1
ĐẶT VẤN ĐÊ
Chấn thương mắt là nguyên nhân chính gây giảm thị lực và mù một mắt
trên thế giới . Tại Việt Nam, theo Phan Đức Khâm (1999) tỷ lệ chấn thương mắt
chiếm khoảng 13% tổng số các bệnh nhân mắt điều trị tại bệnh viện .
Theo Schörkhuber và cộng sự (2014) trong các trường hợp chấn thương
mắt, có từ 22% - 52% xảy ra ở trẻ em và là nguyên nhân chính gây mù một
mắt ở nhóm tuổi này . Mỗi năm trên thế giới có khoảng 250000 trẻ em bị các
chấn thương nhãn cầu nghiêm trọng .Trong đó vết thương xuyên nhãn cầu
chiếm 53% - 73,67% các chấn thương mắt ở trẻ em ,.
Vết thương xuyên nhãn cầu là một chấn thương nhãn cầu nặng,
những tổn thương do vết thương xuyên nhãn cầu thường rất trầm trọng do
phối hợp nhiều tổn thương cùng lúc, trong đó các tổn thương dịch kính
như: xuất huyết dịch kính, viêm mủ nội nhãn, dị vật buồng dịch kính là
những yếu tố tiên lượng xấu cho sự phục hồi thị lực. Do những tổn
thương của dịch kính thườngkết hợp nhiều tổn thương khác của thể thủy
tinh, võng mạc, vì vậy có thể gây nên những rối loạn trầm trọng về giải
phẫu và sinh lý của nhãn cầu ,.
Vết thương xuyên nhãn cầu ở trẻ em xảy ra trong các hoàn cảnh đa
dạng và bệnh cảnh thường nặng nề. Mặt khác do những đặc điểm sinh lý của
lứa tuổi nên diễn biến bệnh phức tạp, việc chẩn đoán, điều trị gặp nhiều khó
khăn và tỷ lệ biến chứng cao, có khi phải khoét bỏ nhãn cầu.
Phát triển thị giác ở trẻ kéo dài cho đến 9 – 10 tuổi. Vì vậy mà việc điều
trị vết thương xuyên nhãn cầu có thành công thì thị lực cũng không cải thiện
hoàn toàn do bị nhược thị .
Mặc dù các kỹ thuật điều trị đã phát triển nhưng các tổn thương của
dịch kính: xuất huyết, viêm mủ nội nhãn, dị vật do vết thương xuyên nhãn cầu
2
thành nhãn cầu, thường gây bởi vật sắc, nhọn. Vết thương xuyên thấu nhãn
cầu là vết thương đi qua thành nhãn cầu, có một lỗ vào và một lỗ ra.
Kuhn và cộng sự (1996) đã đưa ra bảng phân loại chấn thương nhãn
cầu:
Chấn thương nhãn cầu
CT nhãn cầu kín
CT
đụng
dập
CT nhãn cầu hở
Rách
nhãn
cầu
CT
Rách
lớp
VT xuyên
VT xuyên
thấu
Vỡ
nhãn
cầu
đến mất chức năng và teo nhãn cầu cao.
5
Tác nhân gây vết thương xuyên nhãn cầu thường là những vật sắc,
nhọn, đâm xuyên với quán tính lớn, không chỉ gây tổn thương tại thành nhãn
cầu còn gây tổn thương các thành phần nội nhãn: xuất huyết dịch kính, rách
hắc võng mạc, bong hắc võng mạc, dị vật nội nhãn...
Với tác nhân là vật đầu tù thì vết thương xuyên còn kèm theo những
tổn hại do cơ chế đụng dập. Trước khi tác nhân xuyên thủng vỏ nhãn cầu, thì
nhãn cầu đã chịu một lực ép cơ học tác động mạnh, trong một thời gian ngắn
làm tăng áp lực nội nhãn, gây rạn nứt thành nhãn cầu, tổn thương các thành
phần nội nhãn .
Ở trẻ em, vết thương xuyên nhãn cầu thường xảy ra trong sinh hoạt là
chủ yếu. Tác nhân thường gặp là những vật sắc, nhọn chọc vào mắt khi bị
ngã, do bạn chơi chọc hoặc do người lớn vô ý chọc vào trong lúc làm việc...
