Hiệu quả điều trị bệnh trứng cá bằng chiếu laser he ne kết hợp bôi clindamycin - Pdf 42

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC OANH

HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH TRỨNG CÁ
BẰNG CHIẾU LASER HE-NE KẾT HỢP
BÔI CLINDAMYCIN
Chuyên ngành: Da liễu
Mã số:

60720152

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học:
TS. BÙI THỊ VÂN

HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ


2


không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nhưng diễn biến thường
kéo dài, lúc tăng lúc giảm, vị trí thương tổn ở vùng mặt là chủ yếu kèm theo
một số di chứng có thể tồn tại suốt đời và gây trở ngại lớn đến thẩm mỹ và
tâm lý người bệnh như sẹo lồi, sẹo lõm… [1], [9], [10].
Điều trị bệnh trứng cá kịp thời và đúng phương pháp sẽ có hiệu quả tốt,
tránh được các biến chứng và trả lại làn da bình thường cho người bệnh. Các
phương pháp điều trị đều nhằm mục đích: chống tăng tiết chất bã, chống sừng
hóa tuyến bã và chống nhiễm khuẩn [11], [12]. Cho đến nay đã có nhiều đề tài
nghiên cứu điều trị bệnh trứng cá thông thường như điều trị bằng: Doxycyclin
[13], Kem lô hội AL-04 [14], Duac [10], Papulex [15], Klenzit-C [16],
Isotretinoin [17]… cho hiệu quả nhất định. Clindamycin dạng bôi tại chỗ là
thuốc có tác dụng kìm khuẩn cũng được đánh giá là tác động tốt đến vi khuẩn
P.acnes, một tác nhân quan trọng hình thành tổn thương viêm trong bệnh
trứng cá.


4

Laser Helium-Neon (He-Ne) là một loại laser năng lượng thấp được sử
dụng nhiều trong lâm sàng với ưu điểm nổi bật tác động không tiếp xúc với
tổn thương, không gây chảy máu, không gây đau đớn cho người bệnh, dễ thực
hiện và rẻ tiền [18], [19]. Nhiều nghiên cứu cho thấy tác dụng chủ yếu của
laser He-Ne là kích thích sinh học, tăng cường tái tạo tổ chức, phục hồi chức
năng và nâng cao sức đề kháng của cơ thể, làm tăng quá trình chuyển hóa,
tăng hệ thống vi tuần hoàn trong mô, tăng tổng hợp protein và hoạt hóa hệ
thống miễn dịch của cơ thể [18], [20], [21].
Chiếu laser He-Ne hỗ trợ điều trị một số bệnh da liễu đã được một số
cơ sở áp dụng hỗ trợ điều trị zona, eczema, viêm mao mạch, các vết loét lâu
lành...có hiệu quả [22], [23], [24], [25]. Điều trị bệnh trứng cá bằng chiếu
laser He-Ne đã được Khoa Da liễu-Dị ứng, Bệnh viện Trung ương Quân đội

hợp sẽ gây nên các thể lâm sàng nặng thậm chí gây hậu quả lâu dài ảnh hưởng
nặng nề về thẩm mỹ [3], [5], [7], [9], [12].
Dựa vào hình thái lâm sàng và đặc điểm tiến triển của bệnh, người ta
chia thành các thể lâm sàng trứng cá khác nhau bao gồm:
- Trứng cá thông thường (Acne vulgaris) [3], [7], [11]: thể lâm sàng hay
gặp nhất. Các thương tổn khu trú đặc biệt ở vùng da mỡ như: ở mặt (trán, má,
cằm), ở vùng giữa ngực, lưng, vai; đôi khi gặp nhân trứng cá ở vành tai, bọc ở
ống tai, màng nhĩ. Tổn thương rất đa dạng, có thể là nhân trứng cá, sẩn đỏ,
mụn mủ, cục, nang viêm tấy đỏ…, song các loại thương tổn này không phải
thường xuyên kết hợp với nhau và có đầy đủ trên một bệnh nhân.


