skkn một số KINH NGHIỆM TRONG CÔNG tác CHỦ NHIỆM về VAI TRÒ của GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM đối với sự PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH của học SINH - Pdf 42

1

1./ TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC CHỦ
NHIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH CỦA HỌC SINH
2./ ĐẶT VẤN ĐỀ:
2.1./ Lí do chọn đề tài:
- Chúng ta đang sống trong thời đại văn minh, khoa học, với sự phát triển
vượt bậc của ngành công nghệ thông tin, nó đã làm cho cuộc sống con người
ngày được nâng cao.
Nhưng kéo theo đó thì giới trẻ ngày nay chạy theo lối sống hưởng thụ mà
họ cho là hợp thời, sành điệu, họ chưa thực sự coi trọng, quan tâm đến những
truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Học sinh hôm nay sống bàng quan, ích kỉ, thiếu trách nhiệm với gia
đình, bản thân; chay lười học tập, đua đòi, thiếu hoài bão lập thân, lập
nghiệp; dùng mạng xã hội Facebook chỉ để “nói nhảm” và giết thời gian.
- Điều này đang là vấn đề cấp bách đối với các nhà giáo dục cũng như
những người có trách nhiệm.
- Một học sinh ngoan ngoãn, chăm chỉ, hiền lành không phải sinh ra đã
được như vậy mà nhờ được chăm sóc giáo dục. Bác Hồ cũng đã từng viết
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
- Một đứa trẻ lớn lên, hình thành được một tính cách tốt hay xấu trước hết
nó phụ thuộc vào sự giáo dục của người lớn trong gia đình, nhà trường, môi
trường xã hội, các hoạt động xã hội mà các em tham gia. Mà ở trường thì
người gần gũi các em nhiều nhất và có thể có sự ảnh hưởng lớn nhất đến các
em là giáo viên chủ nhiệm (GVCN).
- Vì vậy, tôi khẳng định rằng vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp rất quan
trọng, là một trong những nhân tố quyết định chất lượng giáo dục toàn diện
cho học sinh.
- Nhưng nếu như công tác chuyên môn của người giáo viên được các nhà
trường sư phạm chú trọng đào tạo thì công tác chủ nhiệm của giáo viên chủ

- Quá trình rèn luyện, phát triển nhân cách của học sinh THCS
- Vai trò của giáo viên chủ nhiệm đối với sự hình thành, phát triển nhân
cách học sinh.
2.4./ Phạm vi nghiên cứu:
- Môi trường giáo dục học sinh trường THCS Nguyễn Trãi - Đại Lộc –
Quảng Nam.


3

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2008 (khi bắt đầu được phân công làm
công tác chủ nhiệm) đến nay.
2.5./ Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích vấn đề nhân cách và vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong xây
dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THCS. Từ đó nêu những nguyên
nhân ảnh hưởng, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đang đặt ra.
-Tiến hành điều tra thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh,
phân tích nguyên nhân, tìm ra những yếu tố liên quan đến công tác giáo dục
đạo đức học sinh để từ đó đề ra biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
trong giai đoạn hiện nay.
2.6./ Phương pháp nghiên cứu
2.6.1/Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu những kiến thức về tâm lý lứa tuổi, tâm lí sư phạm, cách
giải quyết các tình huống sư phạm.
2.6.2/Phương pháp quan sát
- Nhìn nhận về công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường THCS
Nguyễn Trãi và thực trạng nhân cách học sinh hiện nay.
- Từ đó đưa ra các biện pháp rèn luyện, giáo dục đạo đức học sinh.
2.6.3/Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Vạch ra những kế hoạch, biện nhằm rèn luyện, giáo dục đạo đức, nhân