Theo Thompson và cộng sự (2002) báo cáo 72 vết thương xuyên thấu nhãn
cầu ở trẻ em, có 58% tai nạn xảy ra tại nhà, 17% do vật sắc nhọn, 17% do vật
ném như đá, kim loại, cành cây . Schorkhuber (2009) báo cáo 72 mắt chấn
thương nhãn cầu hở ở trẻ em, có 89% do vật sắc nhọn, trong đó 48,4% là đồ
chơi, dụng cụ gia đình, bút . Theo Nguyễn Thị Thu Yên (2007) trên 136 mắt
bị vết thương xuyên nhãn cầu nặng ở trẻ em có 38,2% là vết thương xuyên
phần sau, 93,3% do tai nạn sinh hoạt, 41,9% do que chọc .
1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA TỔN THƯƠNG DỊCH KÍNH DO VẾT
THƯƠNG XUYÊN NHÃN CẦU Ở TRẺ EM
1.2.1. Dịch tễ học
Theo tổ chức Y tế thế giới, trên toàn thế giới mỗi năm có khoảng 55
triệu người bị chấn thương mắt, trong đó có 1,6 triệu người trở thành mù lòa .
di chuyển của khối dịch kính về phía vết thương có thể tạo nên hiện tượng co
kéo của dịch kính lên võng mạc, đặc biệt ở những vùng có dính dịch kính võng mạc. Đây là một trong những nguyên nhân gây rách võng mạc và gây
bong võng mạc. Hơn nữa hiện tượng kẹt dịch kính vào mép vết thương sẽ tạo
điều kiện cho các tế bào xơ xâm nhập và gây tăng sinh dịch kính võng mạc,
tiền đề của bong võng mạc co kéo.
7
Thoát dịch kính là một dạng tổn thương dịnh kính hay gặp do vết
thương xuyên nhãn cầu, theo nghiên cứu của Ghieshaber và cộng sự là 25% ,
theo Elder là 24,5% , theo Beby và cộng sự là 24% .
Đục dịch kính
Đục dịch kính là hiện tượng mất tính trong suốt của dịch kính. Đục dịch
kính trong vết thương xuyên nhãn cầu do phản ứng viêm của dịch kính hoặc
do sự xâm nhập của tế bào viêm, đại thực bào, hồng cầu, nguyên bào xơ…qua
vết thương xuyên vào trong buồng dịch kính.
Đục dịch kính hình thái nhẹ là những vẩn đục lơ lửng khu trú hoạc toả
lan nhưng vẫn soi được đáy mắt toàn bộ hay từng phần. Đục dịch kính hình
thái nặng thì toàn bộ dịch kính đục, bị các chất lạ chiếm giữ, không soi được
đáy mắt .
Xuất huyết dịch kính
Bản thân khối dịch kính không có mạch máu. Xuất huyết dịch kính do
tổn thương các tổ chức lân cận, tổn thương các mạch máu của thể mi, hắc
mạc, võng mạc. Đây là một trong những tổn thương nặng, điều trị tiêu máu
khó khăn và là một trong những nguyên nhân gây giảm thị lực cho bệnh nhân
nếu không được điều trị can thiệp phẫu thuật cắt dịch kính. Mặt khác, xuất
huyết dịch kính cũng cản trở khả năng quan sát đáy mắt để phát hiện và điều
trị kịp thời các tổn thương dịch kính - võng mạc phối hợp khác (như các rách
võng mạc). Máu xâm nhập vào buồng dịch kính sẽ khởi động một quá trình
xơ trong dịch kính gây co kéo từ sau ra trước và xung quanh vùng nền dịch
kính lên vùng võng mạc chu biên. Chính các co kéo này sẽ tạo nên các vết
rách võng mạc. Thời gian xuất hiện TSDKVM sau khi chấn thương có thể dao
động từ 1 tháng đến 6 tháng. TSDKVM sau vết thương xuyên chính là nguyên
nhân gây ra bong võng mạc co kéo và bong võng mạc có vết rách.
9
Các yếu tố làm tăng nguy cơ gây tăng sinh dịch kính võng mạc
gồm: tổn thương thuỷ tinh thể, sự tồn tại của máu, mủ trong buồng dịch
kính, rách võng mạc.
Đối vớivết thương xuyên nhãn cầu có kèm dị vật nội nhãn,các yếu tố
nguy cơ có khả năng làm tăng sự xuất hiện TSDKVM, bao gồm: kích thước
của dị vật, sự xuất hiện của tổn thương võng mạc và tổn thương thủy tinh thể
phối hợp .
