Đánh giá tính an toàn và hiệu quả làm sạch của hai phác đồ có sử dụng polyethylene glycol trong chuẩn bị đại tràng ở trẻ em - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nội soi đại tràng là một phương pháp quan trọng trong quy trình tiếp
cận chẩn đoán, điều trị và theo dõi một số bệnh lý đường tiêu hóa như viêm
đại tràng, xuất huyết đường tiêu hóa dưới, tiêu chảy kéo dài hay bệnh polyp
đại tràng ở trẻ em. Sử dụng ống soi mềm được xem là một phương pháp an
toàn để tiếp cận chẩn đoán bệnh lý đại tràng không chỉ trên người lớn mà ở cả
trẻ em mọi lứa tuổi [1]. Quá trình nội soi đại tràng thành công hay không phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như chuẩn bị bệnh nhân, kinh nghiệm của bác sỹ làm
nội soi, dụng cụ và một số yếu tố khác trong đó yếu tố quan trọng nhất quyết
định sự thành công của quy trình làm nội soi đại tràng là quá trình chuẩn bị
bệnh nhân. Chuẩn bị bệnh nhân tốt cho phép người làm nội soi tiến hành thủ
thuật nhanh chóng, an toàn và quan sát được toàn bộ niêm mạc đại tràng [2].
Quá trình chuẩn bị đại tràng được xem là lý tưởng cho trẻ em khi trẻ không
phải uống một lượng dịch lớn, dung dịch thuốc làm sạch đại tràng có mùi và
vị dễ uống, trẻ dễ chấp nhận, không tốn kém và mang lại hiệu quả làm sạch
đại tràng tốt. Hơn thế nữa, dung dịch làm sạch đại tràng phải không gây rối
loạn về nội môi của cơ thể, không gây ra các tổn thương thứ phát dẫn đến các
chẩn đoán sai lệch trên mô bệnh học và không phải điều chỉnh chế độ ăn uống
làm thay đổi các sinh hoạt thường ngày của trẻ [3].
Làm sạch đại tràng cho trẻ em bằng cách thụt tháo với một lượng dịch
lớn là một quy trình phức tạp có thể dẫn đến hiện tượng rối loạn nước, điện
giải, nguy cơ hạ thân nhiệt và trẻ thường phải nằm điều trị trong bệnh viện
nên phương pháp này không còn được áp dụng trong chuẩn bị đại tràng ở trẻ
em có chỉ định làm nội soi. Polyethylene glycol (PEG) là dung dịch đã được
áp dụng để điều trị táo bón và làm sạch đại tràng ở trẻ em. Hiệu quả của thuốc
đã được đánh giá qua nhiều nghiên cứu trên thế giới. Ở Việt Nam, trong


2


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử phát triển của nội soi đại tràng
1.1.1. Lịch sử của nội soi đại tràng trên thế giới
-

Năm 1796, Lichtleiter là dụng cụ soi trực tràng đầu tiên được Phillip Bozzini
(1773 - 1809) phát minh ở Vienna sử dụng cây nến làm nguồn sáng để thăm
khám trực tràng và tử cung. Dụng cụ rất thô sơ này đã mở đường cho ngành
nội soi hiện đại [5].

-

Năm 1932: Rudolf Schindler cho ra đời loại ống soi nửa mềm dựa trên nguyên lý
của Lang phát hiện năm 1917, “hình ảnh có thể truyền giữ nguyên vẹn qua một hệ
thống các thấu kính lồi xếp trên một trục cong không quá gấp góc” [5].

-

Năm 1957: Nhóm nghiên cứu ở Đại học Michigan chế tạo được ống nội soi
mềm. Hirschowitz và các cộng sự thiết kế ống soi dạ dày mềm đầu tiên, tuy
nhiên thiết bị này vẫn còn thô sơ [5].

-

Năm 1957: Baisil Hirshowitz, C. Wibur Peters và Lawrence Curtis đã chế tạo
thành công ống soi sợi thủy tinh mềm đầu tiên [5].

