1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bất thường mạch máu là bệnh lý rất hay gặp ở trẻ em và được các tác
giả nghiên cứu từ nhiều thập kỷ trước ,. Trước đây việc chẩn đoán và phân loại
thường gặp khó khăn do thường gộp chung các bệnh lý bất thường mạch máu với
thuật ngữ “u máu hay bướu máu” (angiomas, hemangiomas) .
Năm 1982, Mulliken và Glowacki công bố phân loại mới về bất thường
mạch máu dựa trên đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của các tổn thương . Phân
loại này về sau được chấp nhận và bổ sung bởi Hiệp hội quốc tế nghiên cứu về
các bất thường mạch máu (ISSVA -International Society for the Study of
Vascular Anomalies), nó đã trở thành hệ thống phân loại bất thường mạch máu
được chấp nhận rộng rãi nhất trong y văn. Các bất thường mạch máu (vascular
anomalies) được phân chia thành 2 nhóm khác nhau gồm: Dị dạng mạch máu
(vascular malformations) và U mạch máu (vascular tumors).
U mạch máu (vascular tumors), đặc trưng bởi sự tăng sinh của tế bào nội
mô, thường xuất hiện sau sinh, phần lớn diễn tiến qua 3 giai đoạn: phát triển,
ổn định và thoái triển.
Dị dạng mạch máu (vascular malformations), đặc trưng bởi sự phát triển
bất thường về cấu trúc hình thể của mạch máu (động mạch, tĩnh mạch, mao
mạch, bạch huyết) ngay thời kỳ bào thai, tăng kích thước theo sự phát triển của
cơ thể, không thoái triển. Tuy nhiên, nó có thể đột ngột tăng kích thước sau một
chấn thương, nhiễm khuẩn, hay thay đổi hóoc môn. Các biến chứng có thể gặp
như: ứ máu, thiếu máu cục bộ, bất thường xương, bệnh đông máu, xơ cứng
lòng mạch, suy tim hoặc tử vong .
Để điều trị các bất thường mạch máu cần sự phối hợp của nhiều chuyên
2
khoa: nhi khoa, da liễu, phẫu thuật tạo hình, phẫu thuật mạch máu, chẩn đoán
hình ảnh, gây mê hồi sức
Ở Việt nam, do chưa thống nhất về phân loại các bất thường mạch máu
nên đôi khi các bác sĩ còn nhầm lẫn giữa các u mạch máu và các dị dạng
mạch máu. Hơn nữa, còn chưa có sự phối hợp giữa các chuyên khoa trong
phẩm “strawberry hemangioma” (u máu hình quả dâu tây), “cherry
angioma” (u máu hình quả anh đào), “port-wine stain” (vết rượu vang),
“salmon patch” (miếng cá hồi) được dùng để gọi .
Năm 1880, Virchow và Wegner phân loại theo đặc điểm bệnh học, dựa
trên kích thước và đặc điểm của những mạch máu cấu tạo nên. Gồm 2 nhóm :
4
U mạch máu (angiomas): u mạch máu đơn giản (Angioma simplex), u máu
hang (Angioma carvenosum), u mạch máu thể chùm (Angioma racemosum).
U bạch mạch (lymphangiomas): u bạch mạch đơn giản (simplex), u
bạch mạch thể hang (cavernosum) và u bạch mạch thể nang (cystoides).
Năm 1982, Mulliken và Glowacki đã dựa trên sự khác nhau về đặc
điểm lâm sàng, bệnh học và mô học để phân loại các bất thường mạch máu
thành 2 nhóm khác nhau :
U mạch máu (Hemangiomas): là những tổn thương tăng sinh tế bào
nội mô, thường xuất hiện sau sinh, phát triển nhanh trong những tháng đầu
của đời sống và thoái lui qua nhiều năm.