Dị vật trong buồng dịch kính
Vết thương xuyên nhãn cầu có dị vật trong buồng dịch kính là một chấn
thương rất nặng của nhãn cầu, do gây tổn thương phức tạp và nhiều biến
chứng. VTX nhãn cầu có dị vật nội nhãn chiếm khoảng 20%-40% các
trường hợp VTX nhãn cầu nói chung. Trong đó, dị vật phần sau nhãn cầu
chiếm 72,5%, vị trí dị vật hay gặp nhất là trong dịch kính với 43,9% . Tỷ lệ
vết thương xuyên có dị vật buồng dịch kính ở trẻ em trong nghiên cứu của
Elder (1993) là 5,9% , trong nghiên cứu của Hosseini và cộng sự (2011) là
9,2% . Tổn thương do dị vật nội nhãn bao gồm những tổn hại do dị vật gây
ra trên đường đi và các quá trình bệnh lý do đáp ứng của tổ chức nội nhãn
với dị vật.
Khi dị vật đi vào nhãn cầu sẽ gây tổn thương các cấu trúc, tổ chức
của nhãn cầu (rách giác mạc, rách củng mạc, đục vỡ thể thủy tinh, tổn
thương mống mắt, thoát dịch kính, xuất huyết dịch kính, xuất huyết võng
thương xuyên nhãn cầu ở trẻ em cho thấy 62,7% mắt bị VMNM có vị trí vết
thương xuyên ở giác mạc, 25,6% ở củng mạc, 11,7% ở củng giác mạc. Có
44,1% mắt VMNM được phát hiện khi vào viện, 46,6% đến viện sau 24 giờ
từ khi chấn thương . Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Yên tỷ lệ
VMNM là 41,9% trong 136 mắt bị vết thương xuyên ở trẻ em .
11
Các nghiên cứu của tác giả Acar , Narang , Junejo , Meena cho thấy
VMNM là một trong các yếu tố tiên lượng nặng với vết thương xuyên nhãn
cầu. Các yếu tố nguy cơ gây VMNN sau chấn thương xuyên là sự chậm trễ
khâu phục hồi sự toàn vẹn nhãn cầu, vết thương phần sau nhãn cầu, thoát dịch
kính, vỡ thể thủy tinh, dị vật nội nhãn, kích thước VTX nhãn cầu trên 8mm.
1.2.2.3. Các tổn thương phối hợp
Rách và bong võng mạc
Rách võng mạc thường xuất hiện tại vị trí VTX hoặc tại điểm chạm
võng mạc của dị vật nội nhãn. Tuy nhiên, các vết thương võng mạc lại thường
không phải là nguyên nhân chính gây bong võng mạc. Ở đây, TSDKVM
(xuất hiện và được kích thích bởi một loạt yếu tố như xuất huyết dịch
kính, vỡ thể thủy tinh, xử trí không tốt VTX…) mới là tác nhân gây bong
võng mạc co kéo .
Rách hắc mạc
Trong VTX phần sau nhãn cầu, hắc mạc rách tại nơi tác nhân xuyên
qua thành nhãn cầu. Khi rách các mao mạch hắc mạc thường dẫn đến xuất
huyết trong hắc mạc, dưới võng mạc hay xuất huyết dịch kính. Thường xuất
huyết che lấp chỗ rách. Khi xuất huyết và phù nề võng mạc tiêu hết sẽ thấy
một vết sẹo mầu trắng vàng nằm ở mức màng Bruch, thường có đọng sắc tố
quanh vết rách .
Xuất huyết tiền phòng
cảm sau vết thương xuyên nhãn cầu xấp xỉ 0,2%, xuất hiện sớm nhất 16
ngày .
Teo nhãn cầu
Là hậu quả cuối cùng của vết thương xuyên nhãn cầu có biến chứng
1.3. ĐIÊU TRỊ TỔN THƯƠNG DỊCH KÍNH DO VẾT THƯƠNG XUYÊN Ở
TRẺ EM
1.3.1. Nguyên tắc điều trị
Đóng kín vết thương, phục hồi lại bình diện giải phẫu, khôi phục và
duy trì sự toàn vẹn của nhãn cầu.
13
Cố gắng bảo tồn và hồi phục tối đa chức năng của mắt bị chấn thương.
Điều trị các tổn thương phối hợp.
Ngăn chặn và hạn chế các biến chứng nặng xảy ra trong quá trình điều trị.
1.3.2. Xử trí cấp cứu
Cố gắng bảo tồn nhãn cầu. Phẫu thuật càng sớm càng tốt để hạn chế
phòi các tổ chức nội nhãn, hạn chế nhiễm trùng.
