TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BỘ MÔN SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG
TRẦN THỊ HƯƠNG LY
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DỰ ÁN
KHAI THÁC ĐÁ VÔI LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG
THÔNG THƯỜNG TẠI LÈN CỤT TAI, XÃ ĐỨC HÓA,
HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
QUẢNG BÌNH, 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BỘ MÔN SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG
TRẦN THỊ HƯƠNG LY
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DỰ ÁN
KHAI THÁC ĐÁ VÔI LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG
THÔNG THƯỜNG TẠI LÈN CỤT TAI, XÃ ĐỨC HÓA,
HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
Họ tên sinh viên: TRẦN THỊ HƯƠNG LY
Mã số sinh viên: DQB 05130058
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường K55
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hoàng Anh Vũ
QUẢNG BÌNH, 2017
giáo hướng dẫn ThS. Hoàng Anh Vũ đã tận tình chu đáo
hướng dẫn em giúp em hoàn thành báo cáo này.
Xin gửi tới, Công ty TNHH Tài nguyên Môi trường Minh
Hoàng lời cảm ơn sâu sắc vì đã tiếp nhận, hướng dẫn tận
tình và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em được tìm hiểu
thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại cơ quan.
Cuối cùng, em xin cảm ơn các anh Trương Văn Dũng,
Kỹ thuật viên của Công ty đã trực tiếp giúp đỡ tận tình,
cung cấp những số liệu thực tế để em hoàn thành tốt
Khóa luận tốt nghiệp này.
Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình
thực tập, hoàn thiện báo cáo này em không tránh khỏi
những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng
góp từ quý thầy cô cũng như quý cơ quan.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2017
Trần Thị Hương Ly
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ANLĐ: An toàn lao động
BTCT: Bê tông cốt thép
BVMT: Bảo vệ môi trường
BYT: Bộ Y tế
CTNH: Chất thải nguy hại
tỉnh Quảng Bình” đã được thực hiện từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017. Phương
pháp tiếp cận đề tài là thu thập, điều tra số liệu, tài liệu từ đó phân tích, xử lý số
liệu, đồng thời khảo sát thực địa kết hợp tham vấn cộng đồng cùng các phương
pháp đánh giá nhanh, so sánh, dự báo. Nội dung khóa luận chủ yếu tập trung nghiên
cứu các nội dung sau:
- Mô tả sơ lược về Dự án Khai thác mỏ đá làm VLXD tại Lèn Cụt Tai, xã Đức
Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Điều tra, thu thập số liệu, nghiên cứu hiện trạng môi trường khu vực thực
hiện dự án.
- Đánh giá, dự báo các tác động đến môi trường trong giai đoạn xây dựng và
hoạt động của dự án, trong đó tập trung vào:
+ Đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn xây dựng cơ bản;
+ Đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn dự án đi vào hoạt động.
- Đề xuất các biện pháp khả thi về mặt quản lý và kỹ thuật nhằm khống chế và
giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho dự án.
- Đề xuất các giải pháp quản lý giám sát, phòng chống các sự cô môi trường
cho dự án.
Sau thời gian nghiên cứu, khóa luận đã đạt được những kết quả:
Quá trình khai thác sẽ gây ra các tác động khác nhau lên các thành phần môi
trường khu vực là không tránh khỏi, nhưng mức độ tác động và phạm vi ảnh hưởng
không lớn, có thể chấp nhận được. Các tác động chính là do bụi, khí thải, tiếng ồn
phát sinh từ quá trình nổ mìn khai thác đá, nghiền sàng đá tại bãi chế biến và vận
chuyển đá đi tiêu thụ. Ngoài ra, hoạt động sinh hoạt của công nhân sẽ phát sinh
nước thải, chất thải rắn gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường khu vực dự án.
Để khống chế và giảm thiểu các tác động có hại đến môi trường, chủ dự án sẽ
áp dụng các phương pháp khống chế ô nhiễm và hạn chế các tác động tiêu cực đến
môi trường như đã trình bày trong báo cáo. Khi áp dụng các phương pháp khống
chế này, chủ dự án phải đảm bảo cải tạo cảnh quan theo hướng tích cực, giảm được
các tải lượng ô nhiễm môi trường, phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi
trường hiện hành.
thực hiện dự án.
