Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017
Nghiên cứu Y học
ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ CỦA KỸ THUẬT
TIÊM HISTOACRYL Ở BỆNH NHÂN CÓ DÃN TĨNH MẠCH DẠ DÀY
Lê Đình Quang*, Lê Quang Nhân**, Quách Trọng Đức*, Phạm Công Khánh**, Nguyễn Tạ Quyết***,
Nguyễn Phúc Minh***
TÓM TẮT
Mở đầu: Khoảng 20% bệnh nhân tăng áp tĩnh mạch cửa có dãn tĩnh mạch dạ dày (TMDD). Tuy nhiên, chỉ
có một tỉ lệ nhỏ xuất huyết từ tĩnh mạch dạ dày (TMDD). Không may là những trường hợp xuất huyết từ
TMDD thường là xuất huyết lượng lớn và nguy cơ tử vong cao. Bên cạnh các phương pháp điều trị khác, sự ra
đời của Cyanoacrylate (Histoacryl) mở ra một hướng điều trị cho dãn TMDD.
Mục tiêu: Đánh giá tính an toàn và hiệu quả của kỹ thuật tiêm Histoacryl.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu. Chúng tôi tiến hành thu thập bệnh nhân dãn TMDD có
hay không có xuất huyết được tiêm hỗn hợp Histoacryl và Lipiodol trong vòng 2 năm. Chúng tôi ghi nhận hiệu
quả cầm máu, biến cố tái xuất huyết và biến chứng của kỹ thuật tiêm Histoacryl.
Kết quả: 34 bệnh nhân có dãn TMDD bao gồm 10/34 (29,4%) bệnh nhân có biến chứng xuất huyết và 24/34
(70,6%) bệnh nhân có dãn lớn TMDD không xuất huyết. Nhóm bệnh nhân dãn TMDD có xuất huyết: 50%
GOV1, 30% GOV2, 20% IGV1. 70% bệnh nhân dãn TMDD độ III. 80% xuất huyết mức độ nặng. 70% bệnh
nhân biểu hiện ói máu kèm tiêu ra máu đỏ. Thể tích máu truyền trung bình 1630 ml. Thể tích hỗn hợp Histoacryl
và Lipiodol mỗi lần tiêm trung bình là 1,63 ± 0,63 ml. 90% cầm máu thành công và 10% cầm máu thất bại.
Nhóm bệnh nhân dãn TMDD không xuất huyết: 20,8% GOV1, 58,3% GOV2, 20,8% IGV1.70,8% bệnh nhân
dãn TMDD độ III. Thể tích hỗn hợp Histoacryl và Lipiodol mỗi lần tiêm trung bình là 1,54 ± 0,57 ml. Trong thời
gian theo dõi không ghi nhận tái xuất huyết và biến chứng sau tiêm Histoacryl.
Kết luận: Phương pháp tiêm Histoacryl bước đầu cho thấy hiệu quả và an toàn trong kiểm soát cầm máu và
phòng ngừa tiên phát xuất huyết do vỡ dãn TMDD.
Từ khóa: Dãn TMDD, phòng ngừa tiên phát, Histoacryl
ABSTRACT
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017
Results: 34 patients with GVs included 10/34 (29.4%) bleeding patients and 24/34 (70.6%) non-bleeding
patients. For patients with GVs induced bleeding: 50% GOV1, 30% GOV2 and 20% IGV1. 70% of patients had
grade III GVs. 80% of patients were severe bleeding. 70% of patients had hematamesis accompanied with red
blood in stool. The average volume of blood was transfused 1630 ml. The average volume of mixture of Histoacryl
and Lipiodol was 1.63 ± 0.63 ml per each injection. 90% of patients stopped bleeding and 10% of patients failed.
For non-bleeding patients: 20.8% GOV1, 58.3% GOV2 and 20.8% IGV1. 70.8% of patients had grade III GVs.
The average volume of mixture of Histoacryl and Lipiodol was 1.54 ± 0.57 ml per each injection. During follow up
period, there were not rebleeding event and complications of Histoacryl injection.
Conclusion: Histoacryl injection was effective and safe method for control of bleeding and primary
prevention of bleeding from GVs.
Key words: Gastric varices, primary prevention, Histoacryl.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoảng 20% bệnh nhân tăng áp tĩnh mạch
cửa có dãn tĩnh mạch dạ dày (TMDD)(10). Tuy
nhiên, chỉ có một tỉ lệ nhỏ xuất huyết từ TMDD.