6

- Trứng cá mạch lươn (Acne conglobata) [1], [7], [9]: là một dạng của
trứng cá nặng, gặp chủ yếu ở nam giới, bắt đầu sau tuổi dậy thì và kéo dài
nhiều năm sau đó. Tổn thương thấy ở mặt, cổ, ngực, vai, lưng, mông, đùi và
phối hợp nhiều hình thái: cục, nang, áp xe… Khởi đầu là mụn mủ ở nang
lông, sau tiến triển thành các ổ viêm to dần và loét rất đặc biệt do ổ viêm
thường thành cụm 2-3 cái, đi vằn vèo thành hang hốc với nhiều đường rò và
cầu da. Thương tổn có dịch màu vàng nhầy dạng sợi hoặc lẫn máu, sau khi
rạch và dẫn lưu dịch lại đầy trở lại rất nhanh. Bệnh tiến triển lâu dài, dai dẳng.
- Trứng cá kê hoại tử (Acne miliaris necrotica) [7], [9], [12]: do tụ cầu
vàng gây nên, gặp nhiều ở nam giới, khu trú đối xứng ở trán, thái dương, rìa
tóc. Khởi đầu là các sẩn nang lông màu đỏ, bờ xung quanh viêm tấy đỏ, sau
nhanh chóng biến thành mụn mủ màu nâu nhạt, bám rất chắc, có thể ngứa. Ở
dưới sẩn viêm là ổ loét nhỏ, sau lành để lại sẹo vĩnh viễn.
- Trứng cá tối cấp (Acne fulminans) [7], [9], [11]: có thể thấy ở nam giới từ
13-17 tuổi, bệnh thường ở thân mình, hiếm khi ở mặt. Thương tổn dạng trứng cá
nang nặng tiến triển thành tổn thương loét đau với bờ nhô cao bao quanh các

nhiều kem dưỡng ẩm, kem kem chống nắng.
+ Trứng cá do yếu tố cơ học (Acne Mechanica) [4], [11], [30]: hay gặp ở
các cô gái trẻ có tâm lý lo lắng, hay nặn bóp, cào xước, cọ sát liên tục gây tắc
nghẽn lối ra vào của nang lông tuyến bã dẫn đến hình thành cồi mụn, sau để
lại vết thâm, sẹo teo da.
+ Trứng cá nhân loạn sừng gia đình (Familial dyskeratotic comedones
acne) [11], [29]: Bệnh do rối loạn di truyền trội, thương tổn nhiều nhân ở mặt,
thân mình, các chi, có thể có sẩn đỏ, mụn nước, khỏi để lại sẹo sâu như hố
băng. Mô bệnh học có tiêu gai và tế bào loạn sừng ở trong thành các lỗ chân
lông. Bệnh có thể xuất hiện đến giữa tuổi 40.
+ Trứng cá vùng nhiệt đới (Tropical acne) [7], [11]: xuất hiện vào mùa hè
khi thời tiết nóng, ẩm, thương tổn dạng nang lớn, đa dạng ở ngực, mông, lưng.
+ Trứng cá trước chu kỳ kinh nguyệt [12]: xuất hiện trước khi có kinh 1
tuần, do Luteinizing hormone (LH) ở đỉnh cao kích thích tổ chức đệm của
buồng trứng tiết androgen. Thương tổn dạng sẩn mủ, số lượng từ 5 – 10.


8

1.1.2. Đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường
Dựa trên hình thái lâm sàng, thương tổn cơ bản của bệnh trứng cá thông
thường được chia làm 2 loại:
1.1.2.1. Thương tổn không viêm
Các tổn thương không viêm được hình thành sớm của tiến trình hình
thành tổn thương bệnh trứng cá, bao gồm các hình thái sau:
- Vi nhân trứng cá (microcomedones) [3], [7], [11], [12]: các nhân trứng cá rất
nhỏ, bắt đầu mới hình thành, khó phát hiện trên lâm sàng, chủ yếu là nhờ sinh thiết.
- Nhân mở (open comedones) hay nhân đầu đen (blackheads) [3], [7],
[11], [12]: tổn thương do kén bã (chất lipid) kết hợp với những lá sừng của
thành nang lông gồ cao trên mặt da, làm nang lông giãn rộng. Sự oxy hóa chất