- Đề xuất các phương án tổng hợp, khả thi về mặt quản lý và công nghệ nhằm
hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của dự án đến môi trường và
cộng đồng, giải quyết một cách hợp lý mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường nhằm phát triển bền vững.
1.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Mô tả sơ lược về Dự án Khai thác mỏ đá làm VLXD tại Lèn Cụt Tai, xã Đức
Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
11
- Điều tra, thu thập số liệu, nghiên cứu hiện trạng môi trường khu vực thực
hiện dự án.
- Đánh giá, dự báo các tác động đến môi trường trong giai đoạn xây dựng và
hoạt động của dự án, trong đó tập trung vào:
+ Đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn xây dựng cơ bản;
+ Đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn dự án đi vào hoạt động.
- Đề xuất các biện pháp khả thi về mặt quản lý và kỹ thuật nhằm khống chế và
giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho dự án.
- Đề xuất các giải pháp quản lý giám sát, phòng chống các sự cô môi trường
cho dự án.
- Kết luận và kiến nghị phù hợp.
1.4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này bao gồm:
- Tất cả thành phần môi trường nằm trong và lân cận khu vực thực hiện dự án.
- Các phương pháp, quy trình quản lý, biện pháp phòng ngừa và xử lý ô nhiễm
môi trường.
1.5. THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
chi tiết các tác động nhiều hoạt động khác nhau lên cùng một nhân tố.
- Đánh giá nhanh: Các phương pháp đánh giá nhanh do Economopolus soạn
thảo, được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành năm 1993 đã được áp dụng đê
tính tải lượng ô nhiễm do khí thải.
Phương pháp này được áp dụng trên cơ sở thống kê tải lượng và thành phần
của nước thải, khí thải của nhiều nhà máy trong từng nghành công nghiệp trên khắp
thế giới, từ đó xác định được tải lượng từng tác nhân ô nhiễm trong ngành công
nghiệp. Nhờ có phương pháp này, có thể xác định tải lượng và nồng độ trung bình
cho từng ngành công nghiệp mà không cần đến thiết bị đo đạc, phân tích.
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá tải lượng ô nhễm nước, khí... của
các công đoạn sản xuất của dự án, dự báo mức độ tác động lan truyền nước thải vào
nguồn nước và khí thải vào vùng không khí ở phạm vi nào đó.
- Phương pháp giá trị chất lượng môi trường: Phương pháp này dựa trên cơ sở
phương pháp danh mục môi trường nhưng đi sâu vào ước tínhgiá trị chất lượng của
các nhân tố môi trường bị tác động của khu vực dự án để so sánh tổng giá trị chất
lượng môi trường của hai khu vực trước và sau khi có dự án, từ đó rút ra kết luận
đánh giá.
- Phương pháp sơ đồ mạng lưới: Dựa theo chuỗi nguyên nhân – hậu quả, xuất
phát ban đầu từ phân tích các hoạt động của dự án gây ra các biến đổi môi trường.
Từ các tác động môi trường để xây dựng sơ đồ mạng lưới các tác động, giúp cho
người sử dụng dễ dàng nhận biết các tác động môi trường bậc 1, bậc 2,... của dự án,
trợ giúp cho việc đánh giá.
- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích mở rộng: Phương pháp sử dụng các
kết quả phân tích các tác động môi trường của dự án, từ đó đi sâu vào mặt kinh tế
môi trường. Ngoài phân tích các chi phí và lợi ích mang tính kỹ thuật mà dự án
mang lại, phương pháp này còn phân tích các chi phí và lợi ích mànhững biến đổi
về tài nguyên và môi trường do dự án tạo nên.
13
vụ quá trình ĐTM; thu thập các số liệu về điều kiện kinh tế - xã hội và khí tượng
thủy văn khu vực; tham khảo các tài liệu ĐTM;
- Phương pháp viết báo cáo: Nội dung được trình bày dựa trên khung được
quy định ở Thông tư 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/05/2015 có chỉnh sửa cho phù
hợp với quy mô, tình hình thực tiễn của Dự án.