Những vết rách giác mạc hay rách giác củng mạc thương thấy rõ. Rách
củng mạc thường phải thăm dò.
Nếu có dịch kính thoát ra, dùng kéo cắt sát bề mặt củng mạc. Không
được để dụng cụ chọc vào buồng dịch kính. Nếu có võng mạc phòi ra, cần
đẩy trở lại. Nếu thấy có rách võng mạc cần phải lạnh đông vùng có rách võng
mạc (sau khi đã khâu phục hồi nhãn cầu).
Khi đã phục hồi hình thể toàn vẹn của nhãn cầu, lúc này mới xem xét
đến xử trí các tổn thương dịch kính và các tổn thương phối hợp khác.
1.3.3. Điều trị nội khoa
Tiêm phòng uốn ván cho bệnh nhân.
Lấy dị vật trong buồng dịch kính bằng phương pháp cắt dịch kính:
Dị vật không có từ tính.
Dị vật nội nhãn kèm theo đục dịch kính nhiều: xuất huyết, mủ, tổ chức
hóa dịch kính.
Dị vật cắm vào hắc võng mạc.
Dị vật từ tính có bao xơ bọc.
Dị vật đã lấy bằng phương pháp khác không có kết quả.
1.3.4.3. Xử trí viêm mủ nội nhãn
Điều trị VMNN sau VTX nhãn cầu cần phối hợp: kháng sinh, corticoid,
tiêm kháng sinh nội nhãn và cắt dịch kính.
15
Mắt được chẩn đoán viêm mủ nội nhãn ngoài việc dùng kháng sinh,
corticoid toàn thân, tra mắt cần phải được tiêm kháng sinh nội nhãn càng sớm
càng tốt. Kháng sinh tiêm nội nhãn hiện nay thường dùng là: Ceftazidim liều
2,25mg/0,1ml và Vancomycin liều 1mg/0,1ml. Sau 24h nếu không tiến triển
tốt thì có chỉ định cắt dịch kính, bơm dầu silicon nội nhãn.
1.3.5. Tình hình nghiên cứu và kết quả điều trị tổn thương dịch kính do
vết thương xuyên nhãn cầu ở trẻ em.
Điều trị tổn thương dịch kính do vết thương xuyên nhãn cầu ở trẻ em
bao gồm: phục hồi cấu trúc giải phẫu của nhãn cầu, cải thiện thị lực, ổn định
nhãn áp, xử lý các biến chứng là những tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị.
Nghiên cứu của Jandeck (2000) trên 38 trẻ em chấn thương nhãn cầu
hở, có 71% vết thương xuyên, 7,9% vết thương xuyên thấu nhãn cầu, 7,9% dị
vật nội nhãn. Kết quả điều trị: trong số mắt có tổn thương thoát dịch kính
(18,4%) kết quả thị lực ≥ 20/40 chiếm 57%, 100% có kết quả thị lực ≥
20/200, khi có tổn thương cả dịch kính và bán phần trước (28,9%) kết quả thị
lực ≥ 20/40 chỉ được 36%, ≥ 20/200 là 55% [18].
TSDKVM. Tất cả những mắt bị chấn thương nhãn cầu hở có chỉ định cắt dịch
kính đều có thị lực ≤ ĐNT 5m. Sau phẫu thuật, 60% mắt thị lực cải thiện,
24% mắt thị lực không cải thiện, 16% mắt thị lực kém hơn [38].
Nghiên cứu của Junejo và cộng sự (2010), trong số 43 trẻ bị VTX nhãn
cầu có 44,1% viêm mủ nội nhãn. Trong số đó, 2 bệnh nhân (13,3%) có kết
quả thị lực ĐNT ≥ 5m, 4 bệnh nhân (26,7%) thị lực BBT, 5 bệnh nhân
(33,4%) thị lực ST (+), 2 bệnh nhân (13,3%) bị teo nhãn cầu .
Nghiên cứu Acar và cộng sự (2011) trên 30 mắt bị vết thương xuyên
nhãn cầu ở 29 trẻ từ 15 tuổi trở xuống. Vết thương xuyên giác mạc chiếm
66,67%, vết thương xuyên củng giác mạc chiếm 23,33%, vết thương xuyên
củng mạc là 10%, có 3,33% mắt có xuất huyết dịch kính, 10% có bong
võng mạc. Thị lực khi vào viện: 9,09% thị lực ≥ 20/40, 18,18% thị lực
20/200 – 20/50, 36,36% thị lực ST(+) – BBT, có 9,09% thị lực ST(-). Kết
17
quả thị lực sau 1 năm theo dõi: 29,63% thị lực ≥ 20/40, 40,47% thị lực
20/200 – 20/50, 11,1% thị lực ST(+) – BBT, có 11,1% thị lực ST(-) .
