nghiệm
(TTTON), ngành hỗ trợ sinh sản đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng kể nhằm
nâng cao khả năng được làm mẹ của các bệnh nhân vô sinh. Kích thích buồng
trứng (KTBT) đã trở thành thường quy nhằm tạo được nhiều noãn, nhiều phôi,
tăng cơ hội có phôi chuyển cho bệnh nhân, từ đó tăng tỷ lệ thành công của
TTTON. Do vậy khả năng có phôi dư sau chuyển phôi và quá kích buồng trứng
thường hay xảy ra. Trên cơ sở đó, kỹ thuật trữ lạnh phôi ra đời và trở thành một
bộ phận không thể thiếu trong điều trị vô sinh bằng TTTON. Thành công của
kỹ thuật trữ lạnh phôi làm tăng tỷ lệ có thai cộng dồn sau chuyển phôi tươi và
chuyển phôi đông lạnh, giảm nguy cơ quá kích buồng trứng nặng và góp phần
không nhỏ trong việc giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân.
Trữ lạnh phôi là một kỹ thuật bảo quản các phôi ở nguyên hiện trạng ban
đầu trong một thời gian dài. Điều này có thể đạt được bằng cách lưu giữ phôi
ở nhiệt độ của nitơ lỏng (-1960C), làm ngưng các phản ứng enzyme nội bào,
hô hấp, chuyển hóa…, giúp chúng vẫn tiếp tục phát triển bình thường sau 1
thời gian dài đông lạnh .
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới thành công của chu kỳ chuyển phôi
đông lạnh như tuổi của mẹ, chất lượng niêm mạc tử cung và chất lượng
phôi sau rã đông… Trong đó chất lượng phôi sau rã đông phụ thuộc vào kỹ
thuật trữ lạnh và thời điểm trữ lạnh của phôi. Kỹ thuật trữ lạnh phôi gồm ba
phương pháp là trữ lạnh chậm (slow freezing), trữ lạnh nhanh (fast cooling)
và trữ lạnh cực nhanh – thủy tinh hóa (vitrification). Các kỹ thuật này có
thể áp dụng trữ lạnh phôi ở các giai đoạn khác nhau như: giai đoạn phôi
tiền nhân, phôi phân chia giai đoạn sớm (phôi ngày 2, phôi ngày 3) hay ở
giai đoạn phôi nang. Tuy nhiên, nếu sự ra đời của kỹ thuật đông phôi thủy
2
gian điều tra. Theo một thống kê thì nguyên nhân vô sinh do nữ chiếm 40%, vô
sinh do nam chiếm 40%, vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm 20% .
Ở Việt Nam, điều tra tại Viện bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh từ 19931997 trên 1000 trường hợp vô sinh, tỷ lệ vô sinh nữ chiếm 54%, vô sinh do
nam chiếm 36% và vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm 10%. Các nguyên
nhân vô sinh do nữ bao gồm nguyên nhân do vòi tử cung chiếm 35%, do
rối loạn phóng noãn chiếm 35%, do lạc nội mạc tử cung chiếm 20%, không
rõ nguyên nhân chiếm 10% . Các nguyên nhân vô sinh do nam bao gồm
nguyên nhân bất thường về tinh dịch đồ (26,4%), giãn tĩnh mạch thừng tinh
(12,3%), do suy tinh hoàn (9,4%), do tắc ống dẫn tinh (6,1%) và các
nguyên nhân khác như các yếu tố bẩm sinh, mắc phải, miễn dịch, rối loạn
cương, không xuất tinh .
Có nhiều phương pháp điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân gây vô sinh.
Năm 1976, John Hunter thực hiện thành công trường hợp thụ tinh nhân tạo
đầu tiên. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ 20, các phương pháp đánh giá chức năng
và cấu trúc vòi trứng mới trở nên hoàn thiện mở đường cho kỹ thuật nội soi
phát triển. Cũng vào cuối thế kỷ 20, các tiến bộ trong lĩnh vực nội tiết sinh
sản và nam khoa đã hỗ trợ tích cực trong việc chẩn đoán và điều trị vô sinh.