chức phối hợp tất cả các hoạt động, các lực lượng của xã hội tạo ra sự thống
nhất trong môi trường giáo dục, phát huy mọi tiềm năng của xã hội, nhằm tạo
ra sức mạnh tổng hợp đến quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách học sinh.
- Cơ sở lí luận chủ yếu của tổ chức hoạt động giáo dục giúp phát triển và
hoàn thiện nhân cách học sinh là lí luận dạy học và giáo dục, là các vấn đề
của tâm lí học về sự phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh thông qua
quá trình tổ chức các hoạt động và giao lưu. Đó cũng là luận điểm cơ bản về
mối quan hệ giữa cá nhân với hoàn cảnh xã hội và tự nhiên. Nó cũng nói lên
mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tác động có định hướng của giáo dục
xã hội với sự hoạt động, tự giáo dục, tự rèn luyện của cá nhân.
- Hiệu quả của hoạt động giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều
kiện khách quan và chủ quan của chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục.
- Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống (học tập, lao động, vui
chơi, sinh hoạt tập thể, giải trí,….) cho học sinh. Là một quá trình chuyển hóa
tự giác, tích cực, những yêu cầu, chuẩn mực xã hội thành hành vi, thói quen
tương ứng ở người học dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên.
4./ CƠ SỞ THỰC TIỄN:


5

- Cơ sở thực tiễn của đề tài là thực trạng về lối sống thờ ơ, thiếu trách
nhiệm, vô cảm ở một bộ phận học sinh và thực tiễn về vai trò của giáo viên
chủ nhiệm đối với sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của học sinh
- Bên cạnh gia đình thì trường học là mái nhà thứ hai nuôi dưỡng trí tuệ,
nhân cách cho học sinh, và ở trường người có thời gian gần gũi, tiếp xúc với
các em nhiều nhất chính là GVCN. Chính vì thế mà GVCN có vai trò rất quan
trọng đối với sự phát triển, hoàn thiện nhân cách.
- Thực tế đã chứng minh rằng người giáo viên chủ nhiệm có phẩm chất và
năng lực luôn được đồng nghiệp, phụ huynh tín nhiệm, học sinh kính trọng họ

tượng giáo dục ở tất cả các mặt: tri thức, hiểu biết, kĩ năng, đạo đức, nhân
cách trong đó đạo đức, nhân cách là quan trọng nhất.
- Tri thức và nhân cách vốn là hai mặt của một con người, trong đó nhân
cách có vị trí đặc biệt quan trọng. Quan niệm này đã được Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định trong câu nói: “ Có tài mà không có đức là người vô dụng,
có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
- Đạo đức là tiêu chí đánh giá sự văn minh, cao thượng của xã hội, con
người. Người có đạo đức là người cao thượng; một dân tộc, mặc dầu kinh tế
còn lạc hậu, nhưng có được đạo đức cần, kiệm, liêm, chính thì vẫn xứng đáng
là một dân tộc văn minh.
- Đạo đức giúp cho con người luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh làm
người trong mọi hoàn cảnh, không dễ bị thay đổi trước những xoay vần, biến
thiên của thời cuộc: Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể lay
chuyển, sức mạnh không thể khuất phục.
- CHƯƠNG 2. NHÂN CÁCH, SỰ PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN
NHÂN CÁCH HỌC SINH.
5.2.1./ Khái niệm về nhân cách:
- Nhân cách: Là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá
nhân, qui định bản sắc và giá trị xã hội của con người.
- Sự phát triển nhân cách: Biểu hiện qua các dấu hiệu cơ bản sau:
+ Sự phát triển về mặt tâm lý: biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong các
quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, ,hành động, đặc biệt là sự hình thành
và hoàn thiện các thuộc tính tâm lí, các quá trình, các trạng thái tâm lý của cá
nhân
+ Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện ở những biến đổi trong cách ứng
xử của cá nhân đối với những người xung quanh, sự tích cực của cá nhân khi
tham gia vào các mối quan hệ xã hội.