Nghiên cứu của Ilhan và cộng sự (2013) trên 90 trẻ dưới 16 tuổi chấn
thương nhãn cầu hở ở Thổ Nhĩ Kỳ. Trong đó 3,3% mắt có xuất huyết dịch kính,
5,6% có dị vật nội nhãn, 1,1% viêm mủ buồng dịch kính. Khi vào viện thị lực ≤
ĐNT 5m chiếm tỷ lệ 54,4%, thị lực ≥ 20/200 chỉ chiếm 8,9%. Sau 6 tháng thị lực
≥ 20/200 tăng lên 51,1%, thị lực ≤ ĐNT 5m chỉ còn 33,3% .
Nghiên cứu của Khanzada (2012) các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thị
lực sau điều trị chấn thương nhãn cầu hởtrên trẻ em. Trong tổng số 52 mắt
nghiên cứu có 2 mắt (3,84%) xuất huyết dịch kính, 4 mắt (7,69%) viêm mủ
buồng dịch kính, 10 mắt (19,23%) có dị vật nội nhãn. Kết quả thị lực tốt ≥ 20/40
là 36/52 mắt (69,23%), thị lực kém < 20/200 là 16/52 mắt (30,76%) [34].
Nghiên cứu của Schörkhuber (2014) trên 71 trẻ có chấn thương nhãn
Trong nghiên cứu của Bunting H và cộng sự (2013) hồi cứu 131 trẻ
dưới 18 tuổi chấn thương nhãn cầu hở, có 56,5% thị lực ≥ 20/40 sau thời gian
theo dõi 24,8 tháng. Các yếu tố tiên lượng thị lực kém là: xuất huyết dịch
kính, bong võng mạc, vết thương xuyên vùng 3 .
Elfayoumi và Zayed M(2013) nghiên cứu dịch tễ học chấn thương nhãn
cầu hở ở trẻ em từ 2 – 16 tuổi tại Cairo, Ai Cập thấy rằng: hầu hết chấn
thương xảy ra ở lứa tuổi 2 – 6 tuổi là 44,9%, lứa tuổi 7 – 10 là 22,6%, lứa tuổi
11 – 16 là 32,4%. Tỷ lệ trẻ nam là 73,4%, trẻ nữ là 26,6%. Có 4,3% trẻ bị
chấn thương nhãn cầu hở có thoát dịch kính qua vết thương, 1,6% có dị vật
nội nhãn .
Nghiên cứu của Liu và cộng sự (2014) xác định các yếu tố tiên lượng
thị lực kém (≤ 20/200) cho chấn thương nhãn cầu hở ở trẻ em dưới 17 tuổi là:
trẻ em dưới 6 tuổi, thị lực vào viện kém, vết thương xuyên phần sau nhãn cầu,
19
xuất huyết dịch kính, bong võng mạc, xuất huyết tiền phòng, phải phẫu thuật
cắt dịch kính .
1.3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến chẩn đoán và điều trị tổn thương dịch
kính do vết thương xuyên ở trẻ em
Khai thác bệnh sử về hoàn cảnh chính xác của chấn thương là yếu tố
quan trọng để xác định tác nhân gây chấn thương, cơ chế chấn thương, vị trí
chấn thương. Từ đó có thể tiên lượng được mức độ chấn thương, tiên lượng
kết quả điều trị. Trẻ nhỏ không thể mô tả được hoàn cảnh chấn thương, thậm
chí những trẻ lớn còn che dấu, không nói chính xác nguyên nhân hoàn cảnh
chấn thương. Vì vậy làm chậm trễ cho việc chẩn đoán, sơ cứu và điều trị.
Ở trẻ nhỏ (dưới 6 tuổi) việc khám mắt sau khi chấn thương rất khó
khăn do trẻ không hợp tác, đặc biệt khám các tổn thương phía sau nhãn cầu:
dịch kính, võng mạc. Do đó nhiều tổn thương của dịch kính chỉ được phát
Những bệnh nhân có bệnh toàn thân nặng hoặc mắt đã có chấn thương cũ.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu theo phương pháp mô tả, tiến cứu không có
nhóm chứng.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
n = Z21-α/2
p (1-p)
(p.ε)2
Trong đó:
Tỷ lệ vết thương xuyên có tổn thương dịch kính điều trị có kết quả
Schorkhuber M là: 0,888 .
