Thực trạng mất răng hàm sữa sớm và một số ảnh hưởng đến cung răng và khớp cắn ở học sinh lứa tuổi 6 10 tại trường tiểu học manachit và sokpaluong viêng chăn lào - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, ngành răng hàm mặt đã có nhiều tiến bộ vượt bậc
và theo đó nhu cầu về công tác chăm sóc sức khỏe được chú trọng nhiều hơn,
không chỉ đối với người lớn mà còn chú trọng đến đối tượng trẻ em, bởi “trẻ
em hôm nay” là “thế giới của ngày mai”.
Ở Việt Nam, tỷ lệ sâu răng ở trẻ em còn rất cao và việc điều trị cho trẻ
em còn rất kém. Theo điều tra điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc
(2002) của Trần Văn Trường và cộng sự thì tỷ lệ sâu răng sữa là 84,9%,
trong đó 94% trường hợp là không được điều trị , và hậu quả tiếp theo là
viêm tủy, viêm quanh cuống, răng vỡ dần và phải nhổ răng sữa sớm. Cuối
cùng ảnh hưởng đến sự sắp sếp bình thường của bộ răng vĩnh viễn và đòi
hỏi phải có một quá trình điều trị chỉnh nha toàn diện về sau. Theo nghiên
cứu của Đào Thị Hằng Nga, thì tỷ lệ mất răng sữa sớm trên nhóm đối tượng
mà tác giả nghiên cứu là 29,5% .
Từ những năm đầu thế kỷ XX. Những ảnh hưởng do mất răng (MR) sữa
sớm đã được chú ý đến. Rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành cho thấy MR
sữa sớm nói chung và mất răng hàm sữa sớm (MRHSS) nói riêng gây nên
những lệch lạc cho bộ răng vĩnh viễn. Cho đến những năm 1984, William NW
với một nghiên cứu dọc đã chính thức đưa ra đầy đủ những hậu quả do
MRHSS lên bộ răng vĩnh viễn. Từ đó đến nay, cũng có nhiều tác giả cho dù
thực hiện bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng cũng đều
đưa ra kết quả gần tương tự nhau.Theo đó hầu hết các tác giả đều đưa ra
khuyến cáo nên sử dụng bộ giữ khoảng để điều trị dự phòng cho những lệch
lạc này .
Ở Lào, do mức sống và nhu cầu về chăm sóc răng miệng, đặc biệt về mặt
thẩm mỹ còn thấp hơn so với trên thế giới. Bên cạnh đó trình độ hiểu biết và


2

khớp cắn ngược vùng cửa do lưỡi đẩy hoặc xương hàm dưới kém phát triển khi
răng mọc không gặp nhau dễ tạo khớp cắn sâu. Tuy nhiên khớp cắn này chỉ là
tạm thời nó có thể được sửa chữa khi các răng vĩnh viễn thay thế.
• Giai đoạn từ 2,5 đến 6 tuổi
Là giai đoạn ổn định của bộ răng sữa và đây cũng là giai đoạn có ý nghĩa
quan trọng đối với sự mọc và phát triển của các răng vĩnh viễn thay thế . Lúc
3 tuổi, tất cả các răng sữa đã được hoàn tất (kín cuống), thân RHL thứ nhất đã
phát triển đầy đủ và chân răng đang được thành lập.
Giữa 3- 6 tuổi các răng vĩnh viễn tiếp tục phát triển nhất là các răng cửa,
từ 5-6 tuổi, ngay trước khi các răng sữa bắt đầu rụng đi là giai đoạn có nhiều
răng trên cung hàm nhất. Các răng vĩnh viễn đang phát triển sẽ dịch chuyển
gần hơn về phía bờ trên xương ổ răng, cuống các chân răng sữa bắt đầu tiêu,
răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất bắt đầu chuẩn bị mọc. Sự tác động lẫn nhau
của phức hợp nhiều lực lên cung hàm có tác dụng duy trì sự ổn định của cung
hàm. Giảm chiều dài cung răng do sâu, do mất sớm răng sữa có thể gây ra sai
khớp cắn do các răng thiếu chỗ mọc .