Dị dạng mạch máu (Vascular malformations): là những sai sót trong
phát triển hình dạng của mạch máu với các tế bào nội mô bình thường,
thường xuất hiện vào lúc sinh, lớn lên tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của trẻ
và không bao giờ thoái lui.
Nhóm từ “Angiomas” đã được thay thế bằng “Hemangiomas and
Vascular malformation”.
Năm 1993, Jackson và cộng sự đề xuất phân loại bất thường mạch máu
dựa vào lâm sàng, mô học và đặc điểm dòng chảy. Chia làm 3 nhóm: (nhóm I)
u máu; (nhóm II) dị dạng mạch máu (tổn thương dòng chảy thấp hay dị dạng
tĩnh mạch và dòng chảy cao hay dị dạng động mạch) và (nhóm III) dị dạng
bạch mạch .
Năm 1996, tại hội nghị lần thứ 11 ở Roma, Hiệp hội quốc tế nghiên cứu các
bất thường mạch máu (ISSVA- International Society for the Study of Vascular
Anomalies) đã chấp thuận và bổ sung theo phân loại của Mulliken và Glowacki,
dạng mao mạch hay vết rượu vang (Capillary Malformation), dị dạng tĩnh
mạch (Venous Malformation), dị dạng bạch mạch (Lymphatic Malformation),
dị dạng động mạch (Arterial Malformation) và các thể phối hợp (combined):
dị dạng động tĩnh mạch (Arteriovenous Malformation), dị dạng thông động
tĩnh mạch (Arteriovenous Fistula)…
Phân loại của ISSVA về các dị dạng mạch máu có thể được phân chia
thành 2 nhóm dựa vào đặc điểm dòng chảy và thành phần mạch máu .
Bảng 1.2. Phân loại của ISSVA về các dị dạng mạch máu
6
Dòng chảy chậm (Slow-flow)
Đơn thuần (Simple)
Dị dạng mao mạch (bớt rượu vang): CM
Dị dạng tĩnh mạch
(Dị dạng tĩnh mạch nông, sâu, búi tĩnh
mạch): VM
Dị dạng bạch mạch (nang lớn, nang nhỏ,
phối hợp): LM
Phối hợp (Combined):
Dị dạng mao bạch mạch: CLM
(angiokeratoma)
Dị dạng mao bạch tĩnh mạch: CLVM
(capillary-lymphaticvenous
malformation)
Giãn mao mạch da: Telangiectatica
Congenital
Dòng chảy nhanh (Fast- flow)
Dị dạng động mạch: AM
Dị dạng động-tĩnh mạch: AVM
Thông động-tĩnh mạch: AVF
Dị dạng mao-động-tĩnh mạch:
huyết quản phẳng, u huyết quản sùi) và u bạch mạch (gồm có: u bạch mạch
thể lan tỏa, u bạch mạch thể sùi).
Những năm gần đây trong các nghiên cứu của Phạm Hữu Nghị, Đỗ Đình
Thuận, Đỗ Ngọc Linh, Phạm Minh Thông có phân chia bất thường mạch máu
theo phân loại của ISSVA .
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊ DẠNG MAO MẠCH
Xuất hiện ngay từ lúc sinh, tỷ lệ 3/1000 trẻ (tuỳ thuộc vào các nghiên
8
cứu ở các nước khác nhau), không bao giờ mất đi, có thể gặp ở bất cứ đâu
trên cơ thể, khu trú hay rải rác, tỷ lệ gặp ở nam và nữ như nhau .
Các tác giả chia dị dạng mao mạch thành 2 loại: vết rượu vang (Port-wine
stains) và dị dạng đường giữa (middle vascular malformation) , .
1.2.1. Đặc điểm lâm sàng
Lúc mới sinh: tổn thương dưới dạng những vết màu hồng hoặc đỏ, bề
mặt phẳng hay mịn (trước kia hay gọi là “u máu phẳng- angiome plan” hoặc
“vết rượu vang- porte-wine stains”).