ε: Khoảng sai lệch tương đối được ấn định trong nghiên cứu, ε = 0,11.
α: Mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 0,05.
Z: (hệ số tin cậy) = 1,96.
Từ công thức trên cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu là n ≈ 36 mắt.
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu
21
Chọn mẫu toàn thể liên tục các bệnh nhân trẻ em bị vết thương xuyên
nhãn cầu có tổn thương dịch kính đáp ứng được các tiêu chuẩn lựa chọn.
2.2.4. Phương tiện nghiên cứu
Bảng thị lực Snellen hoặc bảng hình.
Nhãn áp kế Maclakov với quả cân 10g.
Sinh hiển vi đèn khe, máy chụp ảnh.
Siêu âm mắt: tìm tổn thương thành nhãn cầu phần sau nhãn cầu.
Chụp X quang hốc mắt, khu trú Baltin, CT scan hốc mắt (nếu cần thiết):
xác định dị vật nội nhãn.
Làm các xét nghiệm cơ bản.
2.2.5.4. Phương pháp điều trị
Xử trí cấp cứu:
- Khâu bảo tồn nhãn cầu: Cần đóng vếtthương xuyên càng sớm càng tốt
để hạn chế phòi các tổ chức nội nhãn, hạn chế nhiễm trùng. Nếu có mủ, xuất
tiết tiền phòng thì lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm vi sinh.
- Tiêm kháng sinh nội nhãn khi có viêm mủ nội nhãn hoặc có nguy cơ
viêm mủ nội nhãn: mủ, xuất tiết tiền phòng, tác nhân chấn thương bẩn. Kháng
sinh tiêm nội nhãn hiện nay thường dùng là: Ceftazidim liều 2,25mg/0,1ml và
Vancomycin liều 1mg/0,1ml.
- Điều trị nội khoa phối hợp: kháng sinh, chống viêm toàn thân và tra
mắt. Atropin 0,5% tra mắt.
Xử trí thì 2 các tổn thương dịch kính:
- Điều trị nội khoa phối hợp phẫu thuật hoặc có thể điều trị nội khoa
đơn thuần khi không có chỉ định phẫu thuật.
- Phẫu thuật cắt dịch kính qua Pars plana
- Đai củng mạc
- Phẫu thuật lấy thể thuỷ tinh: khi thể thuỷ tinh đục hoặc đục vỡ, lệch
do chấn thương phối hợp dịch kính trước và cắt bao sau ở trung tâm.
23
2.2.5.5. Theo dõi
Các bệnh nhân được đánh giá và theo dõi diễn biến hàng ngày trong
thời gian nằm điều trị tại khoa Chấn thương.
Theo dõi định kỳ sau khi ra viện 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng. So sánh kết
Xuất huyết dịch kính. Được chia làm 3 mức độ:
- Xuất huyết ít: dịch kính chỉ vẩn đục, ánh đồng tử hồng, soi rõ đáy mắt.
- Xuất huyết trung bình: che lấp một phần đáy mắt.
- Xuất huyết dịch kính nhiều: máu đầy buồng dịch kính, che lấp hoàn
toàn đáy mắt, ánh đồng tử tối.
Mủ trong dịch kính.
Dải xơ trong dịch kính.
Dị vật trong dịch kính.
Chất thể thủy tinh rơi trong buồng dịch kính.
2.2.6.5. Đặc điểm các tổn thương kèm theo
Xuất huyết tiền phòng.
Tổn thương thể thủy tinh: đục, vỡ, lệch
Tổn thương hắc - võng mạc: Rách hắc - võng mạc, bong võng mạc.
2.2.6.6. Đặc điểm thị lực khi vào viện
Theo bảng OTS cho chấn thương nhãn cầu của Kuhn (2002) :
Mức 1: ≥ 20/40
Mức 2: 20/200 đến 20/50
Mức 3: ĐNT 0,3m đến 20/400
Mức 4: Phân biệt được sáng tối (ST(+)) đến BBT
Mức 5: Không thấy ánh sáng (ST(-)).
2.2.6.7. Đánh giá kết quả điều trị
Đánh giá kết quả giải phẫu
Theo tình trạng dịch kính – võng mạc:
25
- Tốt: dịch kính trong, soi rõ đáy mắt từ trước xích đạo đến võng mạc
trung tâm, võng mạc áp. Trên siêu âm (nếu được) thể hiện dịch kính trong,
võng mạc áp.