Ngoài các thương tổn trên, bệnh nhân bị trứng cá thông thường còn có
hiện tượng tăng tiết bã là da bóng, nhờn, các lỗ chân lông giãn rộng…
1.1.2.3. Phân loại mức độ bệnh trứng cá thông thường
Có nhiều cách phân loại mức độ bệnh trứng cá dựa vào số lượng và đặc
điểm thương tổn trứng cá.
- Phân loại theo Karen McKoy-2008 [32]: dựa vào số lượng và đặc điểm
thương tổn, bệnh trứng cá được chia thành 3 mức độ:
+ Mức độ nhẹ: 50 thương tổn viêm, hoặc tổng số thương tổn >125.

Hình 1.1. Mức độ nhẹ

Hình 1.2. Mức độ vừa

Hình 1.3. Mức độ nặng


10

- Phân loại theo Habif-2010 [11] chia 3 mức độ sau:
+ Mức độ nhẹ:

sẩn/mụn mủ: +/++, cục: 0

+ Mức độ vừa:


- Đặc điểm tuyến bã [2], [7], [12], [31], [34], [35]: Tuyến bã cùng với
tuyến mồ hôi, tuyến sữa là 3 loại tuyến của da. Tuyến bã là một chùm nang chia
nhánh, đường kính 0,2 - 2 mm gắn vào nang lông, tiết ra chất bã đổ vào nang
lông nhờ một ống dẫn rồi bài xuất lên mặt da. Tuyến bã ở niêm mạc đổ thẳng ra
bề mặt như tuyến Tyson và hạt Fox – Foxdyce. Tuyến bã là tuyến toàn hủy:
chất bã và tế bào tuyến được đào thải toàn bộ. Tuyến bã hoạt động mạnh lúc
mới sinh do được hoạt hóa bởi androgen của mẹ qua nhau thai, bất hoạt ở trẻ
em 2-6 tuổi, sau 7 tuổi thì hoạt động trở lại và phát triển mạnh ở tuổi dậy thì,
giảm tiết ở tuổi 50 đối với nữ, 60-70 đối với nam. Tuyến bã phân bố không


11

đều trên toàn bộ cơ thể: vùng da đầu, mặt, lưng, ngực giàu tuyến bã với số
lượng 400-900 tuyến/cm2 nên trứng cá hay xuất hiện, những vùng da khác có
số lượng tuyến bã ít hơn, riêng lòng bàn tay, bàn chân không có tuyến bã.
- Chất bã [3], [34]: là hợp chất vô khuẩn được sản xuất chủ yếu từ tuyến
bã và một phần thượng bì, tiết ra trên bề mặt da làm dẻo hóa màng sừng, có tác
dụng bảo vệ da chống lại virus, vi khuẩn, nấm, chống thấm nước và giữ độ ẩm
cho da. Thành phần chủ yếu của chất bã là acid béo dưới dạng este hỗn hợp, bao
gồm: squalene (chỉ có ở da người với nồng độ ổn định), tryglycerid và các acid
béo chuỗi dài, cires là những este đơn và kép của những acid béo chuỗi dài,
ngoài ra còn có lipid gốc thượng bì từ cholesterol và các este của nó.
1.1.3.2. Sinh bệnh học trứng cá thông thường
Trứng cá là một bệnh của nang lông tuyến bã. Sinh bệnh học trứng cá
liên quan đến 4 yếu tố chính: sự tăng tiết chất bã, sừng hóa cổ nang lông
tuyến bã, vai trò của vi khuẩn trong nang lông và tình trạng viêm.
- Sự tăng tiết chất bã [3], [4], [7], [12], [31], [34]: Trong bệnh trứng cá,
chất bã được bài tiết quá nhiều. Hoạt động bài tiết của tuyến bã có liên quan
chặt chẽ với các hormon, trong đó quan trọng là hormon sinh dục nam, đặc