-

Năm 1992: Nguyễn Đình Hối, Vũ Xuân Tắc đã soi dạ dày tá tràng và đại
tràng chẩn đoán, sau đó phẫu thuật điều trị cho bệnh nhân mắc hội chứng
Peutz-Jeghers [5].

-

Năm 1995: Mai Thị Hội, Trịnh Hồng Sơn, Đỗ Đức Vân thông báo kết quả cắt
polyp của 27 bệnh nhân từ 2 - 65 tuổi. Nghiên cứu này nói về vị trí, kích
thước, kết quả giải phẫu bệnh của polyp ĐTT và vấn đề soi đại tràng [5].

-

Năm 2000: Nguyễn Ngọc khánh đưa ra kết quả nghiên cứu 106 bệnh nhân từ
1 - 15 tuổi được soi ĐTT, trong số đó có 82 bệnh nhân có polyp. Tác giả đã
đưa ra nhận xét về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và tổn thương giải
phẫu bệnh của polyp ĐTT ở trẻ em tại bệnh viện Việt Đức [5].

-

Năm 2003: Trần Công Hòa Nhận xét giá trị của nội soi đại tràng bằng ống soi
mềm trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh đại tràng tại bệnh viện Bạch
Mai [5].

-

Tại bệnh viện Nhi trung ương hiện nay nội soi đại tràng được ứng dụng rộng
rãi, đã có một vài nghiên cứu đánh giá về hiệu quả sử dụng nội soi ống mềm
cắt polyp cũng như ứng dụng các phương pháp làm sạch đại tràng để chuẩn bị

Tiêu chảy kéo dài

-

Theo dõi ung thư

-

Bệnh lý bong mảnh ghép

-

Siêu âm nội soi

-

Đo áp lực đại tràng
1.2.1.2. Nội soi đại tràng điều trị

-

Cắt polyp

-

Lấy dị vật

-

Mở thông manh tràng qua da


-

Bệnh nhân có các nguy cơ thủng ruột bao gồm

+

Bệnh mô liên kết

+

Giãn đại tràng nhiễm độc

+

Bán tắc ruột hoặc tắc ruột

+

Mới phẫu thuật đường ruột
1.2.3. Biến chứng soi đại tràng [1]

-

Thủng đại tràng: Thường gặp thủng đại tràng sigma, biến chứng này gặp 0,14 0,2%

-

Chướng hơi nặng: Phát hiện sớm và rút hết hơi


rồi chuyển thành đại tràng ngang. Ở người lớn, chiều dài của đại tràng lên dài
khoảng 12 - 15cm. Ở trẻ em tỉ lệ chiều dài của đại tràng lên thường ngắn hơn
so với chiều dài của toàn bộ đại tràng. Góc đại tràng phải là một góc khoảng
60 - 80 độ mở ra trước và xuống dưới rồi vào trong, nằm ngang với gan, phía
trước thận phải, ngang với mức đầu dưới xương sườn X - XI, góc đại tràng
phải được dính vào thành bụng sau và giữ tại chỗ bởi dây chằng hoành – đại
tràng và các dây chằng đi từ góc đại tràng đến các tạng lân cận (gan, tá tràng,
thận). Mặc dù được cố định bởi nhiều dây chằng góc đại tràng phải lỏng lẻo
hơn so với góc đại tràng bên trái.


8

-

Đại tràng ngang: Bắt đầu từ góc đại tràng phải, đi ngang sang trái đến đầu dưới
của lách thì bẻ quặt xuống tạo góc đại tràng trái. Đại tràng ngang nằm ngang
giữa ổ phúc mạc, cùng với mạc treo chia ổ phúc mạc ra làm hai tầng trên và
dưới.