4
•Giai đoạn 6-10 tuổi
Giữa 6-7 tuổi, răng hàm lớn thứ nhất mọc lên, đây là răng vĩnh viễn đầu
tiên mọc qua lợi và khoang miệng. Các răng cửa giữa sữa rụng đi và răng
vĩnh viễn thay thế chúng bắt đầu mọc lên và trạm khớp với răng cửa đối diện,
thường là răng cửa giữa hàm dưới mọc trước, sau đó mới đến răng cửa giữa
hàm trên. Khoảng thời gian 7-8 tuổi là rất quan trọng đối với sự phát triển của
hàm răng. Liệu có đủ chỗ cho các răng hay không? Do đó việc khám định kỳ
là rất quan trọng.
Từ 7-8 tuổi các răng cửa bên HD mọc. Răng cửa bên HT mọc sau đó 1
năm. Nếu không có đủ chỗ cho răng này, thời gian mọc sẽ bị chậm lại, răng sẽ
bị mọc lệch vào trong hoặc xoay. Nếu chậm trễ răng cửa bên sẽ mọcvề phía

Răng hàm lớn thứ hai thường mọc ngay sau răng hàm nhỏ thứ hai một
thời gian ngắn. Tuy nhiên theo Hurme, có thể răng hàm lớn thứ hai mọc trước
răng hàm nhỏ thứ hai trong 17% trường hợp. Khi đó, răng hàm lớn thứ nhất có
thể bị nghiêng về phía gần, hiện tượng này càng trầm trọng hơn nếu ở bệnh nhân
bị mất sớm RHS thứ hai. Do đó, tương quan răng hàm lớn thứ nhất càng sai lệch
nhiều hơn, răng hàm nhỏ thứ hai sẽ bị mọc chậm hoặc mọc lệch về phía lưỡi,
thậm chí có thể bị kẹt hoàn toàn không mọc được.
Tóm tắt thời kỳ mọc và thứ tự mọc của răng vĩnh viễn:
Việc thành lập bộ răng vĩnh viễn gắn liền với sự tồn tại của của bộ răng
sữa trước đó, thời gian diễn ra sự rụng răng sữa và mọc răng vĩnh viễn có thể
kéo dài từ 5 - 6 tuổi đến 11 - 12 tuổi.


6

Bảng 1.1: Thời kỳ mọc răng vĩnh viễn
Răng số
Hàm trên
(tuổi)
Hàm dưới
(tuổi)

1

2

3

4


6-7

11-13

8
17-21 Nam
18-25 Nữ
17-21

Bảng 1.2: Thứ tự mọc răng vĩnh viễn
Số thứ tự

1

2

3

4

5

6

7

8

Hàm


7

8
8
8

dưới

b

1

6

2

3

4

5

7

8

răng mọc
Hàm trên

(a: Thường xảy ra; b: Đôi khi)

Răng cửa giữa
Hàm Răng cửa bên
Răng nanh
trên
Răng số 4
Răng số 5
Răng cửa giữa
Hàm Răng cửa bên
Răng nanh
dưới
Răng số 4
Răng số 5

6,4
5,3
6,8
6,7
8,8
4,1
4,6
5,8
7,8
9,9

Nam
Răng
vĩnh
viễn
(mm)
8,9

-0,9
-2,7

6,5
5,3
6,6
6,6
8,7
4,1
4,7
5,8
7,7
9,7

Nữ
Răng
vĩnh
viễn
(mm)
8,7
6,8
7,5
6,6
6,5
5,5
5,9
6,6
6,8
7,1


Răng nanh/răng

(mm)

hàm nhỏ (mm)

Răng vĩnh viễn

31,6

43,0

74,6

Răng sữa

23,4

44,6

68,0

Chênh lệch

8,2

-1,6

6,6


Để bù lại sự thiếu hụt đó có 4 hiện tượng ở cung xương hàm xảy ra.
Hiện tượng 1: Có khe giữa các răng cửa. Khe thừa từ khi răng cửa sữa
mọc tới thời điểm ngay trước khi răng cửa vĩnh viễn mọc thay thế tăng lên
5mm ở hàm trên và 3mm ở hàm dưới.
Nếu không có khoảng giữa các răng cửa sữa thì răng cửa vĩnh viễn sẽ
khấp khểnh, ngược lại nếu có các khoảng giữa các răng cửa sữa thì răng cửa
vĩnh viễn sẽ không hoặc ít bị khấp khểnh.
Hiện tượng 2: Sự tăng chiều rộng cung răng tại vùng răng nanh (trung
bình khoảng 2mm) và trong quá trình lớn lên, răng mọc hướng lên trên và ngả
ra phía ngoài. Khác biệt giữa hàm trên với hàm dưới (hàm trên tăng rộng
nhiều hơn hàm dưới); giữa nam với nữ (nam tăng rộng nhiều hơn nữ).
Hiện tượng 3: Sự ngả môi của răng cửa vĩnh viễn (tăng dài cung răng 1 -2 mm
ở hàm trên và 1,3mm ở hàm dưới.