Hình 1.5. Sinh bệnh học trứng cá


13

Sự tham gia của các yếu tố vi khuẩn (nhất là P.acnes), bạch cầu, enzym,
các cytokin tiền viêm, TNF-a…hình thành phản ứng viêm tạo các thương tổn
viêm như: sẩn, mụn mủ, cục, nang. Theo Lyte P (2009), các biểu hiện của
trứng cá do P.acnes gây ra phản ứng viêm không những khi vi khuẩn còn sống
mà ngay cả khi vi khuẩn đã bị tiêu diệt, cấu trúc màng tế bào vi khuẩn chết
cũng có thể kích thích gây phản ứng viêm.
1.1.4. Các yếu tố liên quan đến bệnh trứng cá thông thường
Bệnh trứng cá liên quan với nhiều yếu tố, các yếu tố này có thể làm khởi
phát bệnh và cũng có thể làm bệnh nặng thêm.
- Tuổi: Trứng cá thưởng khởi phát ở lứa tuổi 13-19, đôi khi muộn hơn ở
tuổi 20-25, hoặc thậm chí ở tuổi 50 [4], [7], [9], [31].
- Giới: đa số tác giả đều cho rằng nữ bị trứng cá nhiều hơn nam nhưng
các hình thái lâm sàng ở nam thường nặng hơn nữ [7], [12], [32].
- Yếu tố nghề nghiệp: việc tiếp xúc dầu mỡ, ánh nắng… nhiều làm tăng
khả năng mắc trứng cá [1], [7].
- Yếu tố gia đình: có liên quan đến bệnh trứng cá. Theo Goulden cứ 100
bệnh nhân trứng cá thì 50% có tiền sử gia đình [37].
- Yếu tố thời tiết: khí hậu nóng, ẩm, hanh khô… cũng ảnh hưởng đến
bệnh trứng cá [12].
- Yếu tố chủng tộc: người da trắng và da vàng mắc bệnh trứng cá nhiều
hơn người da đen.
- Các bệnh nội tiết: một số bệnh nội tiết gây trứng cá như cường giáp,
Cushing, buồng trứng đa nang…[7].
- Chế độ ăn: đồ ăn ngọt (sô cô la, đường…), rượu, bia, cà phê… làm

trong điều trị trứng cá thông thường, tác dụng phụ thường gặp là khô da và
nhạy cảm ánh sáng …[4], [7], [12], [31], [32], [42].
- Azelaic acid: dưới dạng cream 20% có hiệu quả trong trứng cá có tổn
thương sẩn, mụn mủ. Thuốc có tác dụng kìm khuẩn, ít tác dụng phụ và ít có
tình trạng kháng thuốc …[4], [7], [31], [43].


15

- Kháng sinh: một số kháng sinh được sử dụng đơn độc hoặc phối hợp
như: clindamycin, doxycyclin, erythromycin, metronidazole…đều có hiệu quả
và dung nạp tốt, làm giảm sự phát triển của P.acnes trên bề mặt da và trong
nang lông [4], [7], [42].
1.1.5.2. Điều trị toàn thân
- Kháng sinh [4], [7], [44], [45], [46]: kháng sinh đường uống là điều trị
căn bản trong trứng cá. Có nhiều loại kháng sinh tác dụng lên P.acnes như:
minocyclin liều dùng 100mg/ngày; doxycyclin liều dùng 100-200 mg/ngày;
erythromycin liều dùng 1,5-2 g/ngày; clindamycin liều dùng 300-600
mg/ngày; trimethoprim/sulfamethoxazole liều dùng 960 mg x 2 lần/ngày… Mỗi
loại kháng sinh đường uống đều có tác dụng phụ, hay gặp nhất là: nhạy cảm
ánh sáng với doxycyclin, chóng mặt khi dùng minocyclin, rối loạn tiêu hóa
khi dùng erythromycin, dị ứng thuốc khi dùng trimethoprim/sulfamethoxazol.
- Liệu pháp hormon [7], [47], [48]: nhằm ức chế cạnh tranh với androgen
tại tuyến bã. Liệu pháp này được dùng cho những bệnh nhân nữ bị trứng cá
không đáp ứng với điều trị thông thường. Các nhóm hormon dùng điều trị
bệnh trứng cá là các hormon đối kháng androgen (spironolacton, flutamide,
cyproterone acetate) tác động vào sự bài tiết tuyến bã; thuốc tránh thai chứa
estrogen, progestin làm buồng trứng giảm sản xuất androgen.
- Vitamin A acid [7], [49], [50], [51]: isotretinoin là thế hệ thứ nhất của
vitamin A acid được lựa chọn điều trị bệnh trứng cá nặng rất có hiệu quả.