4
Sự ra đời của em bé đầu tiên từ TTTON Louise Brown năm 1978 đã mở ra
một trang sử mới cho sự phát triển của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
1.2. THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
1.2.1. Khái niệm
Kỹ thuật TTTON là lấy noãn của người phụ nữ qua chọc hút kết hợp với
tinh trùng đã được chuẩn bị trong ống nghiệm, sau đó phôi hình thành sẽ được
chuyển trở lại trong buồng tử cung người mẹ. Quá trình phát triển của phôi
thai sẽ diễn ra bình thường trong tử cung người mẹ. TTTON chiếm 50% các
phải là khái niệm mang tính tuyệt đối vì các nguyên nhân vô sinh có thể được
phát hiện muộn trong những lần thăm khám sau và trong quá trình điều trị.
Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương chỉ định TTTON do vô sinh không rõ
nguyên nhân là 5,8% [6].
1.2.2.6. Vô sinh do miễn dịch
Các yếu tố miễn dịch gần như ảnh hưởng đến mọi bước trong quá trình
sinh sản do quá trình phá hủy các giao tử bởi kháng thể kháng tinh trùng hay
ngăn cản sự phân chia và phát triển sớm của phôi. Bơm tinh trùng lọc rửa vào
buồng tử cung hoặc TTTON có thể được chỉ định trong trường hợp này [6].
1.2.2.7. Thụ tinh nhân tạo thất bại
TTTON thường được chỉ định sau 3 - 6 chu kỳ thụ tinh nhân tạo thất bại.
Tuy nhiên chỉ định còn phụ thuộc vào các yếu tố khác, như người bệnh tuổi cao
thì có thể chỉ định sớm hơn. Theo J.Mck Tabot và M.Lawrence, tỷ lệ thành công
của kỹ thuật TTTON cao gấp 3 lần kết quả thụ tinh nhân tạo . Do đó TTTON
hiện nay được chỉ định ngày càng rộng rãi hơn.
1.2.2.8. Hiến noãn và hiến phôi (Donation of eggs and embryos).
6
Trong hiến noãn: đứa con sẽ là kết quả của tinh trùng chồng, noãn của
người hiến và môi trường tử cung của người vợ khi có thai và khi đẻ.
Hiến phôi là đặt phôi hình thành từ noãn và tinh trùng của một cặp vợ
chồng khác vào buồng tử cung của người xin phôi.
1.2.2.8. Mang thai hộ
Mang thai hộ được chỉ định cho những trường hợp không có tử cung hay
tử cung không có khả năng mang thai mà buồng trứng vẫn còn chức năng.
TTTON được thực hiện từ trứng của người vợ và tinh trùng của người chồng.
Người mang thai hộ sẽ được chuyển phôi, mang thai và đẻ. Ở Việt Nam,
giao tử và phôi trữ lạnh bao gồm: loài, giai đoạn phát triển, loại chất bảo vệ
đông lạnh và phương pháp đông lạnh .
1.3.1. Nguyên tắc trữ lạnh
1.3.1.1. Giảm độ hòa tan của các khí trong môi trường
Yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc gây tổn thương tế bào qua
việc tạo ra những bong bóng khí khổng lồ. Những bọt khí này thường có kích
thước từ 25-100µm. Trong suốt quá trình rã đông, số lượng bọt khí tăng lên
nhanh chóng trong vài phút, phình to lên thành không bào bên trong tế bào
khiến tế bào trương phồng lên gây tổn thương các tổ chức nội bào, cũng như
màng trong suốt, từ đó có thể làm vỡ các phôi bào hoặc noãn. Hiện nay người
ta sử dụng môi trường trữ lạnh có hệ đệm PBS (phosphate buffer salt) để khắc
phục hiện tượng này.
1.3.1.2. Sự hình thành các tinh thể nước đá
Khi nước được làm lạnh dưới điểm đông (freezing point), nó sẽ đông
đặc lại trong một cấu trúc tinh thể gọi là đá (ice), tạo điều kiện cho sự tồn tại
đồng thời hai pha trong cùng một dung dịch, một là pha rắn của tinh thể đá,
hai là pha dung dịch gồm các muối và các chất hòa tan. Trong môi trường
đẳng trương (áp suất thẩm thấu khoảng 300 mosmol/kg), việc hình thành các
tinh thể đá diễn ra ở - 5 oC đến -15oC, tuy nhiên sự hình thành tinh thể đá chỉ
liên tục khi nhiệt độ khoảng -10 0C. Khi nhiệt độ xuống dưới -130 oC thì
không còn dung dịch nước nữa mà chỉ tồn tại ở dạng kết tinh (crystalisation)
và sự thủy tinh hóa (vitrification). Khi đá chiếm một thể tích lớn hơn nước ở
8
trạng thái lỏng, nó sẽ gây ra một sức ép và lực xuyên thủng các cơ quan nội
bào dẫn đến tổn thương tế bào. Trong quá trình đông lạnh, có hiện tượng
nước di chuyển ra khỏi tế bào và hình thành đá trong khoang ngoại bào.