7

5.3.1./Giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc.
- Thực tế có một bộ phận học sinh mang tư tưởng sùng bái tư tưởng, cuộc
sống phương Tây. Coi nhẹ và lãng quên những truyền thống đạo lí tốt đẹp


8

của dân tộc, của người Á Đông.
- Đó là giáo dục niềm tự hào về một Đất nước đang trong quá trình đổi
mới và niềm tự hào về những thành quả mà nhân dân ta, dân tộc ta đã đạt
được, được thế giới công nhận như ở các lĩnh vực Toán học ( giải Field), thể
thao ( Cờ vua, bơi lội..), các kì thi Olympic thế giới..
- Giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nước là giáo dục cho các em về
những truyền thống cao đẹp của dân tộc như sống giàu tình cảm, hài hòa
giữa lí và tình, gắn bó với tổ tiên, quê hương, cội nguồn. Cần có ví dụ cụ thể
nhằm giúp học sinh nhận thức được những phẩm chất truyền thống của dân
tộc chẳng hạn ngày lễ tết, người Việt thường chọn về quê sum họp trong
không khí đầm ấm của gia đình thay cho việc đi tham quan, du lịch như các
nước phương Tây. Nhận thức được vẻ đẹp truyền thống của dân tộc sẽ giúp
học sinh thêm tự hào về đất nước, dân tộc mình. Từ đó nâng cao niềm tin ở
tương lai và khơi gợi ý thức đóng góp, cống hiến của thế hệ học sinh hôm
nay.
5.3.2./Giáo dục lí tưởng sống:
- Giáo dục lí tưởng sống cho học sinh cũng là một trong những nội dung
quan trọng của công tác phát triển, hoàn thiện nhân cách học sinh. Rèn luyện
cho học sinh sống có lí tưởng và theo đuổi lí tưởng cao đẹp là một việc có ý
nghĩa lớn lao đối với người GVCN.
- Trước hết cần giúp học sinh hiểu rõ khái niệm “lí tưởng sống” là gì? Lí
tưởng sống là mục đích sống cao nhất, tốt đẹp nhất mà con người muốn
vươn tới. Lí tưởng sống là thước đo phẩm chất con người.

- Cần tuyên truyền, nêu gương những tấm gương sáng: những người lao
động phát minh ra công cụ phục vụ, cải tiến sản xuất; những Tiến sĩ, phó Giáo
sư tuổi đời mới ngoài 30, sẵn sàng từ chối công việc với mức lương hấp dẫn ở
nước ngoài để về phụng sự Đất nước. Đó là những người có lí tưởng sống cao
đẹp, đúng đắn mà chúng ta cần giáo dục để học sinh noi theo.
- Có thể nói rằng, lý tưởng sống chính là chiếc chìa khoá để mở cửa tương
lai của mỗi người. Tương lai thế nào phụ thuộc chủ yếu vào lý tưởng sống của
bản thân mỗi con người chúng ta.
- Đối với học sinh, chúng ta càng nên định hướng cho các em một lí tưởng
sống tốt đep. Đó sẽ là nguồn động lực để các em cố gắng học tập, vươn lên
trong học tập và đạt được nhiều thành tích, đem lại niềm vinh dự cho bản
thân, gia đình và Tổ quốc.
5.3.3./Giáo dục tình cảm đạo đức:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết :” Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn.
Phần nhiều do giáo dục mà nên”


10

- Một người trở thành lương thiện hay bất lương “phần nhiều do giáo dục
mà nên”. Điều này cho thấy người GVCN có vai trò như thế nào trong việc
giáo dục nhân cách cũng như tình cảm đạo đức học sinh.
- Tình cảm đạo đức thể hiện biểu hiện ra bên ngoài bằng thái độ, cảm xúc,
hành động. Chẳng hạn trước những hành vi đen tối, bỉ ổi, con người thường
căm giận, ghê tởm. Trước những nghĩa cử cao đẹp, con người sẽ thán phục, tự
hào.
- Một khía cạnh trong giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh đó là giáo
dục và bồi dưỡng lòng yêu thương, sự quan tâm, chia sẻ.
- Cơ chế thị trường đã đem đến cho con người cuộc sống hiện đại, phát
triển, nhịp điệu hối hả, vội vàng. Thế nên mặt trái của nó là khiến cho sự lạnh