Ở tuổi trưởng thành: tổn thương trở lên dày và thẫm màu (đỏ thẫm,
tím), có thể nổi sẩn cục gồ lên trên bề mặt da hoặc gây phì đại tổ chức phần
mềm hoặc sừng hóa.
Tổn thương dị dạng CM lớn lên tỉ lệ với sự phát triển của trẻ, có thể
gây phì đại các cấu trúc phần mềm hay xương lân cận (môi, mũi, xương
hàm ) gây mất cân đối mặt, xương hàm, thân mình và phì đại chi thể.
Với vết rượu vang biểu hiện trên khuôn mặt: thường 1 bên nhiều hơn 2
bên, chủ yếu biểu hiện theo nhánh V2 của dây TK V (thần kinh cảm giác trên
khuôn mặt), đôi khi biểu hiện các nhánh phối hợp V1&V2, V2&V3.
Tránh nhầm lẫn vết rượu vang (Port-wine stains) với dị dạng đường
giữa (middle vascular malformation): thường xuất hiện ở giữa: trán “angle’s
kiss – nụ hôn thiên thần”, gáy “stork bite – vết cò cắn”, lưng “salmon path –
vết cá hồi”. Các dị dạng này thường mờ dần hoặc biến mất sau vài năm (nhất
là các dị dạng ở gáy và lưng) .
người già không dùng được.
Phương pháp xăm da: đạt được hài lòng nhất định, tuy vậy mang tính
che phủ tạm thời, hay gặp bất thường bề mặt da xung quanh và xuất hiện sẩn
mạch thứ phát do chấn thương với kim xăm.
Phương pháp bào da cơ học: chỉ định với dị dạng mao mạch phân bố
ở nông mới có kết quả, ngược lại ở sâu sẽ ít thành công.
Phương pháp chiếu tia phóng xạ: chỉ định hạn chế, kết quả hạn chế.
Phương pháp phẫu thuật lạnh: ít được sử dụng do nhược điểm đau,
sẹo xấu.
Phương pháp laser màu (pulsed dye laser): hiệu quả cao nhất 80%
Chỉ định điều trị cho các vết rượu vang.
A B
11
Tác dụng dựa trên nguyên lý sử dụng các bước sóng chọn lọc lên
oxyhemoglobin (577, 585, 595 nm), tác dụng làm đông lòng mạch và ít phá
hủy các tổ chức xung quanh.
Kết quả điều trị tốt nhưng còn nhược điểm phải điều trị nhiều lần (6-10)
Ngoài ra còn sử dụng laser CO2 để điều trị, tuy nhiên có thể gặp sẹo
xấu sau điều trị.
Phương pháp phẫu thuật: dùng khi có ảnh hưởng tới chức năng và
thẩm mỹ. Gồm có:
Cắt bỏ u, kéo 2 mép vết mổ lại rồi khâu đóng da trực tiếp.
Cắt bỏ u rồi tạo hình che phủ bằng các vạt da lân cận.
Cắt u, khâu thu nhiều lần, cắt u và ghép da rời tự thân.
Sử dụng tùi căng giãn da .
Có thể sử dụng các loại vạt vi phẫu để che phủ khuyết hổng sau cắt
Điều trị các tổn thương kèm theo: cắt các tổ chức phần mềm xung quanh
phì đại, phẫu thuật cắt xương (cắt chỉnh xương hàm khi có biến dạng xương)
1.3. ĐẶC ĐIỂM DỊ DẠNG BẠCH MẠCH
Phân loại gồm dị dạng nang lớn, nang nhỏ hoặc phối hợp, gặp ở nam và
A
A
13
sinh . Ngoài ra còn chẩn đoán phân biệt giữa LM (dòng chảy chậm) với AM
(dòng chảy nhanh) và hướng dẫn để tiêm xơ.