Nhiều đá ngoại bào gây ra sự phá hủy cơ học, gây tổn thương màng tế bào
vào các chất hòa tan trong dung dịch. Trong dung dịch NaCl, hiện tượng thủy
tinh hóa xảy ra ở nhiệt độ -20 oC đến -30oC. Nhiệt độ này gọi là điểm Eutecti.
Vì vậy trước khi đạt đến điểm này, NaCl vẫn ở trạng thái dung dịch. Tuy
nhiên, số lượng phân tử nước có mặt ở dạng dung dịch giảm xuống cùng với
nhiệt độ. Kết quả trực tiếp là giảm áp suất thẩm thấu của môi trường: môi
trường trở nên ưu trương. Ngay trước khi đạt đến điểm Eutecti, nồng độ NaCl
khoảng 5M, ở điểm đông nó chỉ còn 0,16M (đẳng trương). Như vậy, khi bảo
quản đông lạnh trong môi trường đẳng trương, tế bào sẽ mất nước và giảm thể
tích do sự hình thành tinh thể đá ngoại bào làm tăng áp suất thẩm thấu của
môi trường .
1.3.2. Các đối tượng trữ lạnh
1.3.2.1. Trữ lạnh tinh trùng
Kỹ thuật này đã được các nhà khoa học biết đến ngay từ những năm
cuối của thế kỷ 18. Tuy nhiên, đến năm 1953, đứa bé đầu tiên ra đời từ sự thụ
tinh giữa trứng và tinh trùng sau trữ lạnh mới được ghi nhận. Trữ lạnh tinh
trùng là một kỹ thuật đơn giản hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt nam, hệ
thống ngân hàng tinh trùng và việc sử dụng tinh trùng trữ lạnh trong HTSS đã
trở thành các kỹ thuật điều trị thường quy .
1.3.2.2. Trữ lạnh noãn
Xét về tính chất, so với trữ phôi thì trữ noãn giúp hạn chế được những
rắc rối pháp lý về quyền sở hữu phôi. Hiện nay việc bảo quản khả năng sinh
sản ngày càng được quan tâm do tuổi sinh đẻ ngày càng muộn cũng như giúp
10
các bệnh nhân ung thư còn có cơ hội được làm mẹ, vì vậy tối ưu hóa kỹ thuật
trữ lạnh noãn ngày càng được quan tâm và nghiên cứu. Tuy nhiên, xét về kỹ
thuật, mặc dù trữ noãn động vật cũng như noãn người đã được thực hiện
thành công nhưng hiệu quả của kỹ thuật này vẫn còn rất thấp. Vào thời điểm
- Bệnh nhân có nguy cơ bị hội chứng quá kích buồng trứng nặng.
- Niêm mạc tử cung không thuận lợi để chuyển phôi: nghi ngờ polyp
buồng tử cung, nhân xơ tử cung dưới niêm mạc, niêm mạc quá mỏng hoặc bị
dính buồng tử cung, chu kỳ xin – cho noãn không hợp nhất được vòng kinh…
- Không chuyển phôi đúng thời điểm do các lý do cá nhân hoặc các bệnh
lý toàn thân như ung thư, điều trị hóa chất, tia xạ, xuất huyết nội ….
- Chuyển phôi khó do catheter không qua được cổ tử cung.
- Hiến phôi, mang thai hộ.
1.4.3. Điều kiện của phôi để được trữ lạnh
Phôi được chọn phải có chất lượng tốt, có khả năng sống sót cao và tiếp
tục phát triển tốt sau khi được rã đông.
- Phôi có thể đông ở các giai đoạn khác nhau. Ở mỗi giai đoạn có các
tiêu chuẩn khác nhau để phôi được trữ lạnh, các tiêu chuẩn này lại phụ thuộc
vào mỗi trung tâm hỗ trợ sinh sản khác nhau.