-

Góc đại tràng trái: Là chỗ quặt xuống của đại tràng ngang tiếp với đại tràng
xuống, góc đại tràng trái là 1 góc khoảng 40 - 50 độ nằm dưới lách, ngang với
mỏm ngang đốt sống lưng XI hoặc XII (cao hơn góc đại tràng phải).

-

Đại tràng xuống: Là phần cố định của đại tràng, đi từ góc lách tới mào
chậu trái (ngang mức mào chậu tiếp với đại tràng sigma). Đại tràng xuống

+

Phần dưới hẹp gọi là ống hậu môn, xuyên qua đáy chậu tới lỗ hậu môn.


9

Đặc điểm của TT là phần trên TT có phúc mạc bao phủ ở phía trước và
hai bên ở phía sau là khoang sau phúc mạc. Chỗ lật gấp của lá phúc mạc phía
trước cắm xuống sâu tầng sinh môn, cách lỗ hậu môn độ 7 cm, do đó chỗ
thủng vào khoang phúc mạc phía trước thấp hơn phía sau. Đây là điều cần lưu
ý khi làm sinh thiết hay soi TT.
1.3.2. Chức năng sinh lý của đại trực tràng
Đại tràng phân cách với ruột non bởi van hồi manh tràng, van này có
chức năng ngăn không cho dịch từ hồi tràng xuống manh tràng khi quá trình
tiêu hóa chưa kết thúc, đồng thời cũng ngăn được sự trào ngược từ manh
tràng trở lại hồi tràng.
Những chức năng cơ bản của đại tràng là: vận động, hấp thu nước, điện
giải và cô đặc phân, là khoang chứa tạm thời và bài tiết [7].
Hàng ngày khi sản phẩm tiêu hóa khi đến được mang tràng có khoảng 1
- 1,5 lít dịch, nhưng phân tạo thành chỉ chứa khoảng 100 - 150 ml nước [7].
Mạng lưới hấp thụ NaCl, acid béo chuỗi ngắn (short chain fatty acids [SCFA])
và nước cho phép tạo ra phân có lượng nước hoặc muối rất ít. Niêm mạc ruột
cũng có khả năng bài tiết chất nhầy, bicarbonate, và KCl. Theo giải phẫu đại
tràng có thể chia thành vùng gần và vùng xa có các tế bào niêm mạc ruột đặc
trưng là tế bào bề mặt và tế bào khe [8]. Những nghiên cứu gần đây cho thấy cả
hai loại tế bào này đều có khả năng hấp thụ và bài tiết các chất [9]. Ngoài ra,
niêm mạc ruột còn có các tế bào hình đài và tế bào ruột ưa kiềm [10].
Có hai cơ chế hấp thụ Na+ ở đại tràng: cơ chế điện tích và cơ chế điện –
thần kinh. Sự hấp thụ Na+ ở đại tràng lên chủ yếu nhờ cơ chế hấp thu điện –

màng đáy bên là duy trì phân cực điện thế màng tế bào và đảm bảo áp lực
điện thế để bài tiết Cl- và hấp thụ Na+ [8].
Bicarbonate được bào tiết vào lòng ruột cùng với KCl, gây kiềm hóa nhẹ,
được vận chuyển ra màng đáy nhờ cơ chế điện – thần kinh phụ thuộc Na+ và
cũng được tạo ra bên trong các tế bào đại tràng nhờ có carbonic anhydrase [14].
Sự bài tiết các chất điện giải cũng được thực hiện song song bởi các đại
phân tử và phần lớn các đại phân tử này là chất nhầy. Sự bài tiết chất nhầy tạo
ra một vi trường xung quanh tế bào niêm mạc ruột và hình thành hàng rào để
bảo vệ các tế bào khỏi sự ăn mòn và sự xâm nhập của các vi khuẩn [15]. Chất
nhầy được các tế bào hình đài và tế bào khe biểu mô đại tràng tiết ra.
Chức năng cuối cùng của đại tràng là sự hấp thu nước. Mặc dù ở đây có
cả sự hấp thu và sự bài tiết. Cho đến nay vẫn chưa rõ bao nhiêu lượng nước
được hấp thu qua con đường cạnh tế bào so với qua tế bào biểu mô [16], cũng
không rõ bằng cách nào để sự hấp thu nước vào ruột có thể thắng được áp lực
thẩm thấu cao do phân và nhũ chấp trong lòng ruột tạo ra. Có các kênh đặc
biệt gọi là aquaporin vận chuyển nước, mặc dù, hiện tại có rất ít bằng chứng
về sự cần thiết của các kênh này cho việc hấp thụ dịch và làm khô phân tại đại
tràng [17]. Có thể các kênh CFTR có vài trò quan trọng trong sự vận chuyển
nước và ion tại biểu mô đại tràng.