của mình thì dần dần sẽ trở thành những kẻ ích kỉ, thờ ơ, vô trách nhiệm.
Chính vì vậy, giáo dục cho học sinh ý thức về bổn phận, trách nhiệm của cá
nhân là một yêu cầu quan trọng.
- Học sinh cần có ý thức về bổn phận, trách nhiệm của mình trong từng
mối quan hệ của cuộc sống. Đó là bổn phận của con cái trong gia đình, bổn
phận của cá nhân đối với tập thể, trách nhiệm của mỗi người đối với cộng
đồng xã hội.
- Trong tập thể, những học sinh ích kỉ, quen được chiều chuộng là những
học sinh chỉ biết quan tâm đến quyền lợi của mình.
- Để giáo dục ý thức về bổn phận, trách nhiệm, GVCN cần đặt ra những
yêu cầu cụ thể đối với từng học sinh trong lớp.
- Đối với cán bộ lớp, ý thức trách nhiệm biểu hiện ở chỗ gương mẫu thực
hiện nội quy nhà trường, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Đối với các thành viên trong tập thể, ý thức trách nhiệm thể hiện ở việc
nghiêm túc chấp hành nề nếp,nội quy, tham gia đầy đủ, tích cực phong trào
hoạt động của lớp.
- Để làm được điều đó, GVCN là người đưa ra yêu cầu để phát hiện học
sinh gương mẫu, có phương pháp học tập khoa học, có tác phong mẫu mực,
sẵn sàng nhận trách nhiệm, biết chịu trách nhiệm trước tập thể, biết tập hợp
các bạn. Nhận xét trước lớp, khen ngợi, động viên các em, đồng thời cũng
nhắc nhở, phê bình những bạn chưa tốt để giáo dục các em.
5.3.5./Giáo dục tính tập thể:
- Tính tập thể là một trong những phẩm chất quan trọng đối với thế hệ học
sinh hôm nay. Bởi vì tính tập thể ở mỗi cá nhân là một yếu tố có tính quyết
định cho sự phát triển, lớn mạnh của một tập thể, dù ở đâu.
- Tinh thần tập thể thể hiện ở tinh thần, ý thức tự giác trong công việc,
cũng như cuộc sống cá nhân; ở việc tự giác, nhiệt tình tham gia các hoạt động
chung, hết mình vì quyền lợi chung và gắn bó với các thành viên trong tập



- Bên cạnh những học sinh năng động, sáng tạo vẫn còn một bộ phận
không nhỏ rụt rè, thụ động.
- Điều này đặt ra cho GVCN một nhiệm vụ quan trọng, đó là phải giáo
dục, rèn luyện cho học sinh tính độc lập, tự chủ trong cuộc sống.


13

- Tính độc lập thể hiện ở chỗ khi tổ chức một phong trào hoạt động học
sinh có khả năng tự mình xây dựng kế hoạch mà không chờ sự giúp đỡ của
người khác.
- Những học sinh có tính độc lập sẽ nhanh chóng tìm ra cách xử lí nhanh
nhất cho dù cách xử lí đó chưa phải là hay nhất.
- Một trong những biểu hiện của tính độc lập là khi mắc sai lầm và phạm
lỗi, học sinh tự mình phân tích được nguyên nhân, hậu quả, cách khắc phục.
Đây là một trong những yếu tố rất quan trọng của nhân cách con người.
CHƯƠNG 4. CÁC TIÊU CHÍ CỦA MỘT GVCN
Theo tôi, người GVCN cần có những tiêu chí sau:
5.4.1./ Lấy bản thân là tấm gương cho học sinh:
-Trong thực tiễn giáo dục nói chung và trong công tác chủ nhiệm nói
riêng không có phương pháp giáo dục nào hiệu quả và thuyết phục bằng bản
thân nhà giáo dục.
Bản thân tôi cho rằng chủ nhiệm là quá trình “chinh phục” học sinh của
giáo viên. Nên trước nhất giáo viên chủ nhiệm phải có năng lực chuyên môn
thật vững vàng. Năng lực chuyên môn ở đây bao gồm cả trình độ chuyên môn
và năng lực sư phạm.
Đúng như người ta vẫn gọi: giáo viên là những kĩ sư tâm hồn. Người giáo
viên chủ nhiệm lại càng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục học
sinh, không chỉ về tri thức mà còn định hình cho các em về nhân cách, lẽ
sống, biết yêu thương, sống có trách nhiệm cho bản thân, gia đình và xã hội.