Hình 1.6. Cấu trúc hóa học clindamycin
Sau khi bôi tại chỗ nhiều lần dung dịch clindamycin phosphate với nồng
độ tương đương 10 mg/mL clindamycin trong dung dịch nước và isopropyl


17

alcohol, nồng độ clindamycin tìm thấy trong huyết thanh rất thấp (0 - 3 ng/ml)
và dưới 0,2% liều dùng xuất hiện lại trong nước tiểu dưới dạng clindamycin.
Hoạt tính clindamycin được chứng minh trên mụn trứng cá ở những bệnh
nhân có mụn trứng cá. Nồng độ kháng sinh có hoạt tính trung bình lấy từ mụn
trứng cá sau khi sử dụng clindamycin bôi tại chỗ trong 4 tuần là 597 mcg/g
(thay đổi từ 0 – 1490). Trong môi trường in vitro, clindamycin ức chế tất cả
mụn trứng cá do P. acnes trong lô vi khuẩn thử nghiệm (MIC 0,4 mcg/mL).
Lượng acid béo tự do trên bề mặt da giảm từ xấp xỉ 14% xuống 2% sau khi
bôi clindamycin.
- Chỉ định tại chỗ trong điều trị mụn trứng cá.
- Liều lượng và cách dùng: Bôi một lớp mỏng thuốc lên vùng tổn
thương, ngày 2 lần, tránh bôi vào mắt và môi.
- Chống chỉ định: với người có tiền sử quá mẫn với chế phẩm chứa
clindamycin hay lincosamid, viêm ruột khu trú hay viêm loét đại tràng, viêm
đại tràng do dùng kháng sinh.
- Tác dụng không mong muốn: khô da là tác dụng không mong muốn
thường gặp nhất khi sử dụng thuốc, ngoài ra có một số tác dụng không mong
muốn khác được báo cáo như: kích ứng da, viêm da tiếp xúc, da nhờn, mày
đay, đau bụng, các bất thường tiêu hóa, viêm đại tràng giả mạc, viêm nang
lông gram âm… Dung dịch clindamycin bôi tại chỗ chứa alcol bazơ là chất có
thể gây rát, kích ứng mắt, màng nhầy và làm trầy da.
- Tương tác thuốc: Có sự kháng chéo giữa clindamycin và erythromycin

Một laser có cấu trúc gồm 3 thành phần chính: môi trường hoạt chất
laser, buồng cộng hưởng quang học và nguồn nuôi.


19

Hình 1.7. Cấu trúc cơ bản của máy laser
- Môi trường hoạt chất laser: là môi trường đặc biệt ở đó số mức điện tử
ở mức kích thích phải lớn hơn số mức điện tử ở mức năng lượng thấp, có
nghĩa là có sự đảo ngược độ tích lũy của điện tử mà ở môi trường bình thường
thì các điện tử tồn tại ở trạng thái ngược lại. Hiện tượng phát xạ cưỡng bức do
đó xảy ra mạnh hơn hiện tượng hấp thụ ánh sáng, nhờ đó mà chùm tia laser
được sinh ra. Hoạt chất laser có thể là chất rắn (Nd-YAG, Diod…), chất khí
(CO2, He-Ne…) hoặc chất lỏng. Họat chất là loại gì, laser có tên gọi đó.
- Buồng cộng hưởng quang học: chùm laser ban đầu sinh ra rất yếu vì
thế cần một buồng cộng hưởng (buồng hoạt chất laser nằm ở đó). Buồng này
cho phép chùm ánh sáng tạo ra có thể qua lại hoạt chất nhiều lần cho đến khi
đạt trạng thái ổn định và đủ năng lượng cần thiết. Buồng cộng hưởng phải có
đủ độ dài và chỉ cho phép ánh sáng đã được khuyếch đại và có cùng một bước
sóng thoát ra ngoài theo cùng một hướng nhất định.
- Nguồn nuôi: để tạo ra và duy trì tình trạng đảo ngược độ tích lũy của
các điện tử ở môi trường hoạt chất laser, cần phải cung cấp năng lượng cho
môi trường này từ một nguồn nuôi (có thể là điện năng hoặc quang năng).
1.3.1.2. Tính chất đặc trưng của laser [55], [56]
Laser là một loại ánh sáng đặc biệt có các tính chất sau:
- Tính đơn sắc cao (monochromaticity): hầu hết các photon trong chùm
tia laser đều có cùng một bước sóng.