12

1.4. Các thuốc sử dụng và các phương pháp làm sạch đại tràng
1.4.1. Phân loại các thuốc nhuận tràng
Một quy trình nội soi đại tràng tốt cần phải chuẩn bị đại tràng sạch,
không còn phân hoặc ít phân ở trong lòng đại tràng để đảm bảo quan sát được
toàn bộ niêm mạc và làm các thủ thuật trong khi nội soi, chuẩn bị đại tràng là
việc thực hiện chế độ ăn để không tạo ra lượng phân mới, và dùng các thuốc
nhuận tràng để tống lượng phân còn trong lòng ruột, đại tràng ra ngoài [4].

(modulite), với ispaghule (spagulax). Ngoài ra, duphalac còn được sử dụng để
làm giảm ammoniac máu trong trường hợp tiền hôn mê gan, do tác dụng làm
giảm hấp thu chất này từ ruột vào máu của lactulose.
1.4.1.4. Nhóm các thuốc làm tăng kích thích nhu động và tăng bài xuất dịch
đại tràng: Nhóm này gồm nhiều nhóm nhỏ như:
- Nhóm muối magie (magie citrate, magie hydroxyde đơn thuần hoặc
phối hợp với dầu paraffin)
- Nhóm phénophtaléine (purganol)
- Nhóm docusate natri (jamylene,), bisacodyl (contalax, ducolax)
- Nhóm anthraquinonic chiết xuất từ thực vật hay anthracenic (tamarine)
1.4.1.5. Nhóm thuốc nhuận tràng dùng đường trực tràng
Đây là các thuốc gây nhuận tràng bằng cách kích thích gây tăng phản xạ
tống phân của đại tràng sigma và trực tràng sau 5 đến 20 phút dùng thuốc.
- Các thuốc này chủ yếu dùng để chuẩn bị cho phẫu thuật hoặc soi đại tràng.
Thường thuốc được dùng 2 - 4 giờ trước khi tiến hành thủ thuật, gây tiêu chảy
để tẩy sạch đại trực tràng.
- Trong nhóm này có thể có nhiều loại khác nhau: glycerin, Fleet enema,
ducosate natri + glycerine (norgalax), glycérol + gélatine (bébégel), mannitol
+ polyethylen glycol + caraghenat (rectolax).


14

1.4.2. Các phương pháp làm sạch đại tràng
Trên người lớn phương thức làm sạch đại tràng đầu tiên được áp dụng
trong những trường hợp chụp đại tràng hoặc phẫu thuật bao gồm thay đổi
chế độ ăn uống, nhuận tràng đường uống hoặc thụt hậu môn. Áp dụng
phương pháp này bệnh nhân cần thay đổi chế độ ăn trong nhiều ngày với
mục tiêu làm giảm lượng phân trong đại tràng, sau đó mới sử dụng các
thuốc nhuận tràng như Polyethylene glycol uống hoặc Sodium Phosphate

Sodium Phosphate là dung dịch uống có tác dụng làm sạch đại tràng tốt
nhưng không được khuyến cáo sử dụng rộng rãi do có thể gây suy thận hoặc
rối loạn điện giải [19],[20],[24].
Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về một phác đồ chung để làm sạch
đại tràng cho trẻ em giữa các trung tâm nội soi và các bác sỹ nội soi tiêu hóa vì
có sự khác biệt về nhóm tuổi, cân nặng, tình trạng bệnh lý cần chỉ định nội soi
cũng như tình trạng toàn thân của trẻ. Kết quả của các nghiên cứu trên thế giới
cho thấy có 3 phương pháp làm sạch đại tràng thường được sử dụng [25].