Cộng hưởng từ (MRI): là tiêu chuẩn vàng để xác định phạm vi tổn
thương và xác định tổn thương sâu của dị dạng bạch mạch nông . Thấy tổn
thương thành thùy hoặc khối tách biệt, dấu hiệu giảm sáng trên T1W và tăng
sáng trên T2W. Khi chụp tiêm thuốc cản quang: ở nang nhỏ không có dấu hiệu
ngấm thuốc, ở nang lớn có dấu hiệu ngấm thuốc hình ở thành hoặc vách.
CT-scan: giúp chẩn đoán tổn thương xương kèm theo .
Hình 1.4. Hình ảnh bệnh nhân dị dạng bạch mạch trên MRI
A.Hình ảnh giảm sáng trên T1W
B.Hình ảnh tăng sáng trên T2W
1.3.3. Điều trị
Điều trị không phẫu thuật:
Chọc hút bạch mạch: được sử dụng tuy nhiên tỷ lệ tái phát cao.
Tiêm sơ bề mặt có thể áp dụng cho dị dạng bạch mạch nang lớn: các
chất tiêm như nước muối ưu trương, cồn nguyên chất (Ethibloc), acetic acid,
bleomycin. Ngoài ra còn dùng OK-432 (hợp chất bào chế từ A Streptococcus
pyogenes trộn với benzylpenicillin-Kali) có kết quả cao với dị dạng bạch
BA
14
mạch nang lớn, hiệu quả vùng đầu mặt cổ, nhất với nang lớn. Nang nhỏ
không đáp ứng với điều trị tiêm xơ, có hiệu quả với doxycycline .
Một vài báo cáo điều trị dị dạng bạch mạch với laser Nd Yag- Qswitch
cho kết quả cao, tuy nhiên phải điều trị nhiều lần.
Các điều trị hỗ trợ khác: nghỉ ngơi, chống đau, chống viêm.
Điều trị phẫu thuật:
Chỉ định khi có hạn chế về chức năng, triệu chứng nặng lên và mong
cả cơ và niêm mạc miệng VM thường 1 bên, khối thường tác động mất cân
đối mặt, hình ảnh lệch mặt.
+ Tổn thương ở thái dương thường lan tới cả phần dưới hố thái dương
và tuyến mang tai.
+ Miệng: răng bị lệch, khớp cắn hở hoặc chéo.
+ Mắt: gây thông rãnh chân bướm hàm với hố thái dương và má
+ Má, lưỡi có tổn thương nhưng ít gây ảnh hưởng đến phát âm
Chi thể: có thể đi kèm ở các hội chứng Klippel-Trenaunay…với triệu
trứng ứ máu chi, đau và sưng nề gây phì đại chi.
Biến chứng có thể gặp: viêm tĩnh mạch và chảy máu nội tạng. Có thể
tắc mạch do ứ đọng canxi.
BA
C D
Hình 1.6. Các vị trí dị dạng tĩnh mạch có thể gặp
O HYPERLINK \l "_ENREF_3" \o "Garzon, 2007 #1" 3]
A. Hình ảnh dị dạng tĩnh mạch lưỡi gây phì đại lưỡi
B. Hình ảnh dị dạng tĩnh mạch ở bàn ngón tay gây phì đại ngón tay
C. Hình ảnh dị dạng tĩnh mạch ở sâu dưới cơ lưng to
D. Hình ảnh dị dạng tĩnh mạch dạng búi tĩnh mạch
B
B
A
A
Hình 1.5. Hình ảnh canxi trong
VM cẳng chân (P) O HYPERLINK
\l "_ENREF_7" \o "Legiehn,
2008 #22" 7]
A. Hình ảnh sỏi canxi rải rác
B. Hình ảnh canxi hóa gây biến dạng
tổ chức vùng cẳng chân (P)
A
A
Hình 1.8. BN dị dạng tĩnh mạch lưỡi má với hình ảnh trên MRI
O HYPERLINK \l "_ENREF_9" \o "Hochman, 2011 #36" 9]
A. Hình ảnh trước chụp khi chưa có thuốc cản quang trên T1W
B. Hình ảnh sau tiêm cản quang trên T1W
C. Hình ảnh sau tiêm cản quang trên T2W
B
B
A
A
Hình 1.7. Dị dạng tĩnh mạch má trên siêu âm
A.Hình ảnh cấu trúc giảm âm
B.Hình ảnh siêu âm Doppler xác định dòng chảy thấp
18
tetradecyl sulfate, Polidocanol, Ethanol oleat) hoặc nút mạch (coils ). Có thể
gặp các biến chứng như nhiễm trùng, hoại tử, tổn thương thần kinh, nhiễm
độc thận, tim.