9

Hiện tượng 4: Khe simiens ở mỗi bên hàm, hàm trên khe trước răng nanh sữa;
hàm dưới khe sau răng nanh sữa dịch chuyển nhẹ ra phía sau tại vùng simiens.
Nếu có khe simiens thì tình trạng khấp khểnh răng cửa vĩnh viễn sẽ được
cải thiện hơn.
Nếu không có khe simiens thì tình trạng khấp khểnh răng cửa vĩnh viễn
sẽ phụ thuộc vào ba hiện tượng trên .
1.1.2.2. Sự thay đổi khi thay răng nanh, răng hàm
Ta đã biết khoảng “leewayspace” là khoảng chênh lệch vì kích thước gần
xa của các răng hàm sữa lớn hơn so với răng hàm nhỏ vĩnh viễn, giá trị
khoảng này trung bình ở hàm trên bằng 1,5mm; hàm dưới bằng 2,5mm ở mỗi
bên hàm, vì thế nói chung sự thay thế diễn ra là dễ dàng.
Nếu răng hàm sữa thứ hai mất sớm thì răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất
di về gần và khoảng “leewayspace” sẽ bị chiếm dẫn tới chiều dài và chu vi

mòn mặt tiếp xúc và mòn khớp cắn dẫn đến làm giảm độ rộng của tăng chiều
trước sau kết quả làm giảm chu vi cung hàm 5-10mm hoặc hơn sau khi hoàn
chỉnh mọc răng vĩnh viễn ở tuổi thiếu niên . Khấp khểnh nhẹ của răng cửa
dưới có hướng tăng, nếu giai đoạn đầu răng sắp xếp tốt hoặc khấp khểnh nhẹ
ban đầu sẽ trở lên xấu hơn. Sự thay đổi này xuất hiện sớm từ 17-18 hoặc
muộn hơn đến năm 20 tuổi. Ở trẻ em khi hai hàm cắn lại thì tất cả các răng
hàm trên trừ răng hàm sữa thứ hai đều cắn khớp với hai răng đối diện ở răng
hàm dưới cũng vậy trừ răng cửa dưới.
Khi phân tích số đo chu vi cung răng người ta thấy có sự giảm, thực tế
khi trẻ có bộ răng hỗn hợp. Do chu vi từ mặt gần răng cối vĩnh viễn thứ nhất
giảm đi khoảng 4mm so với chu vi đo từ mặt xa răng cối sữa thứ hai, ở thời
điểm này sự phát triển khác nhau của xương hàm dưới so với xương hàm trên
đóng vai trò quan trọng đối với sự dịch chuyển khớp cắn, xương hàm dưới


11

phát triển nhiều về phía sau hơn xương hàm trên và khớp cắn biến động nhiều
nhất vào thời kỳ cuối của bộ răng hỗn hợp .
Răng HL viễn viễn thứ nhất mọc dựa theo chân xa của răng hàm sữa thứ
hai. Tùy vào bình diện tiếp xúc của răng hàm sữa thứ hai hàm trên và hàm
dưới mà nó sẽ có tương quan răng HL viễn viễn thứ nhất khác nhau.
Khớp cắn răng sữa tương đương khớp cắn loại I gọi là bước gần, tức là
mặt phẳng phía xa của răng HL viễn viễn thứ nhất HD ở về phía gần so với
răng HL viễn viễn thứ nhất HT.
Khớp cắn răng sữa tương đương khớp cắn loại II được gọi là bước xa tức
là mặt phẳng phía xa của răng HL viễn viễn HD ở về phía xa của răng HL
viễn viễn HT.
Khớp cắn loại III hiếm khi nhìn thấy ở hàm răng sữa vì hướng phát triển
sọ mặt thông thường ở giai đoạn này thì xương hàm dưới luôn ở phía sau