14
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐTM
1.1.1 Lịch sử phát triển của ĐTM
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong các thập niên
1950 – 1960 đã gây tác hại đến môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tài
nguyên thiên nhiên và thậm chí cản trở phát triển KT-XH. Nhằm hạn chế xu hướng
này, phong trào bảo vệ tự nhiên đã đòi hỏi chính quyền phải có biện pháp thẩm định
về mặt môi trường đối với các dự án phát triển trước khi cho phép đầu tư.
Nhờ đó ĐTM đã được hình thành sơ khai ở Mỹ đầu thập kỷ 1960. Vào thời
điểm này, các nhà đầu tư được yêu cầu phải có báo cáo riêng để tường trình về mặt
môi trường của dự án.Báo cáo môi trường không nằm trong nghiên cứu khả thi
(luận chứng KT-XH). Tuy nhiên việc xây dựng riêng hai báo cáo gây lãng phí về tài
chính và trùng lặp nhiều về nội dung.Ngoài ra do báo cáo tường trình về môi trường
cần sử dụng số liệu từ nghiên cứu khả thi nên thường phải hoàn thành sau báo cáo
khả thi, do đó khó điều chỉnh được nội dung và công nghệ của dự án để giảm thiểu
tác động môi trường.
Từ năm 1975 việc nghiên cứu ĐTM được xem là một phần của nghiên cứu
khả thi, trong đó báo cáo ĐTM là một chương nằm trong báo cáo nghiên cứu khả
thi.
Từ năm 1980 ĐTM không chỉ được thực hiện cho từng dự án riêng lẻ mà còn
do không có công cụ phân tích thích hợp. Thủ tục ĐTM, cụ thể là việc bắt buộc phải
có báo cáo ĐTM trong hồ sơ xét duyệt kinh tế - kỹ thuật – môi trường, sẽ giúp cho
cơ quan xét duyệt dự án hoạt động và cho phép thực hiện hoạt động có đủ điều kiện
để đưa ra một quyết định toàn diện hơn và đúng đắn hơn.
ĐTM có thể tiến hành theo nhiều phương án của hoạt động phát triển, so sánh
lợi hại của các hoạt động theo những phương án đó, trên cơ sở đó kiến nghị việc lựa
chọn các phương án, kể cả phương án không thực hiện hoạt động phát triển được đề
nghị.
ĐTM là việc làm gắn liền với các việc khác như phân tích kinh tế, tìm kiếm
giải pháp kỹ thuật trong toàn bộ quá trình xây dựng, thực hiện và thẩm tra sau thực
hiện hoạt động phát triển. Trong xây dựng đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch hóa đều phải có phần ĐTM. Trong luận chứng kinh tế - kỹ thuật, cũng như
trong thiết kế cũng phải tiếp tục có phần ĐTM. Trong quá trình thi công và khai
thác công trình sau khi hoàn thành việc ĐTM vẫn phải được tiến hành.
ĐTM mang tính dự báo, độ tin cậy của kết quả dự báo tùy thuộc nhiều yếu tố,
do đó việc thường xuyên theo dõi diễn biến của tình hình môi trường bằng đo dạc,
quan trắc và dựa vào kết quả thực đo để tiếp tục điều chỉnh dự báo là điều hết sức
cần thiết.
Tóm lại:
Dù các định nghĩa có khác nhau nhưng các ĐTM đều hướng tới các mục tiêu:
Xác định, mô tả tài nguyên và giá trị có khả năng bị tác động do dự án, hành
động hoặc chương trình phát triển.
16
Xác định, dự báo cường độ, quy mô tác động có thể có (Tác động tiềm tàng)
của dự án, hành động hoặc chương trình phát triển tới môi trường (Tự nhiên – Kinh
tế - Xã hội).