- Theo tôi một trong những phẩm chất cần có ở một người giáo viên chủ
nhiệm lớp là tình cảm của một người mẹ.
- Mà “Mẹ thì hiền”, “mẹ cũng có thể nghiêm khắc nhưng bao giờ cũng yêu
quý con, hiểu con và chia sẻ với con những điều con vướng mắc”, “mẹ luôn là
chỗ dựa tin cậy mỗi khi con vấp ngã hoặc sai lầm”…
- Thời gian học sinh ở trường có thể bằng, thậm chí nhiều hơn ở nhà, con
người nói chung và học sinh cũng vậy, luôn khao khát được yêu thương, được
vỗ về, an ủi. Vậy nên, nếu người GVCN nào dành cho học sinh thái độ, tình
cảm như của mẹ dành cho con, hiệu quả công tác chủ nhiệm sẽ lớn hơn rất
nhiều so với GVCN lạnh lùng, thờ ơ không gần gũi yêu thương học sinh.
5.4.3./Giáo viên chủ nhiệm cần phải là người bạn của học sinh.
- Nhu cầu chia sẻ tâm tư, tình cảm, trao đổi phương pháp học tập…của học
trò là rất lớn. Có những điều các em không nói với mẹ, không nói với thầy cô
mà chỉ tâm sự với bạn.
- Bởi vậy, nếu GVCN tạo được niềm tin tưởng, sự thân thiện gần gũi với
học sinh, các em sẵn sàng tâm sự, kể cả những điều sâu kín nhất của lứa tuổi.


15

Khi đó, GVCN có cơ hội hiểu các em hơn, tư vấn và gỡ rối cho các em những
băn khoăn của tuổi mới lớn, những mâu thuẫn của quan hệ học trò, thậm chí
cả những khúc mắc trong gia đình…Khi “là người bạn” của các em, không hề
làm giảm vị thế của GVCN mà trái lại, uy tín của người GVCN tăng lên đồng
thời tạo lập một môi trường, một không khí gần gũi, thân thiện đoàn kết trong
lớp.
5.4.4./ Giáo viên chủ nhiệm cần có năng lực của một “luật sư” và
“thẩm phán”
- Một lớp học trên 30 học sinh với sự đa dạng về tính cách, với sự phức tạp
của tâm lý lứa tuổi không thể tránh khỏi những mâu thuẫn xung đột trong tập