-

Phương pháp ít được dùng nhất là làm sạch đại tràng bằng 2 tube Sodium
phosphate thụt hậu môn trẻ em.

-

Phương pháp hay được sử dụng hơn là cho trẻ uống dung dịch PEG với liều
1,25mg/kg/ngày trong 4 ngày trong đó ở ngày cuối cùng trẻ chỉ được ăn súp.
Phương pháp này được xem là nhẹ nhàng, dễ áp dụng.

-

Phương pháp đơn giản nhất là trẻ chỉ được sử dụng các dung dịch súp ít chất
xơ trong ngày hôm trước và 8 giờ trước khi làm thủ thuật. Phác đồ này sử
dụng sự kết hợp giữa chế độ ăn và Sodium phosphate với liều 1,5 thìa café
cho trẻ có trọng lượng cơ thể dưới 15kg và 3 thìa café cho trẻ có trọng lượng
từ 15 kg trở lên vào buổi chiều và tối trước khi tiến hành nội soi.
Theo khuyến cáo của Hội Tiêu hóa, dinh dưỡng và gan mật Bắc Mỹ
(NASPGHAN) năm 2104, có nhiều phương pháp làm sạch đại tràng khác
nhau được áp dụng cho trẻ em, sau đây là những phương pháp được cho là tối



17

các nhược điểm của phương pháp làm sạch đại tràng trước đó, tăng lượng
nước trong phân bằng các thuốc có chứa các phân tử đường không có khả
năng hấp thu hoặc hấp thu không hoàn toàn ra đời. Đầu tiên là manitol, một
oligosaccarid không được hấp thu. Dung dịch manitol 10% làm sạch nhanh
đại tràng mà không làm rối loạn điện giải [27]. Nguy cơ gây cháy nổ, do
manitol được lên men bởi các vi khuẩn có trong đại tràng tạo ra khí methane
và hydrogen được thông báo trong một số nghiên cứu, là rào cản cho việc sử
dụng dung dịch này trong chuẩn bị đại tràng [28].
-

Năm 1980, Davis và cộng sự, thông báo về sự ra đời của dung dịch
polyethylene glycol – electrolyte lavage solution (PEG – ELS), là một chất
không lên men, không hấp thu, bài tiết rất ít nước và điện giải [27],[29]. Để
cải thiện vị muối và mùi khó chịu từ natri sulfate, dung dịch PEG không có
sulfate (SF - PEG) ra đời [30].

-

Năm 1990 Vanner đã cho ra đời dung dịch sodium phosphate (NaP). Dung
dịch này có thể tích nhỏ hơn nên khả năng dung nạp tốt hơn [29]. Sau đó là sự ra
đời của NaP dạng viên, tuy dung nạp tốt hơn dạng dung dịch, nhưng lại có nguy
cơ gây tổn thương thận. Hiện nay dung dịch uống (OSP) có thể mua được tự do,
nhưng thuốc dạng viên cần được kê đơn và FDA (Tổ chức thực phẩm và dược
phẩm Mỹ) đã đưa vào danh mục “đen” [19].