Không may là những trường hợp xuất huyết từ
TMDD thường là xuất huyết lượng lớn và nguy
cơ tử vong cao. Xuất huyết từ TMDD rất khó
kiểm soát bằng phương pháp thắt thun và chích
xơ tĩnh mạch(15,17). Các phương pháp khác như
TIPS và phẫu thuật tạo shunt cửa chủ thì có hiệu
quả, nhưng đòi hỏi phải có chuyên gia nhiều
kinh nghiệm và có tỉ lệ tử vong cao sau can thiệp
(đặc biệt trong các trường hợp tạo shunt cửa chủ
cấp cứu). Do vậy, sự ra đời của Cyanoacrylate
(Histoacryl) mở ra một hướng điều trị cho dãn
TMDD. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này
Phương thức tiến hành
Dụng cụ bao gồm kim tiêm 6 mm/ 23G, Nbutyl-2-cyanoacrylate (Histoacryl), Lipiodol. Pha
0,5 ml Histoacryl và 0,8 ml Lipiodol. Kim tiêm sẽ
được tráng Lipiodol trước và sau mỗi lần tiêm.
Histoacryl được tiêm trực tiếp vào búi dãn
TMDD đang xuất huyết hoặc nguy cơ xuất
huyết. Thể tích (ml) mỗi lần tiêm tùy thuộc vào
kích thước dãn TMDD. Theo dõi bệnh nhân
trong quá trình nằm viện và ghi nhận các
biến chứng nếu có.
Một số khái niệm
Xuất huyết do vỡ dãn tĩnh mạch dạ dày
Thấy xuất huyết từ búi dãn TMDD
Có dấu hiệu xuất huyết tiêu hóa trên ở
bệnh nhân dãn TMDD mà không thấy nguyên
nhân khác
Cầm máu thành công
Sau tiêm Histoacryl thì không thấy dấu hiệu
xuất huyết trong quá trình theo dõi.
Thất bại: tình trạng xuất huyết không cầm
Chuyên Đề Nội Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017
Nhóm XHTH Nhóm không
(n = 10)
Bảng 1: Đặc điểm nhóm nghiên cứu
Tuổi
Giới
Nam
Nữ
Nguyên nhân bệnh gan
HBV
HCV
Rượu
Rượu và HBV/HCV
Không rõ nguyên nhân
Phân loại dãn TMDD
GOV1
GOV2
IGV1
IGV2
Tiêu Hóa
Nhóm XHTH Nhóm không
(n = 10)
XHTH (n = 24)
61,3 ± 14,4
62,62 ± 9,92
5 (50%)
5 (50%)
17 (70,8%)
7 (29,2%)
Độ I
Độ II
Độ III
Không dãn
Phân loại Child Pugh
A
B
C
Số ngày nằm viện
0 (0%)
3 (30%)
7 (70%)
0 (0%)
7 (29,2%)
17 (70,8%)
2 (20%)
1 (10%)
5 (50%)
2 (20%)
6 (25%)
11 (45,8%)
2 (8.3%)
5 (20,8%)
4 (40%)
13 (54,2%)
bệnh nhân vừa ói máu vừa tiêu ra máu đỏ
(chiếm tỉ lệ 70%); (2) Mức độ xuất huyết tiêu hóa
bao gồm 8 bệnh nhân xuất huyết mức độ nặng
(chiếm tỉ lệ 80%) và 2 bệnh nhân xuất huyết mức
độ trung bình (chiếm tỉ lệ 20%).
So sánh giữa nhóm dãn TMDD có biến
chứng xuất huyết và không xuất huyết ghi nhận
có sự khác biệt ý nghĩa về thời gian nằm viện (p
= 0,046) và thể tích máu truyền (p < 0,0001).