1.4.4. Đánh giá hiệu quả trữ lạnh phôi
Hiệu quả của việc trữ lạnh phôi được đánh giá qua 3 cấp độ:
- Cấp độ 1: là khả năng sống của phôi sau khi rã đông. Phôi được đánh giá
về hình dạng 1 giờ sau khi rã đông, thể hiện ở chỉ số sống (survival index).
- Cấp độ 2: là khả năng phát triển của phôi trong môi trường nuôi cấy,
đánh giá phôi sau 24 giờ, biểu hiện bằng tỷ lệ sống (survival rate).
- Cấp độ 3: cũng là cấp độ quan trọng nhất, là khả năng phát triển của phôi
sau khi được chuyển vào tử cung người mẹ, thể hiện bằng tỷ lệ phôi làm tổ.
12
1.4.5. Các giai đoạn của phôi được trữ lạnh
Phôi người có thể được trữ lạnh ở các giai đoạn phát triển khác nhau:
giai đoạn tiền nhân (zygote - pronuclear), giai đoạn phân chia sớm và giai
đoạn phôi nang (blastocyte).
tiên thường quan sát thấy tại thời điểm 23 - 26 giờ sau khi thụ tinh.
Phôi ngày 2: Vào ngày thứ 2, các phôi ở giai đoạn 4 tế bào (khoảng
45 giờ sau khi thụ tinh).
Phôi ngày 3: Vào ngày thứ 3, các phôi ở giai đoạn 8 tế bào (khoảng
54,3 - 72 giờ sau khi thụ tinh).
a: Phôi 2PN
b: Phôi 2 tế bào
c: Phôi ngày 2
d: Phôi ngày 3
Hình 1.1. Các giai đoạn phân chia của phôi
Bắt đầu từ ngày thứ 3 sau khi thụ tinh, nguyên sinh chất của phôi trở
nên có hạt và các lõm nhỏ xuất hiện. Có một sự tăng cường kết dính phôi bào
để sau đó đi vào giai đoạn nén. Sự nén ở phôi người có thể nhìn thấy ở trạng
thái 8 tế bào, rất hiếm khi phôi người phân chia đến 16 - 32 tế bào trước khi
nén .
Phôi ngày 4: Vào ngày thứ 4 sau khi thụ tinh, sau hiện tượng nén xảy
ra vào cuối ngày 3, các phôi bào liên kết chặt chẽ đã được nén lại với các
đường viền tế bào mờ đi, quan sát dưới kính hiển vi giống quả dâu nên gọi là
phôi dâu (morula) với 30 - 32 tế bào. Phôi đã có sự phân cực từ các tế bào bên
trong liên kết với nhau tạo thành các nguyên bào phôi (embryoblast) và các tế
phần của Na+, nước sẽ di chuyển ra ngoài khoảng gian bào. Khoang chứa dịch
tăng nhanh về thể tích hình thành một khoang rộng trong phôi gọi là khoang
phôi nang (blastocyst cavity). Sự hình thành phôi nang invitro xảy ra giữa ngày
thứ 5 và ngày thứ 7 sau khi thụ tinh, khi đạt được ở trạng thái khoảng 60 tế bào.
Sự nở rộng của phôi nang gây nên sự mỏng dần của lớp màng trong suốt cho
15
đến khi nó vỡ và phôi nang bắt đầu thoát ra ngoài, gọi là thoát màng. Hiện
tượng phôi thoát màng xảy ra vào ngày thứ 6 hay thứ 7, để bắt đầu giai đoạn
bám vào nội mạc tử cung. Những phôi không thể thoát màng thường bị thoái
hóa ở ngày thứ 8 đến ngày thứ 9 .
a: phôi dâu (ngày 4) b: phôi nang (ngày 5)
Hình 1.2. Phôi dâu (Morula) và phôi nang (Blastocyte).
1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÔNG LẠNH PHÔI
Hiện nay, kỹ thuật trữ lạnh có thể được chia thành ba nhóm chính: hạ
nhiệt độ chậm, hạ nhiệt độ nhanh và hạ nhiệt độ cực nhanh hay thủy tinh
hóa.