- Việc này giúp học sinh có những mục tiêu phấn đấu cụ thể trong năm
học.
c) Bầu ban cán sự lớp và rèn luyện để ban cán sự làm việc hiệu quả.
- Ban cán sự lớp là lực lượng nòng cốt, đảm bảo sự vững mạnh của một
tập thể. Hỗ trợ đắc lực cho GVCN trong công chủ quản lý lớp. Do đó phải lựa
chọn thật kĩ, có một ban cán sự năng lực là GVCN đã thành công một nửa
trong công tác quản lý, giáo dục học sinh của mình.
d) Hoàn thành sơ đồ lớp.
- Những tưởng việc này không quá quan trọng nhưng thật ra đây chính là
“sợi dây thừng vô hình” kì diệu.
- Chắc chắn trong một năm học, không thể tránh việc thay đổi sơ đồ lớp,
nhưng không vì điều này mà GVCN quá chọn lựa để chậm chạp trong việc
hoàn thành sơ đồ lớp đầu năm.
- Nếu không có sơ đồ lớp GVCN và cả giáo viên bộ môn rất khó quản lý
lớp, chẳng biết em thường phát biểu tên gì, em hay nói chuyện tên gì, em
thiếu tập trung là ai…Và học sinh lười cứ thoải mái, tự do vì thầy cô có biết
mình là ai đâu mà lo. Còn những em học khá thì cũng không mấy tích cực xây
dựng bài, vì vốn dĩ các em thích được gọi bằng tên, được thầy cô biết mình cố
gắng…. Tất cả những điều này đều do sơ đồ lớp mà ra.
- Ngược lại, ngay từ đầu bước vào lớp, sơ đồ lớp nằm trên bàn thì học sinh
sẽ thấy ngay rằng mình đang nằm trong “lòng bàn tay” của giáo viên, cứ thế
mà lo chỉn chu, nghiêm túc dần thôi. Học sinh nào chưa ngoan, lười biếng hay
học giỏi, tích cực thì giáo viên bộ môn đã nhanh chóng trao đổi với GVCN
rồi. GVCN từ đó dễ dàng, nhanh chóng nắm bắt tình hình lớp, đưa ra biện
pháp quản lý phù hợp. Như vậy nề nếp chất lượng sao không tốt, giáo dục đạo
đức, nhân cách học sinh sao không tốt được.
5.5.2./ Xây dựng nề nếp lớp học:
a) Nắm thông tin về học sinh



- Theo dõi, đôn đốc lớp chấp hành đầy đủ và nghiêm chỉnh nội quy, quy
chế, quy định về học tập. Xây dựng và thực hiện nề nếp tự quản đối với các
thành viên trong lớp.


18

- Truyền đạt và tổ chức lớp thực hiện các thông báo Nhà trường
- Phản ánh tình hình của lớp, đề xuất những kiến nghị của lớp về những
vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của học sinh GVCN để giải quyết
những vấn đề có liên quan. Tổ chức động viên những học sinh trong lớp gặp
khó khăn trong học tập, rèn luyện và đời sống.
- Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm để báo cáo về tình hình
lớp; xin ý kiến tư vấn nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến diễn biến
tư tưởng, học tập, rèn luyện và sinh hoạt của học sinh trong lớp.
- Tổ chức sinh hoạt lớp theo thời khóa biểu, kiểm tra tình hình thực hiện
nhiệm vụ học tập, thực hiện các nội quy, quy định của trường trong tháng,
bình xét điểm rèn luyện tháng, đề ra nhiệm vụ cho tháng tiếp theo; tổ chức
họp lớp đột xuất khi có việc.
- Liên hệ với giáo viên để chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
cho học tập; đôn đốc các bạn trong lớp đi học đầy đủ, đúng giờ, nghiêm túc.
Phối hợp cùng giáo viên để điểm danh và ghi sổ theo dõi giảng dạy.
- Liên hệ để nhận kế hoạch học tập và thời khóa biểu.
- Phối hợp với Đoàn đội trong các hoạt động của lớp cũng như hoạt động
của Trường.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do GVCN trực tiếp giao cho.
- Chịu trách nhiệm trước GVCN về tình hình lớp.
+ Tiêu chuẩn: Là người nhanh nhạy, có trách nhiệm với công việc, có thể
thu xếp được thời gian.
* Lớp phó học tập (LPHT)

- Đây là chức vụ quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sự đoàn kết của tập thể.
- Công việc chủ yếu: Phụ trách thu, chi các khoản phí, đóng góp và quản
lý tiền quỹ.
- Việc minh bạch trong thu, chi và quản lý các khoản quỹ sẽ làm cho tập
thể an tâm hơn các hoạt động, làm cho lớp đoàn kết hơn.
- Nếu thu, chi không minh bạch, không công bố đầy đủ cho tập thể biết,
quản lý quỹ không an toàn, cẩn thận sẽ dễ làm nảy sinh các nghi vấn về tiền
bạc.
- Đây là một điều rất khó xử lý vì nó còn liên quan đến gia đình của các
thành viên, nên sẽ rất dễ làm mất đoàn kết trong lớp. Nếu thủ quỹ chơi với 1
nhóm nào đó và không minh bạch thu chi, các thành viên khác sẽ rất dễ nghi
ngờ số tiền đóng góp của mình được dùng để chi cho người khác. Điều này
rất nguy hiểm trong tập thể.