BÀNLUẬN
Dãn tĩnh mạch thực quản và dạ dày do
tăng áp lực tĩnh mạch cửa có thể gây xuất
huyết tiêu hóa nặng. Mặc dù, xuất huyết do vỡ
dãn TMDD ít gặp hơn xuất huyết do vỡ dãn
TMTQ (5 – 33%)(17), nhưng xuất huyết do vỡ
dãn TMDD thường nặng hơn, tử vong cao hơn
và thất bại điều trị (>30%)(18) do TMDD thường
105
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017
nằm sâu hơn, kích thước lớn hơn và đổ trực
tiếp vào các tĩnh mạch lớn(15,16). Trong nghiên
cứu của chúng tôi ghi nhận 8/10 (80%) bệnh
nhân xuất huyết tiêu hóa mức độ nặng và 7/10
đang phun máu, kèm theo dãn TMTQ độ III có
dấu son. Bệnh nhân này được tiêm 2,6 ml hỗn
hợp Histoacryl và Lipiodol nhưng không kiểm
soát được xuất huyết và sau đó bệnh nhân
được đặt sonde Blakemore tạm thời và chuyển
sang bệnh viện có khả năng can thiệp mạch để
cầm máu (theo yêu cầu thân nhân). Như vậy,
xuất huyết do vỡ dãn TMDD thường rất nặng
cho nên bệnh nhân cần được điều trị ở trung
tâm lớn có đủ các phương tiện để hồi sức và
106
can thiệp chuyên sâu (như phẫu thuật, can
thiệp mạch máu, TIPS).
Trong trường hợp bệnh viện không có
Histoacryl, phương pháp thắt thun cũng có thể
là một lựa chọn cho trường hợp xuất huyết do
vỡ dãn TMDD cấp(23). Phương pháp này được
chứng minh là an toàn và hiệu quả cầm máu (83
– 100%)(3,15). Theo đồng thuận Baveno V, phương
pháp thắt thun có hiệu quả kiểm soát xuất huyết
do GOV1 tương đương với xuất huyết do vỡ dãn
TMTQ,trong
khi
phương
pháp
tiêm
cyanoacrylate được ưu tiên cho trường hợp xuất
huyết do GOV2 và IGV1(5,15). Theo y văn, thường
nhận dãn TMDD dạng GOV1 chiếm 10/34
Chuyên Đề Nội Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017
(29,4%) bệnh nhân và xuất huyết do GOV1
chiếm 5/10 (50%) bệnh nhân. Dãn TMDD dạng
IGV1 chiếm 7/34 (20,6%) bệnh nhân và xuất
huyết do IGV1 chiếm 2/7 (28,6%) bệnh nhân.
Sự khác biệt của nghiên cứu chúng tôi so với y
văn có thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn.
Chúng tôi ghi nhận phần lớn dãn TMDD
dạng GOV chiếm tỉ lệ 80% (50% dạng GOV1 và
30% dạng GOV2), còn lại là dạng IGV1 chiếm
20%. Cũng tương tự nghiên cứu của Kang EJ và
cộng sự, phần lớn là dãn TMDD dạng GOV
chiếm tỉ lệ 92% (41% dạng GOV1 và 51% dạng
GOV2) và dạng IGV chỉ chiếm 8% (6% dạng
IGV1 và 2% IGV2)(8). Ngoài ra, chúng tôi ghi
nhận điểm Child Pugh trong nhóm dãn TMDD
dạng GOV cao hơn nhóm dãn TMDD dạng IGV
(7,41 ± 2,2 vs 6,14 ± 0,9, p = 0,14). Dãn TMDD
dạng IGV thường găp ở bệnh nhân có chức năng
gan bình thường(10,19,20).