-

sulfat ra đời, gọi là Polyethylene glycol free sulfat (SF – PEG) biệt dược là
Nulytely, Trilyte,..[20]
Hiệu quả làm sạch của PEG đã được chứng minh qua rất nhiều nghiên
cứu của các tác giả trên thế giới. Một phân tích gộp trên 25 thử nghiệm lâm
sàng với 625 bệnh nhân cho thấy hiệu quả làm sạch của PEG – ELS là 71 75% [19]. Chế phẩm PEG – ELS có hiệu quả hơn phương pháp làm sạch
truyền thống, bao gồm chế độ ăn kiêng, thuốc nhuận tràng, mannitol, và thụt


19

một lượng lớn nước qua trực tràng [19], Swaki S và cộng sự cũng đã chứng
minh SF – PEG có hiệu quả làm sạch tương tự như PEG – ELS [31]. Liệu pháp
phụ trợ như phối hợp thêm bisacodyl, metoclopramide dường như không làm
tăng hiệu quả hơn so với dùng tổng liều PEG đơn thuần [19],[20]. Tổng kết của
Hội nội soi tiêu hóa Châu Âu dựa trên sáu phân tích tổng hợp các công bố
trong 14 năm từ 1998 – 2012 cho thấy 3 phân tích ghi nhận thấy hiệu quả làm
sạch của PEG thấp hơn OSP (70%–77% so với 75%–82%), 2 phân tích không
thấy khác biệt thống kê về hiệu quả làm sạch của hai thuốc trên [23].
PEG – ELS là dung dịch nhuận tràng sử dụng các chất thẩm thấu không
hấp thu do đó không gây rối loạn nước và điện giải. Bằng chứng về sự an toàn
của PEG – ELS trên trẻ em đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu [19],
[20],[24]. Phần lớn các tác giả đánh giá tình trạng rối loạn nước điện giải dựa
vào sự thay đổi điện giải đồ trước và sau khi làm sạch đại tràng bằng thuốc.
Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy, không thay đổi điện giải đồ so với
mức chuẩn và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điện giải đồ ở các
bệnh nhân trước và sau sử dụng PEG - ELS [24]. Một số nghiên cứu khác lại
nhận thấy có sự thay đổi điện giải và mô bệnh học ở các bệnh nhân sử dụng
PEG – ELS [20]. Hiện tượng giảm kali máu ở các bệnh nhân sử dụng PEG –
ELS khi so sánh với nhóm chứng sử dụng muối natri sulfate được công bố
trong thử nghiệm lâm sàng của Turner và cộng sự. Trong nghiên cứu này một

disbasic sodium phosphate [NaPO4] tạo nên tính ưu trương. Hoạt động của
muối phosphate này dựa trên cơ chế thẩm thấu, làm tăng lượng nước bằng
cách kéo dịch ngoài tế bào qua thành ruột để duy trì lượng dịch có trong lòng
đại tràng. Do đó, thuốc cần được hòa loãng với một lượng nước thích hợp
trước khi sử dụng để tránh gây nôn và phòng mất nước [32].
Ở người lớn, sử dụng sodium phosphate có thể gây ra các rối loạn
nước, điện giải và chuyển hóa như: tăng phosphate, hạ calci, tăng hoặc giảm


21

natri, giảm kali máu và toan chuyển hóa [34]. Nguyên nhân của tình trạng rối
loạn nước – điện giải là do sự thay đổi thể tích dịch ngoại bào. Đầu tiên là
tình trạng ứ dịch và sau đó là hiện tượng mất một lượng đáng kể lượng dịch
và chất điện giải qua phân. Mặc dù không có biểu hiện lâm sàng, tăng
phospho máu có thể thấy ở 40% người khỏe mạnh được làm sạch đại tràng
bằng sodium phosphate. Tỷ lệ này cao hơn ở bệnh nhân suy thận. Khoảng
20% bệnh nhân uống dung dịch sodium phosphate có hiện tượng giảm kali
máu. Sodium phosphate có thể là nguyên nhân làm tăng ure máu, giảm thể
tích tuần hoàn, tăng độ thấm thấu huyết tương, giảm canxi máu nặng và co
giật. Sử dụng dung dịch sodium phosphate ở trẻ em hay xảy ra các rối loạn và
nước và điện giải hơn [25]. Trong một nghiên cứu, Da Silva và cộng sự nhận
thấy, sử dụng OSP dẫn đến tình trạng natri máu tăng trong giới hạn cho phép,
nhưng phospho tăng cao hơn mức bình thường ở tất cả các bệnh nhân [37].
Ngoài nguy cơ mất nước, sử dụng sodium phosphate dạng uống còn có
thể có tổn thương thận cấp (acute kidney injury – AKI), đặc biệt là tổn thương
ống thận [38]. Cơ chế bệnh sinh của quá trình này chưa rõ, nhưng hình ảnh
mô bệnh học cho thấy sự ứ đọng các tinh thể canxi - phosphat, là nguyên nhân
gây bệnh nhiễm canxi ống thận [39]. Triệu chứng lâm sàng của hội chứng tổn
thương thận cấp có thể xuất hiện sớm hoặc muộn. Các biểu hiện sớm là tình