1.5.1. Phương pháp hạ nhiệt độ chậm (slow-freezing)
Phương pháp hạ nhiệt độ chậm với chất bảo quản đông lạnh là PROH,
với môi trường cơ bản là môi trường đệm phosphate (PBS) hoặc môi trường
cấy phôi có bổ sung thêm 20% huyết thanh ngày càng ít được sử dụng. Trước
khi làm lạnh, phôi được cho tiếp xúc với môi trường có chất bảo quản để rút
bớt nước ra khỏi tế bào. Nồng độ PROH và sucrose trong từng môi trường là:
giai đoạn làm lạnh 1(15 phút): 1,5M PROH và giai đoạn làm lạnh 2 (5 phút):
1,5M PROH + 0,1M sucrose. Sau đó phôi được cho vào các ống trữ có thể tích
khoảng 0,25ml và trữ theo chương trình.
Với phác đồ này, quá trình mất nước cần được diễn ra từ từ để hạn chế
thể nước đá trong phôi, chất bảo quản lạnh được thêm vào để thay thế hầu hết
nước có trong phôi, qua đó ngăn ngừa hình thành tinh thể nước đá nên phôi sẽ
17
được an toàn trong quá trình trữ lạnh. Khi phôi được rã đông, chất bảo quản
lạnh sẽ được loại bỏ khỏi tế bào phôi để thay thế bằng nước.
Phương pháp thủy tinh hóa bao gồm sử dụng nồng độ chất bảo quản
đông lạnh cao (5 - 7M) và tốc độ làm lạnh cực nhanh (2000 - 2500°C/phút).
Tế bào bị khử nước nhờ tiếp xúc với nồng độ chất bảo quản đông lạnh cao. Sự
chuyển sang trạng thái thủy tinh xảy ra ở khoảng -130 oC nhưng dao động phụ
thuộc vào thành phần trong dung dịch thủy tinh hóa.
Trong quá trình thủy tinh hóa, thời gian tiếp xúc với dung dịch bảo quản
của mẫu phải ngắn do ảnh hưởng độc tính của dung dịch bảo quản có nồng độ
cao. Tuy nhiên, nếu thời gian tiếp xúc quá ngắn, các chất bảo quản chưa thấm
vào đủ và tinh thể nội bào có thể hình thành, thậm chí còn có cả tinh thể đá
ngoại bào. Cách để ngăn ngừa độc tính của chất bảo quản trong quá trình thủy
tinh hóa là sử dụng nồng độ chất bảo quản cao trong thời gian ngắn hoặc tăng
thời gian cân bằng với dung dịch bảo quản có nồng độ thấp hơn.
Năm 1937, Luyet là người đầu tiên đã mô tả đông lạnh mô bằng
phương pháp thủy tinh hóa. Người ta có thể nhận thấy rằng phương pháp
thủy tinh hóa tỏ ra có nhiều ưu thế hơn so với phương pháp đông lạnh
chậm: ngoài ưu điểm tiết kiệm về thời gian, giảm bớt chi phí cho một
trường hợp đông lạnh trứng hoặc phôi, khả năng sống sau rã đông khi được
đông lạnh bằng kỹ thuật thủy tinh hóa cao hơn rất nhiều so với kỹ thuật
đông lạnh chậm .
Nghiên cứu tổng quan năm 2008 đã chỉ ra rằng phương pháp thủy tinh
hóa cho tỷ lệ sống sót sau rã đông cao hơn có ý nghĩa thống kê so với phương
pháp hạ nhiệt độ chậm, tuy nhiên tỷ lệ làm tổ thì không có sự khác biệt giữa
bảo chất lượng, quyết định thời điểm chuyển phôi thích hợp với cửa sổ làm tổ
của phôi, tạo điều kiện tối ưu cho phôi sau rã đông làm tổ trong nội mạc tử
cung.
Các phương pháp chuẩn bị niêm mạc tử cung
19
1.6.1.1. Với BN bị suy chức năng buồng trứng: do cơ thể không tự sản sinh ra
estrogen và progesterone, BN bắt buộc phải sử dụng hormone estrogen và
progesterone ngoại sinh. Hiện nay, có rất nhiều phác đồ sử dụng hormone
estrogen và progesterone ngoại sinh với các đường dùng, liều dùng và biệt
dược khác nhau, tùy theo quan điểm của từng tác giả.
- Các đường dùng Estrogen: đường uống Progynova (Schering), Valiera
(Relacine S), đường dán (Estraderm)…..