20

+ Tiêu chuẩn: Là người cẩn thận, kỹ lưỡng, biết tính toán, có uy tín trong
tập thể, hòa đồng với mọi thành viên trong tập thể.
*Lớp phó thể mỹ:
- Là người chịu trách nhiệm mảng Thể thao , Văn nghệ của lớp.
- Công việc cụ thể: Cùng với lơp trưởng tổ chức, điều hành các phong
trào của Chi đội.
+ Tiêu chuẩn: Là người có năng khiếu về mặt thể thao hoặc văn nghệ, biết
cách tổ chức cho tập thể các hoạt động đó.
* Lớp phó lao động:
- Chịu trách nhiệm tổ chức, điều hành lớp trong các buổi lao động do
trường, lớp tổ chức.
- Phân công, theo dõi và kiểm tra các tổ trực nhật và chịu trách nhiệm tắt
đèn, quạt khi ra về.

sinh, tận tụy với công việc và đạo đức trong sáng. Bằng tài năng, thầy giáo đạt
được hiệu quả cao trong công tác giảng dạy và giáo dục. Và uy tín người giáo
viên thể hiện trong suốt cuộc sống của người giáo viên đó.
- Người thầy có uy tín thường có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến tư tưởng,
tình cảm của học sinh. Họ thường được học sinh thừa nhận có nhiều phẩm
chất và năng lực tốt đẹp, học được các em kính trọng và yêu mến. Sức mạnh
tinh thần và khả năng cảm hóa của người giáo viên có uy tín thường được
nhân lên gấp bội.
- Uy tín được hình thành và thể hiện trong mọi hoạt động. Người thầy phải
là tấm gương mẫu mực về đạo đức, tác phong. Không ngừng tu dưỡng đạo
đức mới giữ gìn được sự đoàn kết, có lối sống giản dị trong sạch. Hiểu được
những chuẩn mực trong hoạt động sư phạm, từ đó người giáo viên mới có ý
thức rèn luyện phong cách sư phạm phù hợp, mẫu mực từ lời nói đến hành vi
cử chỉ… Ngoài ra, năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng
là một thước đo không thể thiếu của người thầy. Người giáo viên “vừa hồng
vừa chuyên” sẽ có sức mạnh cảm hóa lớn lao, không chỉ thu hút, mà còn định
hướng và điều khiển các hoạt động học tập của học sinh.
- Để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mỗi giáo viên phải không
ngừng phấn đấu tự học, tự rèn nâng cao kiến thức, trình độ, năng lực chuyên
môn.
- Năng lực sư phạm bao hàm các phẩm chất trí tuệ như: Khả năng quan
sát, sáng tạo, các phẩm chất ngôn ngữ; các phẩm chất tư duy lí luận, biết đặt
mình ở vị trí của người học để hiểu họ và tự đánh giá về mình.
- Năng lực sư phạm còn biểu hiện ở khả năng tổ chức cho người học phát
huy tính chủ động sáng tạo, đáp ứng nhu cầu học tập. Biết kết hợp nhuần


22

nhuyễn các phương pháp dạy học hiện đại và nắm các kỹ năng dạy học cơ bản

và không muốn đến lớp.