Đề xuất, phân tích các phương án thay thế để giảm thiểu các tác động tiêu
Hầu hết các cơ sở đã nộp bảng kê khai về hoạt động sản xuất và các nguồn
thải, đồng thời lập báo cáo ĐTM để thẩm định. Cho tới nay đã có 69.625 bản kê
khai và có 1.730 báo cáo ĐTM đã thẩm định. Đến tháng 6/1999 đã có 4.033 báo cáo
ĐTM được thẩm định, 350 bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đã được trình
nộp.
Bộ KHCN&MT đã tổ chức thẩm định 515 báo cáo ĐTM và nhận xét về môi
trường của 1.442 hồ sơ các dự án đầu tư. Thông qua việc thẩm định báo cáo ĐTM,
hầu hết các dự án đã giải trình được các phương án xử lý chất thải và cam kết đảm
bảo kinh phí đầu tư cho việc xây dựng, vận hành công trình và thực hiện chương
trình giám sát môi trường. Đồng thời, có một số trường hợp phải thay thế công nghệ
sản xuất, thay nguyên liệu nhiên liệu thậm chí không chấp nhận cấp phép đầu tư.
Tuy nhiên trong giai đoạn này kinh phí cho khâu xét duyệt, thẩm định các báo
cáo cũng như giám sát, theo dõi sau ĐTM chưa được quy định. Điều đó gây rất
nhiều khó khăn cho khâu thực thi các công đoạn này đối với các cơ quan quản lý
Nhà nước về BVMT ở trung ương và địa phương. So với yêu cầu, lực lượng và
trình độ đội ngũ cán bộ làm ĐTM còn rất mỏng và yếu, cần được tăng cường.
* Giai đoạn 2: (từ 1999 đến nay)
Từ năm 1999 đến nay tình hình thực hiện ĐTM ở Việt Nam thực sự đã có
những cải tiến rõ rệt. Không chỉ đã khắc phục được những hạn chế chưa đạt được ở
giai đoạn 1, mà công tác thi hành ĐTM có những bước hoàn thiện rõ rệt đó là: Việc
thực hiện Nghị định 175/CP ngày 18.10.1994 trong Bộ Luật BVMT (10.01.1994)
của Chính phủ về quy định quá trình thực hiện ĐTM đã được thay thế bởi Nghị
định 80/CP (09.08.2006) trong Bộ Luật BVMT ngày 29.11.2005 của Chính Phủ đã
bổ sung chi tiết và đầy đủ hơn, đặc biệt quy định chi tiết có những yêu cầu pháp lý
cụ thể về sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập và giám sát ĐTM, điều này
rất có ý nghĩa vừa đảm bảo quyền lợi của người dân vừa tạo nên sự giải hòa giữa dự
án và dân chúng. Cải thiện hiệu quả chương trình quản lý môi trường, cải thiện hiệu
quả kinh tế - xã hội của dự án, giảm được những rủi ro.
Hệ VN.2000, KTT 106o
(múi chiếu 3o)
X (m)
Y (m)
1.971.319,00
511.486,00
1.971.269,00
511.691,00
1.971.082,00
511.696,00
1.971.139,00
511.418,00
Mỏ cách thị trấn Đồng Lê, huyện tuyên Hóa khoảng 11km về phía Đông Nam,
cách thị xã Ba Đồn khoảng 36km về phía Tây Bắc, cách quốc lộ 12A đoạn rẽ vào
dự án khoảng 380m về phía Đông Nam. Cách khu dân cư gần nhất thuộc xã Đức
Hóa khoảng 300m về phía Nam, cách khe chảy qua khu vực dự án khoảng 40m về
phía Đông, đây là miền thoát nước của khu mỏ khi đi vào hoạt động. Trên diện tích
thăm dò không có dân cư sinh sống; không có di tích lịch sử, văn hóa, quân sự;
không thuộc khu bảo tồn thiên nhiên, không nằm trong khu vực cấm hoặc tạm cấm
hoạt động khoáng sản tỉnh Quảng Bình và chưa cấp cho tổ chức, cá nhân nào thăm
dò khai thác.
Trong khu vực thăm dò không có dân cư sinh sống nên khi khai thác đá không
làm ảnh hưởng cuộc sống của nhân dân trong vùng.