13

- Động tác khép hai hàm là nói đến giai đoạn cuối của chuyển động nâng
hàm dưới lên để dẫn đến sự tiếp xúc mật thiết giữa hai hàm đối diện.
- Trạng thái khi hai hàm khép lại là nói đến liên quan của các mặt nhai
các răng đối diện khi cắn khít nhau.
Như vậy, khớp cắn có nghĩa là những quan hệ chức năng và rối loạn
chức năng giữa hệ thống răng, cấu trúc giữ răng, khớp thái dương hàm và yếu
tố thần kinh cơ.
1.2.2. Khớp cắn trung tâm
Ở khớp cắn trung tâm thì hàm trên và hàm dưới ở vị trí chạm núm tối
đa, lồi cầu ở vị trí cao nhất và giữa nhất. Khi hai cung răng ở vị trí khớp cắn
trung tâm, có quan hệ các răng theo ba hướng:
• Trước – sau (gần-xa)
- Núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở giữa hai núm
ngoài gần và giữa của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.
- Đỉnh răng nanh hàm trên nằm ở đường giữa răng nanh và răng hàm
nhỏ thứ nhất hàm dưới (sườn gần răng nanh trên tiếp xúc với sườn xa răng
nanh dưới).
- Rìa cắn răng cửa trên tiếp xúc với rìa cắn răng cửa dưới hoặc ở phía
trước 1-2 mm.
• Ngang
- Cung răng trên chùm ngoài cung răng dưới, sao cho núm ngoài răng
trên trùm ra núm ngoài răng dưới.
- Đỉnh núm ngoài răng dưới tiếp xúc với rãnh giữa hai núm của răng
hàm nhỏ và răng hàm lớn trên.
- Hai phanh môi trên và dưới tạo nên một đường thẳng và ở giữa mặt
trước của khớp cắn.



hoàn tất .
1.3. Phân loại khớp cắn theo Angle
Phân loại khớp cắn theo Angle được công bố vào thập niên 1890, là
một mốc quan trọng trong sự phát triển của chỉnh hình răng mặt, nó không chỉ
phân loại các hạng sai khớp cắn mà còn định nghĩa đơn giản, rõ ràng về khớp
cắn bình thường của hàm răng thật, Ông lấy răng hàm lớn số một hàm trên
làm chìa khóa khớp cắn và tương quan khớp cắn hai hàm bình thường sẽ là:
Đỉnh núm gần ngoài răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh giữa
ngoài răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới và cácrăng còn lại sắp xếp đều trên
một đường cắn khớp đều đặn và liên tục .
Dựa vào tương quan răng hàm lớn thứ nhất hàm trên và hàm dưới khi
hai hàm ở tư thế cắn trung tâm, Angle phân ra 3 loại sai khớp cắn sau:


16

1.3.1. Sai khớp cắn loại I
Quan hệ trước - sau của răng hàm lớn thứ nhất trung tính. Núm gần
ngoài răng hàm lớn thứ nhất trên tương ứng rãnh giữa ngoài răng hàm lớn
thứ nhất hàm dưới, lệch lạc xảy ra ở phía trước những răng này: Răng mọc
không đúng vị trí, xoay trục khớp cắn ngược vùng răng cửa…
1.3.2. Sai khớp cắn loại II
Quan hệ trước - sau của những răng hàm lớn thứ nhất vĩnh viễn lệch xa.
Răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới ở lùi phía sau hoặc răng hàm lớn trên ở lệch
về phía trước. Loại II gồm 2 tiểu loại:
Tiểu loại 1: Cung hàm trên hẹp, hình chữ V, nhô ra trước, răng cửa trên
ngả ra trước, môi đóng không kín, môi dưới thường chạm mặt trong các răng
cửa trên.
Tiểu loại 2: Các răng cửa giữa hàm trên ngả ra sau còn các răng cửa bên
nghiêng ngoài

Nhiều tác giả đưa ra khái niệm về mất răng sữa sớm:
- Theo Miller (1965), thời gian trung bình từ khi răng sữa rụng đến khi
răng vĩnh viễn thay thế mọc là 3 tháng. Nên nếu như thời gian này kéo dài
hơn thì có thể coi là mất răng sữa sớm.
- Theo Ronnerman A (1977), ông sử dụng khái niệm mất răng hàm sữa
sớm như sau :
+ Mất răng hàm sữa thứ nhất trong khoảng 7½ - 9½ tuổi và / hoặc mất
răng hàm sữa thứ hai trong khoảng 7½ - 10½ tuổi.
+ Mất răng hàm sữa thứ nhất và /hoặc thứ hai trước 7½ tuổi.