Điều trị giảm đau, chống viêm (Aspirine).
Laser Argon hay Nd YAG Q-switch có thể được sử dụng điều trị dị dạng
tĩnh mạch trong miệng, môi, mũi nhưng cần lập lại điều trị nếu cần , .
Phẫu thuật: chỉ định khi có nhiều triệu chứng hoặc tổn thương chức
năng (chảy máu, đau, chèn ép thần kinh…) và những tổn thương do biến dạng
thẩm mỹ. Phẫu thuật có thể làm 1 thì hay nhiều thì, có hoặc không tiêm xơ
trước phẫu thuật.
1.5. ĐẶC ĐIỂM DỊ DẠNG ĐỘNG TĨNH MẠCH
Hiếm gặp, thường xuất hiện từ khi sinh (60%), gặp ở nam và nữ như
nhau, thường xuất hiện ở đầu mặt cổ .
1.5.1. Đặc điểm lâm sàng
Da màu đỏ hoặc tím, sờ thấy 1 khối chắc, ấm, có thể cảm thấy tiếng
Hình 1.9. Các vị trí thường gặp của dị dạng động tĩnh mạch
O HYPERLINK \l "_ENREF_3" \o "Garzon, 2007 #1" 3]
A. Hình ảnh dị dạng thông động tĩnh mạch má, tai và cổ (giai đoạn I&II của AVM)
B. Hình ảnh dị dạng thông động tĩnh mạch ở bàn ngón
20
1.5.3. Điều trị
Dựa theo tổn thương ở các giai đoạn lâm sàng:
- Giai đoạn tổn thương sớm (I và II) có thể được cắt và tái tạo: phối hợp
gây tắc mạch và cắt tổn thương.
- Đau và tổn thương lớn nhanh (III và IV) cần được bảo đảm can thiệp sớm
cho xác suất tiến triển cao và đôi khi kèm theo nguy cơ chảy máu nghiêm trọng.
- Can thiệp cho giai đoạn I tăng sinh còn gây nhiều tranh cãi vì: chưa
xác định được nguy cơ tiến triển cho lần sau.
- Trường hợp tổn thương AVM mức độ nhẹ có thể cắt trực tiếp và đóng
trực tiếp, ghép da hay tạo vạt tại chỗ. Khi tổn thương AVM lớn, nguy hiểm cần
phối hợp chuyên khoa mạch máu và chẩn đoán hình ảnh để nút mạch .
B
B
A
A
C
C
Hình 1.10. Thông động tĩnh mạch má phải O HYPERLINK \l
"_ENREF_10" \o "Tao, 2010 #21" 10]
A. Hình ảnh trên CT khó phân biệt tổn thương bệnh lý với tổ chức
lành
B. Hình ảnh trên CT có tiêm thuốc cản quang cho bờ tổn thương rõ hơn
C,D. Hình ảnh trên CT mạch máu thấy khối dị dạng rõ các búi
D
D
- Đau khi vận động (hay đau vào buổi sáng).