- Ưu điểm: chủ động được thời gian chuyển phôi, tác động trực tiếp lên
NMTC, có thể thực hiện trên tất cả các đối tượng bệnh nhân. Khuyết điểm: thời
gian sử dụng nội tiết hỗ trợ thai kỳ dài hơn, tác dụng phụ estrogen ngoại sinh.
1.6.1.2. Với BN còn chức năng buồng trứng: BN có thể chuẩn bị NMTC bằng
estrogen và progesterone nội hoặc ngoại sinh.
Sử dụng estrogen và progesterone ngoại sinh: như đã trình bày ở trên.
Theo dõi chu kỳ tự nhiên: Với phác đồ này sự phát triển của độ dày
NMTC và cửa sổ làm tổ của phôi liên quan trực tiếp tới các hormone sản
phẩm của buồng trứng và thời điểm rụng trứng. Vì vậy cần kiểm soát chặt chẽ
nồng độ estradiol và LH vào giai đoạn nang noãn sớm và mỗi ngày vào giai
đoạn chuẩn bị phóng noãn .
- Ưu điểm: Đơn giản, không tốn kém. Thời gian sử dụng nội tiết hỗ trợ
thai kỳ ngắn hoặc không cần. Khuyết điểm: khó khăn trong việc theo dõi LH
nội sinh, không thích hợp với bệnh nhân rối loạn phóng noãn, không chủ động
thời gian chuyển phôi.
qua môi trường rã đông với nồng độ giảm dần, cuối cùng là môi trường đệm
để chất bảo vệ từ từ thoát khỏi tế bào. Sau khi rã đông phôi được cho vào môi
trường nuôi cấy, có thể nuôi cấy tiếp 1 - 2 giờ hoặc nuôi cấy qua đêm để đánh
giá khả năng phát triển tiếp của phôi rồi tiến hành chuyển phôi.
1.6.3. Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng (Hatching Assisted).
21
Hiện tượng phôi thoát màng thường xảy ra vào ngày thứ 5 hay 6, lúc này
phôi đã di chuyển vào buồng tử cung. Ở người hiện tượng này xảy ra tại một
vùng trên bề mặt của phôi nang. Phôi dần dần thoát ra khỏi màng trong suốt
bằng cách lồi qua một lỗ nhỏ. Hiện tượng thoát màng hoàn toàn là lúc phôi
chui ra khỏi màng trong suốt, thường xảy ra vào ngày thứ 6 hay ngày 7.
Hình 1.3. Phôi thoát khỏi màng bao xung quanh
Trong một số trường hợp phôi nang có thể gặp trở ngại trong vấn đề giãn
nở hay chỉ giãn rộng ở một vài chỗ hoặc không thể giãn nở hoàn toàn để thoát
khỏi màng trong suốt, cuối cùng nang xẹp xuống và thoái hóa, dẫn tới thất bại
làm tổ của phôi. Phôi thất bại làm tổ là một trong những nguyên nhân thất bại
của thụ tinh trong ống nghiệm. Từ đó kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng ra đời
nhằm hỗ trợ cho phôi thoát khỏi màng trong suốt để làm tổ trong tử cung
người mẹ. Hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted hatching) đã được thực hiện từ
những năm đầu của thập niên 90 bằng cách làm mỏng hoặc tạo một lỗ thoát
trên màng của phôi nhằm cải thiện tỉ lệ có thai và tỉ lệ làm tổ của phôi. Có 4
cách để hỗ trợ phôi thoát màng: phương pháp cơ học, phương pháp hóa học
(acid Tyrode), phương pháp sinh hóa (men thủy phân protein) và phương
pháp laser. Ngày nay các nhà phôi học thường áp dụng kỹ thuật hỗ trợ phôi
thoát màng cho một số trường hợp nhất định mà tỉ lệ làm tổ và tỷ lệ có thai có
thể cải thiện rõ rệt, như:
1.7. YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KẾT QUẢ CHUYỂN PHÔI
ĐÔNG LẠNH
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ thành
công của chu kỳ chuyển phôi đông lạnh , , , , .