18

- Kerr WJ (1980), trong nghiên cứu của mình ông sử dụng khái niệm:
Răng sữa được coi là mất sớm khi mất răng mà sau 6 tháng không thấy răng
vĩnh viễn mọc
1.5.2. Nguyên nhân gây mất răng sữa sớm
 Do hậu quả của sâu răng:
Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên việc mất răng hàm sữa sớm: .
- Do đặc điểm giải phẫu học hố rãnh, thời kỳ trước tuổi đến trường mặt
nhai dễ bị sâu răng nhất. Khi răng vĩnh viễn đầu tiên mọc, những khoảng
trống bình thường bắt đầu được đóng lại, hình thành các mặt tiếp xúc, tỷ lệ
sâu răng mặt bên tăng lên đáng kể.
- Do đặc điểm giải phẫu men, ngà, tủy răng, sâu răng ở răng sữa thường
phát triển nhanh rất dễ bị lộ tủy . Nếu không được phát hiện sớm và điều trị
kịp thời sẽ nhanh chóng dẫn đến viêm quanh cuống…
- Do bề mặt RHS thứ hai phức tạp hơn RHS thứ nhất, nhiều múi, gờ, chỗ
lõm hơn nên RHS thứ hai có tỷ lệ sâu cao hơn RHS thứ nhất. RHS hàm dưới
dễ sâu hơn RHS hàm trên do ở HD dễ lắng đọng thức ăn hơn ở HT. Điều này
cũng giải thích lý do tỷ lệ mất RHS thứ hai cao hơn RHS thứ nhất, tỷ lệ mất

đầu tiên của việc điều trị bằng khí cụ cố định.
 Do chấn thương
-Là nguyên nhân hay gặp gây mất sớm răng cửa sữa.
-Mất răng hàm sữa và răng nanh sữa do sang chấn ít gặp. Nếu có thì
thường gặp trên bệnh nhân gẫy xương hàm.
1.5.3. Những hậu quả của việc mất răng sữa sớm
Để hiểu được những hậu quả của mất răng sữa sớm trước hết hãy tìm
hiểu về các lực giữ thăng bằng cho răng.
1.5.3.1. Lý thuyết về sự cân bằng lực.
- Một răng được duy trì ổn định ở vị trí tương quan thích hợp trên cung
răng là nhờ sự tác dụng cân bằng của một tổ hợp các lực,các lực này xuất hiện


20

trong quá trình ăn nhai và trong hoạt động chức năng của cơ và lưỡi. Nếu một
trong các lực đó bị thay đổi hoặc bị loại bỏ thì thế cân bằng sẽ bị phá vỡ, xuất
hiện sự thay đổi trong tương quan của các răng kế cận và các răng đối diện,
tạo ra sự di lệch răng và xuất hiện những vấn đề khoảng (thu hẹp khoảng, mất
khoảng) .
- Ví dụ cụ thể về những lực tác động duy trì răng hàm sữa thứ hai hàm
dưới ở tương quan thích hợp trong giai đoạn răng hỗn hợp như sau:

Hình 1.4: Các lực tác dụng lên một răng trên cung hàm
+ Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất tác dụng một lực lên răng này hướng
về phía gần, RHS thứ nhất tác dụng một lực hướng về phía ngược lại.
+ Lưỡi ở mặt trong tác dụng một lực ra phía ngoài. Cơ ở vùng má ở phía
ngoài tác dụng một lực tương phản vào phía trong.
+ Ngành xương ổ răng, và mô quanh răng tạo ra 1 lực hướng lên trên.
Răng ở hàm đối diện tác dụng một lực theo hướng ngược lại, theo hướng đi