20


21

– pulse laser). Có nhiều loại xung laser khác nhau, tùy thuộc vào thời gian của
mỗi xung, có thể là xung dài (tính bằng giây), các xung ngắn 1/10 giây, 1/100
giây, hoặc cực ngắn tới nana giây (10-250ns với công nghệ Qswitching). Với
một năng lượng nhất định, khi thời gian tác động cực ngắn sẽ làm cho công
suất tăng cực cao, làm tăng khả năng bốc bay tổ chức, đồng thời giảm tới mức
tối thiểu các tổn thương nhiệt khác đối với các tổ chức lân cận.
1.3.1.4. Tương tác của laser với tổ chức sống [18], [55], [56]
Tùy theo loại laser với các bước sóng khác nhau, mật độ công suất, thời
gian tác động khác nhau, khi chiếu vào tổ chức sống sẽ xảy ra các hiệu ứng
khác nhau:
- Hiệu ứng kích thích sinh học: làm tăng sinh tế bào, cải thiện tình trạng
vi tuần hoàn, giảm việc tạo ra các gốc oxy hóa qua đó có tác dụng chống
viêm, giảm phù nề, kích thích quá trình liền vết thương. Hiệu ứng kích thích
sinh học không phá hủy tổ chức sống và chủ yếu được ứng dụng trong vật lý
trị liệu với các laser năng lượng thấp như: He-Ne, Diod, Nitro…
- Hiệu ứng quang hóa: khi đưa một chất cảm quang (photosensitizer) có
bước sóng hấp thu đã biết vào cơ thể, các chất này sẽ tập trung vào tế bào đích.
Khi chiếu laser có bước sóng phù hợp vào phổ hấp thu của các chất cảm quang,
năng lượng của laser sẽ được các chất cảm quang hấp thu, tạo ra các gốc tự do,
gây ra phản ứng oxy hóa các thành phần cơ bản của tế bào và làm phá hủy tế bào
đích một cách chọn lọc. Hiệu ứng này được ứng dụng trong điều trị ung thư và
được gọi là phương pháp trị liệu PDT (photodynamic therapy).
- Hiệu ứng quang cắt hay quang bóc lớp (photoablation): khi mật độ
công suất nhỏ hơn 1W/1cm 2, năng lượng của laser sẽ phá vỡ các liên kết điện
tử trong các nguyên tử của phân tử mà không sinh nhiệt. Sự phá vỡ các liên
kết dẫn đến việc phá hủy tổ chức ở nơi chùm tia laser tác động. Các laser
Excimer với bước sóng vùng cực tím có khả năng tạo ra hiệu ứng này rất tốt,

Có nhiều cách phân loại laser, về vật lý có thể dựa trên trạng thái, tính
chất của hoạt chất laser để phân loại, hoặc công suất của laser, trong y học căn