1.7.1. Tuổi mẹ
Có thể nói tuổi là một yếu tố quan trọng nhất để tiên lượng về khả năng
sinh sản của người phụ nữ. Tuổi thể hiện một phần chức năng hoạt động của
buồng trứng. Tuổi có thai thích hợp nhất cho người phụ nữ về mặt sinh học là
khoảng 20 - 30 tuổi. Trên 30 tuổi khả năng bắt đầu giảm. Từ 35 tuổi, khả năng
có thai giảm rất nhanh, kèm theo là tăng tỷ lệ tai biến trong khi mang thai và
sinh nở, cũng như tăng tỷ lệ dị tật sơ sinh . Tuổi mẹ lúc được chọc hút trứng
trong chu kỳ thụ tinh ống nghiệm và tuổi mẹ khi được rã đông chuyển phôi
trữ lạnh đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của chu kỳ chuyển phôi đông
lạnh.
• Khi nghiên cứu 103 chu kỳ chuyển phôi đông lạnh, Damario (2000)
nhận thấy có sự sụt giảm tỷ lệ sinh sống liên quan đến sự gia tăng tuổi mẹ.
23
Trong các chu kỳ chuyển phôi tươi và chuyển phôi đông lạnh cùng một chu
kỳ chọc hút noãn, cơ hội để có ít nhất 1 trẻ sinh sống của các phụ nữ độ tuổi
39 tuổi lần lượt 61,2%; 59,7% và 18,5% .
• Nghiên cứu của J. X. Wang (2001) trên 3570 chu kỳ chuyển phôi đông
lạnh cũng cho thấy tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ có thai ở 3 nhóm bệnh nhân < 30 tuổi,
từ 30 - 34 tuổi và từ 35 - 39 tuổi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ có thai chung của nhóm bệnh nhân trẻ dưới 40 tuổi là 16,4% cao hơn có
ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân từ 40 - 44 tuổi là 7,5%; không có
trường hợp có thai nào trên 45 tuổi. Tỷ lệ làm tổ của hai nhóm cũng khác biệt
có ý nghĩa thống kê là 9,5% và 4% .
có thai lại có nhiều khác biệt giữa các nghiên cứu.
• Nghiên cứu của Senn và cs (2000) trên 382 bệnh nhân chuyển phôi
đông lạnh thì tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ có thai ở nhóm đông phôi giai đoạn tiền
nhân cao hơn rõ rệt so với nhóm đông phôi ở giai đoạn phân chia sớm (lần
lượt là 10,5% so với 5,9% và 19,5% so với 10,9%) .
• Nghiên cứu của Amarine Zo (2004) lại chỉ ra rằng tỷ lệ phôi sống sót
sau rã đông và tỷ lệ có thai sau chuyển phôi đông lạnh của giai đoạn tiền nhân
và giai đoạn phân chia sớm không có gì khác biệt .
Đông phôi giai đoạn phân chia sớm: một trong những ảnh hưởng xấu
nhất của quá trình đông lạnh và rã đông là làm thoái hóa các phôi bào ở giai
đoạn phân chia sớm - một trong những nguyên nhân chính gây thất bại làm tổ
của quá trình chuyển phôi .
• Nghiên cứu của Andres Salumets và cộng sự (2003) về kết cục của
chuyển phôi đông lạnh của phôi ở giai đoạn tiền nhân, phôi ngày 2 và phôi
ngày 3 đã chỉ ra rằng giai đoạn phát triển của phôi vào thời điểm trữ lạnh có
ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng sống sót của phôi sau rã đông, tuy nhiên
dường như chỉ tác động nhẹ đến tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ trẻ sinh
25
sống sau chuyển phôi đông lạnh. Trong khi tỷ lệ sảy thai của đông phôi ngày
3 có thể gây ra bởi sự hủy hoại phôi bào trong quá trình trữ lạnh – rã đông
phôi. Khi so với trữ phôi ở giai đoạn tiền nhân và ngày 2 thì đông phôi ngày 3
có tỷ lệ sống sót thấp nhất và tỷ lệ sảy thai cao nhất .
• Nghiên cứu của A.Gabrielsen và cs (2006); William SB Yeung và cs (2007)
đều cho rằng trữ phôi khi phôi có hơn 4 phôi bào và chuyển phôi đông lạnh khi có
hơn 6 phôi bào thì tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ có thai sau chuyển phôi cao hơn , .
• Christophe Sifer và cs (2006) đã tiến hành một nghiên cứu hồi cứu
trên 339 chu kỳ chuyển phôi đông lạnh được rã đông từ năm 2000 - 2002. Tác