Hình 1.5: Mất khoảng do mất răng hàm sữa thứ hai sớm HT

Hình 1.6: Mất khoảng do mất răng hàm sữa thứ hai sớm ở HD

Hình 1.7: Mất khoảng do mất răng hàm sữa thứ hai sớm ở HT và HD


23

Khi mất RHS thứ nhất:
Xảy ra sự di gần của RHS thứ hai và RHL vĩnh viễn thứ nhất, đồng thời là
sự di xa của nhóm răng cửa. Hậu quả là tương quan khớp cắn vùng RHL vĩnh
viễn bị thay đổi, chiều dài và chu vi cung răng giảm đáng kể. Khi đó RHN thứ
nhất sẽ mọc ra phía trước hơn so với bình thường, chiếm chỗ của răng nanh vĩnh
viễn, làm cho răng nanh sau này sẽ mọc lệch ra ngoài cung hàm .
 Ảnh hưởng đến chiều dài và chu vi cung răng:
Sự di chuyển về phía gần cũng như phía xa của các răng kế cận, sự
nghiêng trong của các răng cửa sẽ làm cho chiều dài và chu vi cung răng giảm
đáng kể. Do đó dẫn đến sự chen chúc và mọc ra ngoài cung răng của các răng
vĩnh viễn .
 Ảnh hưởng tới các răng đối diện:
Khi mất sớm RHS, nhất là cả 2 RHS sẽ làm cho các răng đối diện với răng
mất không còn chịu 1 lực tương phản từ hàm răng đối diện, làm cho các răng đó
bị trồi ra. Điều này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hàm răng đối diện sau này.
Nếu mất sớm răng hàm sữa ở cả hai bên cung hàm, nhất là răng hàm sữa
thứ hai sẽ gây nên mất tầm cắn được duy trì bởi các răng hàm, trong khi răng
HL viễn viễn thứ nhất chưa mọc được hoàn toàn, gây nên tầm cắn thấp và
khớp cắn sâu vùng cửa .
1.5.3.3. Ảnh hưởng tới thời gian mọc của các răng vĩnh thay thế:
- Như đã đề cập, RHS mất sớm trước 7 tuổi sẽ làm chậm thời gian mọc

Nghiên cứu cửa Đào Thị Hằng Nga (2011) đã nhận xét tình hình mất
răng hàm sữa sớm và những hậu quả lệch lạc răng ở học sinh lứa tuổi 9-10
Trường tiểu học Đông Thái cho thấy nguyên nhân MRHSS là: Do sâu răng
(96, 61%), do sang chấn (3,39%). Những hậu quả lệch lạc răng do MRHSS
được thể hiện là tương quan khớp cắn răng HL viễn viễn thứ nhất làm tăng
tỷ lệ loại II và loại III hơn so với nhóm không bị MRHSS. Có sự thu hẹp


25

khoảng rõ ràng ở bên cung răng có MRHSS ở cả HT và HD, làm giảm
chiều dài và chu vi cung răng.Sự xoay lệch của các RHL vĩnh viễn thứ nhất
diễn ra phổ biến.Tình trạng các răng hàm nhỏ vĩnh viễn đã mọc: tỷ lệ mọc
lệch, kẹt là 85,71%.
Nghiên cứu của Trần Thị An Huy, Phạm Thanh Hải (2012) . Cho thấy tỷ
lệ mất răng hàm sữa sớm chiếm 20,96%. Nguyên nhân mất răng hàm sữa sớm chủ
yếu là do sâu răng chiếm 95,97%. Khoảng cách hai răng hàm sữa ở bên cung răng
có mất răng hàm sữa sớm (12,9±2,34 mm ở hàm trên; 13,9± 2,44mm ở hàm
dưới) thu hẹp hơn bên không có mất răng hàm sữa sớm (15,1± 1,55mm ở
hàm trên; 16,4±1,96mm ở hàm dưới). Tỷ lệ mọc lệch, kẹt, của răng hàm nhỏ
vĩnh viễn ở nhóm mất răng hàm sữa sớm 22,15% trong đó răng hàm nhỏ thứ
hai lệch kẹt nhiều hơn răng hàm nhỏ thứ nhất. Tỷ lệ thiếu chỗ cho răng hàm
nhỏ vĩnh viễn mọc sau này là 63,24%.
Nghiên cứu của Vinath Phommakone (2012) tại Viêng Chăn, Lào đã
nhận xét tình trạng lệch lạc khớp cắn của 300 học sinh từ 12-15 tuổi cho
thấy phần lớn đối tượng có khớp cắn loại I (chiếm 63%), tỷ lệ khớp cắn loại
III chiếm 23% và thấp nhất là tỷ lệ khớp cắn loại II chiếm 14% .
Nghiên cứu của Keopaseuth Koundavan (2014) tiến hành trên 164 học
sinh về tình trạng lệch lạc khớp cắn lứa tuổi từ 6-12 tuổi, của trường tiểu học
Sok Pa Luang, Viêng Chăn-Lào cho thấy tỷ lệ khớp cắn bình thường chiếm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status