Về nguyên nhân gây tăng áp lực tĩnh mạch
cửa, chúng tôi ghi nhận có 7/10 (70%) bệnh nhân
xơ gan do HBV/HCV, 1/10(10%) bệnh nhân xơ
gan do rượu và HBV/HCV và 2/10 (20%) bệnh
nhân không rõ nguyên nhân. Do vậy, nguyên
rãi(13,21). Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực
hiện tiêm Histoacryl phòng ngừa tiên phát xuất
huyết do vỡ dãn TMDD cho 24/34 (70,6%) bệnh
nhân. Trong đó, 5/24 (20,8%) bệnh nhân có dấu
đỏ trên búi dãn TMDD, 17/24 (70,8%) bệnh nhân
dãn TMDD độ III, 3/24 (12,5%) bệnh nhân xơ gan
Child Pugh C, 14/24 (58,3%) dạng GOV2, 5/24
(20,8%) dạng IGV1. Chúng tôi tiêm hỗn hợp
Histoacryl và Lipiodol với thể tích trung bình
1,54 (0,65 – 2,6) ml. Kết quả không ghi nhận biến
chứng trong thời gian theo dõi cũng như không
có trường hợp hư máy nào liên quan đến tiêm
Histoacryl. Do trong quá trình tiêm Histoacryl,
chúng tôi luôn tuân thủ nghiêm ngặt quy trình
tiêm và cân nhắc thể tích hỗn hợp Histoacryl và
Lipiodol khi tiêm tùy theo kích thước của búi
dãn TMDD. Tuy nhiên, chúng ta cần thời gian
theo dõi lâu hơn và số mẫu nhiều hơn để xem
xét tính hiệu quả của phương pháp này trong
phòng ngừa xuất huyết do vỡ dãn TMDD. Theo
nghiên cứu của tác giả Mosli MH và cộng sự, 29
bệnh nhân được tiêm cyanoacrylate cho mục
đích phòng ngừa xuất huyết do vỡ dãn TMDD
(bao gồm 5 bệnh nhân phòng ngừa tiên phát và
24 bệnh nhân phòng ngừa thứ phát). Trong đó,
62% dạng IGV1, 38% dạng GOV2, 3,4% bệnh
nhân có dấu đỏ trên búi dãn TMDD và 41,4%
bệnh nhân có dấu hiệu xuất huyết gần đây. Kết
quả cho thấy không có ghi nhận xuất huyết ở
nhóm bệnh nhân phòng ngừa tiên phát, còn
nhân có nguy cơ cao xuất huyết(9,12). Các yếu tố
nguy xuất huyết được báo cáo bao gồm dấu đỏ,
dãn kích thước lớn, vị trí dãn ở phình vị, phân
loại Child Pugh(7,8,9).
Như vậy, mặc dù còn hạn chế về cỡ mẫu
cũng như thời gian theo dõi, qua nghiên cứu của
chúng tôi cũng cho thấy một kết quả tích cực và
tính an toàn của phương pháp tiêm Histoacryl
cho mục đích kiểm soát xuất huyết và phòng
ngừa tiên phát xuất huyết do vỡ dãn TMDD.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
KẾTLUẬN
Bryant ML, Caldwell SH, Greenwald BD (2005). Endoscopic
treatment of gastric varices: Use of band ligation,
cyanoacrylate glue and novel therapies. Tech Gastrointest
Endosc, 7: 26 – 31.
Choudhuri G, Chetri K, Bhat G, et al (2010). Long-term
efficacy and safety of N-butylcyanoacrylate in endoscopic
treatment of gastric varices. Trop Gastroenterol, 31: 155 – 164.
De Franchis R, Banevo V Faculty (2010). Revising consensus
in portal hypertension: Report of the Banevo V consensus
workshop on methodology of diagnosis and therapy in
portal hypertension. J Hepatol, 53: 762 – 768.
Garcia-Tsao G, Sanyal AJ, Grace ND, et al (2007). Prevention
and management of gastroesophaeal varices and variceal
19.
20.
21.
22.
23.
hemorrhage in cirrhosis. Hepatology, 46: 922 – 938.
Hashizume M, et al (1990). Endoscopic classification of
gastric varices. Gastrointest Endosc, 36: 276-280.
Kang EJ, Jeong SW, Jang JY, et al (2011). Long term result of
endoscopic Histoacryl (N-butyl-2-cyanoacrylate) injection
for treatment of gastric varices. World J Gastroenterol, 17 (11):
1494 – 1500.
Kim T, Shijo H, Kokawa H, et al (1997). Risk factors for
pathophysiologic,
gastroenterologic,
and
radiologic
approach to the management of gastric varices.
Gastroenterology, 126: 1175-1189.
Sarin SK, et al. (1989). Gastric varices: Profile, classification
and management. Am J Gastroenterol, 84: 1244 – 1249.
Sarin SK, Lahoti D, Saxena SP, et al (1922). Prevalence,
classificaion and natural history of gastric varices.
Hepatology, 16: 1343 – 1349.
Sarin SK, Mishra SR (2010). Endoscopic therapy for gastric
varices. Clin Liver Dis, 14: 263 – 279.
Sato T, Yamazaki K (2010). Evaluation of therapeutic effects
and serious complications following endoscopic obliterative
therapy with Histoacryl. Clin Exp Gastroenterol, 3: 91 – 95.
Technology Assessment Committee (2007). Sclerosing agents
for use in GI endoscopy. Gastrointest Endosc, 66: 1 – 6.
Ngày nhận bài báo:
01/12/2016
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
15/12/2016
Ngày bài báo được đăng:
01/03/2017