23

cứ theo hiệu ứng tác động của laser trên tổ chức sống, hoặc dựa theo mục đích
ứng dụng để phân loại.
- Theo hoạt chất:
+ Laser rắn: môi trường hoạt chất là các chất ở thể rắn, như laser NdYAG, laser Ruby, laser GAAs…
+ Laser lỏng: môi trường hoạt chất là một chất lỏng, như laser màu (Dye
laser) dung môi là các chất màu khác nhau, có thể tạo ra các loại laser màu
với các bước sóng khác nhau.
+ Laser khí: môi trường hoạt chất là các chất khí, có nhiều loại thông
dụng như laser CO2, laser He-Ne, laser hơi đồng, laser hơi vàng…
- Theo công suất laser: là laser công suất thấp (Soft laser): công suất tính
bằng mW, dùng để kích thích tổ chức, chủ yếu dùng trong vật lý trị liệu và
laser công suất cao (Surgery laser): công suất từ Watt đến vài chục Watt, tác
động vào tổ chức theo cơ chế nhiệt, được sử dụng nhiều trong phẫu thuật.
1.3.2. Laser Helium-Neon
1.3.2.1. Cơ chế tác động của laser Helium-Neon [18], [54], [55], [56]
Laser He-Ne là loại laser khí công suất thấp từ 1 đến 100 mW phát ánh
sáng đỏ với bước sóng 632,8 nm, là bước sóng rất thích hợp với các mô của
cơ thể sống. Tác dụng của laser He-Ne lên cơ thể sống được chia làm 2 loại:
phản ứng nhanh (hay trực tiếp) được tính theo giây hay theo phút sau khi
chiếu laser và phản ứng chậm (hay gián tiếp) với thời gian theo dõi là giờ hay
ngày. Loại phản ứng thứ nhất, rất điển hình là sự kích thích quá trình hô hấp
tế bào; còn trong loại phản ứng sau, sự gia tăng quá trình phân chia tế bào
đóng vai trò trung tâm. Karu và cộng sự [57] đã tìm ra mối quan hệ gần như
tuyến tính giữa 2 loại phản ứng này và nhấn mạnh vai trò của quá trình hô hấp

tế bào [59], [62].
- Ở mức mô, cơ quan và cơ thể: tại các mô tổn thương, laser He-Ne làm
tăng tân tạo tế bào, tân tạo mạch máu và bạch huyết, làm thay đổi hoạt tính
của enzym trong tế bào ở các mô tổn thương, làm tăng chuyển hóa [63], [64].


25

- Ở mức hệ thống (cơ thể): laser He-Ne làm hoạt hóa hệ thống miễn dịch
và các chức năng khác [65], [66].
Những đáp ứng ở mức mô, cơ quan và cơ thể được biểu hiện làm giảm
phản ứng viêm và giảm tổn thương tế bào, tăng cường miễn dịch, tăng sinh tế
bào và tái tạo mô.
1.3.2.2. Hấp thụ tia bức xạ laser He-Ne trong cơ thể sống
Laser He-Ne khi chiếu lên cơ thể sống, ngoại trừ một số ít năng lượng
của chùm tia laser bị yếu đi bởi nhiễu xạ, khúc xạ và tán xạ còn phần lớn
năng lượng sẽ được hấp thụ khi đi qua tổ chức sinh học [54]. Sự hấp thụ tia
bức xạ laser trong cơ thể sống được đặc trưng với độ xuyên sâu của tia bức
xạ laser và khả năng hấp thụ của mô.
- Độ xuyên sâu của tia bức xạ laser [54]: phụ thuộc chủ yếu vào bước
sóng của chùm tia. Đối với các loại laser khác nhau có bước sóng khác nhau
thì độ xuyên sâu vào tổ chức sinh học của chúng cũng khác nhau, ví dụ trong
các loại laser thì laser Nitơ có bước sóng 337.1 nm, laser Kadimi có bước
sóng 441.6 nm, laser He-Ne có bước sóng 632.8 nm thì laser He-Ne có độ
xuyên sâu nhất do có bước sóng dài và phát ánh sáng đỏ. Do đó việc chiếu
laser He-Ne lên các huyệt [20] và các tổn thương trên da có nhiều thuận lợi.
Thực tế, khi chiếu laser cho các đối tượng sinh học thì độ xuyên sâu còn phụ
thuộc vào các vùng mô khác nhau. Ánh sáng đỏ xâm nhập đặc biệt vào cùng
mô được cấp máu nhiều [54].
- Khả năng hấp thụ của mô [18], [54], [55]: hấp thụ mô được xác định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status