1.6.3.2. Cận lâm sàng:
- Siêu âm: thấy dòng chảy chậm
- MRI: dấu hiệu giảm sáng trên T1W, tăng sáng trên T2 W. Dấu hiệu
gợi ý nhất là thấy sỏi.
- CT Scan: cho phát hiện sỏi tĩnh mạch tốt hơn MRI và để đáng giá tổn
thương xương.
1.6.3.3. Chẩn đoán phân biệt
- Dị dang bạch mạch: phân biệt trên MRI (dị dạng tĩnh mạch ngấm
thuốc toàn bộ, dị dạng bạch mạch ngấm thuốc xung quanh thành), siêu âm
- Dị dạng động tĩnh mạch: không ấn xẹp và siêu âm thấy dòng chảy nhanh.
- U mạch máu thể sâu: giai đoạn tiến triển có thể phân biệt, nhưng giai
đoạn thoái lui dễ nhầm với dị dạng tĩnh mạch. Phân biệt dựa vào tiến triển
lâm sàng (phát triển và thoái lui) và siêu âm (dòng chảy nhanh).
- Phân biệt với chàm bẩm sinh: vết màu xanh, xuất hiện ngay sau sinh,
phẳng, không có biến chứng và không cần điều trị, tự mất khi dạy thì (siêu âm
không có dòng chảy)
1.6.4. Chẩn đoán dị dạng bạch mạch (theo tiêu chuẩn Waner và Suen)
1.6.4.1. Lâm sàng
Màu da hoặc màu xanh, cảm giác mềm khi sờ vào và có thể cho ánh
sáng xuyên qua khi soi dưới ánh đèn.
1.6.4.2. Cận lâm sàng
- Siêu âm: dòng chảy chậm; nang nhỏ (hình ảnh tăng âm, cấu trúc vách
rõ), nang lớn (hình ảnh giảm âm, cấu trúc thùy) và có thể chẩn đoán nang lớn
23
trước sinh.
- MRI: giảm sáng trên T1W, tăng sáng T2W (khi chụp thuốc cản
quang: nang nhỏ không ngấm thuốc, nang lớn ngấm thuốc ở thành).
1.6.5. Chẩn đoán dị dạng động tĩnh mạch
1.6.5.1. Lâm sàng
và u mạch máu hiếm gặp.
- Các BN dị dạng mạch máu nội sọ và nội tạng.
- Các BN đã được chẩn đoán dị dạng mà đã được phẫu thuật
25
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu.
2.3.2. Cỡ mẫu
Vận dụng công thức tính cỡ mẫu:
Trong đó:
- α = 0,05, tra bảng Z ta được Z
2
= 1,96
2
- Chọn p = 0,015 là tỷ lệ phát hiện dị dạng mạch máu theo
ISSVA của Kyun-Bok Lee và Dong-IL Kim (2011)
- q = 1- p = 0.985
- d = 0,02 (sai số tuyệt đối)
Với các hệ số đã giả định áp dụng công thức trên ta tính được số đối
tượng nghiên cứu tối thiểu là:
2.3.3. Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn những bệnh nhân đã được chẩn đoán và theo dõi dị dạng mạch
máu theo phân loại của Waner và Suen tại khoa Phẫu thuật tạo hình Bệnh
Viện Saint Paul thoả mãn tiêu chuẩn nghiên cứu. Từ đó tiến hành chọn mẫu
cho tới đủ số lượng nghiên cứu (chọn mẫu thuận tiện)
2.3.4. Phương tiện nghiên cứu
Mẫu bệnh án nghiên cứu (xem phụ lục)
Thước đo kích thước tổn thương (thước đo chất liệu bóng kính đơn vị
mm
2
n
(mắt)
48
)781.015.0(
219.0781.0
96.1
2
2
≈
×
×
×=
n
(mắt)
48
)781.015.0(
219.0781.0
96.1
2
2
≈
×
×
×=
n
(mắt)
148
02,0
985,0015,0
96,1