23

- Qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp, tôi biết rằng có những em
học yếu hoặc có hôm không học bài, làm bài nhưng lỗi không phải hoàn toàn
là do các em. Có em ham chơi nên quên học bài, có em do bị mất căn bản từ
các lớp dưới.
- Nhưng cũng có em học yếu, hoặc không học bài làm bài là do những
điều kiện khách quan. Gia đình của các em đâu phải lúc nào cũng đầm ấm,
hạnh phúc; đâu phải em nào cũng may mắn dược bố mẹ, ông bà động viên
trong mỗi bước học tập.Và có biết bao nhiêu bố mẹ phải lo làm thuê, làm
mướn kiếm sống hoặc vì ăn chơi cờ bạc hay ốm đau bệnh hoạn,...nên không
ngó ngàng gì đến việc học của con cái, thậm chí các em còn bị mắng chửi, bị
đánh đập ...
- Những sóng gió đó đã tác động đến tâm lí các em, cản trở việc học tập
của các em. Nếu như giáo viên không biết được những nguyên nhân đó thì rất
dễ nổi giận đùng đùng, rồi la mắng, trừng phạt các em. Điều đó hoàn toàn bất
lợi cho quan hệ thầy trò sau này.
- Vì vậy, đứng trước một học sinh quậy phá, hay lơ đãng không học bài,
làm bài, tôi không kết án trừng phạt ngay mà bình tĩnh chờ đến hết buổi học
gặp riêng các em để hỏi cho rõ nguyên nhân. Lần đầu các em vi phạm, tôi nhẹ
nhàng nhắc nhở. Nếu lần thứ hai, các em vẫn tái phạm, tôi trao đổi với phụ
huynh để tìm hiểu nguyên nhân nhằm có biện pháp giúp đỡ, giáo dục các em.
- Tôi luôn khích lệ và biểu dương các em kịp thời, khen ngợi những ưu
điểm của các em nhiều hơn là phê bình khuyết điểm. Tôi cố tìm ra những ưu
điểm nhỏ nhất để động viên các em. Nhưng trong khi khen, tôi cũng không
quên chỉ ra những thiếu sót để các em khắc phục và ngày càng hoàn thiện
hơn.

ý thức kỉ luật cũng đến nơi đến chốn. Tất cả đều có qui định, mọi việc đều
được phân công cụ thể, rõ ràng, guồng máy lớp tôi cứ như thế vận hành xuyên
suốt.
5.6.4./Phải có khoảng cách nhất định với học sinh.
- Thương yêu học sinh không có nghĩa là xuề xòa, dễ dãi.
- Ngày trước người thầy là người rất lớn lao. Gặp thầy bao giờ trò cũng lễ
phép cúi đầu chào. Kính yêu thầy song giữa thầy và trò bao giờ cũng có một
khoảng cách nhất định. Chính cái khoảng cách thiêng liêng ấy mà sau nầy khi
đã trưởng thành, nhiều người có chức có quyền vẫn rất mực kính trọng thầy
cô.
- Vẫn biết cái khoảng cách thầy - trò của xã hội ngày nay không còn quá
khuôn phép như trước. Thầy trò bình đẳng hơn. Sự bình đẳng cần thiết để đáp
ứng cho phương pháp dạy học mới là phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của


25

người học. Thầy chủ đạo, trò chủ động. Thế nhưng, quan hệ thầy trò trở nên
bình đẳng hơn cũng dễ làm nhoà đi ranh giới thầy - trò.
- Các em học sinh hôm nay tự tin hơn, dạn dĩ hơn song các em cũng trở
nên khó bảo hơn, ít vâng lời hơn. Thậm chí nhiều em không còn giữ được
khoảng cách thầy - trò. Các em nói chuyện với thầy như nói chuyện với người
ngang hàng, phải lứa. Không cẩn trọng trong lời nói. Ngôn ngữ giao tiếp thiếu
vắng những tiếng “dạ”, “thưa” cần thiết phải có.
- Cách cư xử của các em đôi khi suồng sã đến quá mức cho phép.
- Nhiều khi nhận những bó hoa tươi các em mang tặng nhân Ngày Nhà
giáo hằng năm mà thầy giáo, cô giáo vẫn thấy lòng không vui. Bởi hoa thì
thật đẹp song thiếu những lời nói đẹp. Chưa nói đến việc các em đi thành
từng đoàn cho vui, cho đẹp đội hình để làm nên sự sôi động ồn ào ở nhà
thầy, vốn là không gian yên tĩnh. Và... rồi các em lại ra về cũng ồn ã như lúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status