Chống chỉ định dùng SP
Thận trọng khi dùng SP
Bệnh lý làm giảm nhu động ruột Tuổi > 70
đường tiêu hóa trên hoặc dưới

Bệnh lý viêm ruột

- Tắc ruột

- Giai đoạn bộc phát

- Giả tắc ruột

- Mới chẩn đoán

- Giãn đại tràng nhiễm độc

Dùng một hoặc nhiều hơn các

- Liệt nhẹ dạ dày

thuốc sau

- Táo bón nặng (đại tiện
cứu này [4].
Để đảm bảo an toàn và hiệu quả làm sạch đại tràng cho bệnh nhân bên
cạnh sử dụng dung dịch Polyethylene glycol chúng tôi phối hợp Sodium
phosphate dạng thụt hậu môn (enema). Trong dung dịch thuốc thụt có chứa
19g monobasic sodium phosphate [Na(PO4 )2] và 7g disbasic sodium
phosphate [NaPO4] tạo nên tính ưu trương. Hoạt động của dựa trên cơ chế
thẩm thấu, làm tăng lượng nước bằng cách kéo dịch ngoài tế bào qua thành
ruột để duy trì lượng dịch có trong lòng trực tràng, gây tiêu chảy để tống phân
trong lòng trực tràng ra ngoài. Thuốc được sử dụng hai lần vào thời điểm
ngày trước nội soi và ngày hôm sau trước khi nội soi 2 giờ.
1.4.4.3. Dung dịch Glycerol
Glycerol hay glyxerol, glycerin, glyxerin là một rượu đa chức, gồm 3
nhóm -OH gắn vào gốc hydrocacbon C3H5 (hay công thức hóa học là
C3H5(OH)3). Glycerol là một chất không mùi, không màu, lỏng nhớt có vị
ngọt. Glycerol tổng hợp được sử dụng trong các sản phẩm thực phẩm, bổ
sung dinh dưỡng, dược phẩm, sản phẩm chăm sóc cơ thể và chăm sóc răng
miệng. Trong ngành công nghiệp dược phẩm, glycerol được sử dụng như một
chất tạo ngọt trong xirô, viên ngậm, và như một tá dược trong các dung dịch
rửa mắt [43].


25

Trong y học, glycerol có công dụng như một chất có độ thẩm thấu cao,
nó có thể được sử dụng như là thuốc nhỏ mắt trong điều trị bệnh tăng nhãn áp
để giảm áp lực nội nhãn hoặc tiêm tĩnh mạch để giảm bớt áp lực nội sọ, và sử
dụng bên ngoài trên da như một loại kem dưỡng ẩm. Trong lĩnh vực tiêu hóa,
glycerol có tác dụng nhuận tràng theo cơ chế thẩm thấu, hút nước từ lòng
mạch vào trong lòng trực tràng, ngoài ra thuốc còn có tác dụng làm trơn và
làm mềm phân. Tác dụng làm sạch đại tràng đã được sử dụng để điều trị táo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status