19
Giàn nghiền sàng
thường tại lèn Cụt Tai theo Quyết định số 2030/QĐ-UBND ngày 22 tháng 7 năm
2015. Hiện trạng đất trước khi Quy hoạch là đất trồng cây hằng năm khác và đất
bằng chưa sử dụng. Theo quá trình khảo sát thì khu đất hiện tại đang bỏ hoang và
không có cây trồng. Địa hình khu đất chưa được bằng phẳng. Trước khi xây dựng
chỉ tiến hành san gạt phần đất cao phía Bắc để đắp về phía Nam.
* Đối với kho mìn
Đất dự kiến xây dựng kho mìn là đất bằng chưa sử dụng thuộc quản lý của
UBND xã Đức Hóa. Trên khu đất không có các công trình xây dựng, chủ yếu là cây
bụi thưa thớt.
c). Hiện trạng khu dân cư và các đối tượng dễ bị tổn thương trong quá trình hoạt
động của Dự án
- Dân cư:
Qua khảo sát hiện trạng khu vực mỏ cho thấy, khu dân cư gần nhất là khu dân cư
thôn Đức Phú, xã Đức Hóa sống cách khu mỏ tại vị trí gần nhất khoảng 300m về phía
Bắc.
Với khu vực bãi chế biến thì khu dân cư gần nhất cách bãi chế biến khoảng
140m về phía Đông Bắc.
- Hiện trạng giao thông:
Khu vực thăm dò có điều kiện giao thông khá thuận lợi:
21
Đường bộ: Mỏ cách quốc lộ 12A đoạn rẽ vào dự án khoảng 380m về phía
Đông Nam, có kết cấu đá dăm cấp phối, ô tô có trọng tải lớn từ 15-20 tấn có thể vào
tận mỏ một cách dễ dàng. Tuyến đường từ Quốc lộ 12A vào khu vực dự án không
có dân cư sinh sống. Cách đoạn giao giữa Quốc lộ 12A và đường vào dự án khoảng
600m về phía Đông có cắt đoạn giao cắt giữa Quốc lộ 12A và tuyến đường sắt Bắc
– Nam, tuy nhiên đoạn giao cắt có barie chắn và có người canh gác nên đảm bảo an
toàn trong quá trình vận chuyển sản phẩm. Ngoài ra, chủ dự án sẽ làm cống hộp để bắc
chuyển sản phẩm đi tiêu thụ;
+ Khu mỏ khai thác cách khu vực rừng trồng keo lá tràm của người dân
khoảng 100m về phía Tây nên sẽ không đảm bảo an toàn cho rừng trồng và người
dân làm việc tại đây.
1.3. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA DỰ ÁN
1.3.1. Trữ lượng mỏ và tuổi thọ mỏ
* Trữ lượng địa chất
Theo Báo cáo kết quả thăm dò đã được phê duyệt theo Quyết định số
3608/QĐ UBND ngày 15 tháng 12 năm 2015 của UBND Tỉnh thì trữ lượng địa chất
cấp 121+122 mỏ đá làm vật liệu xây dựng thông thường Lèn Cụt Tai của Công ty
Cổ phần Khai khoáng AMI là: 2.399.392m3 (với thể trọng: 2,708T/m3).
* Trữ lượng khai thác (trữ lượng công nghiệp)
Trữ lượng khai thác trong biên giới khai trường được xác định trên cơ sở biên
giới mỏ đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường Lèn Cụt Tai.
Trữ lượng khai thác là trữ lượng địa chất trong biên giới mỏ sau khi đã trừ đi
phần trữ lượng để lại bờ mỏ theo quy định về an toàn trong khai thác.
Qkt = Qđc – Qbv, m3
Qkt = 2.399.392 – 610.398 = 1.919.513 m3
Trong đó: Trữ lượng địa chất: Qđc = 2.399.392 m3
Trữ lượng để lại bờ mỏ: Qbm = 610.398 m3
Thay kết quả vào tính được: V = 1.919.513 m3.
* Công suất khai thác:
Căn cứ vào nhu cầu vật liệu xây dựng của thị trường, căn cứ khả năng tổ chức
sản xuất, khả năng đầu tư của Công ty, dự kiến sản lượng sau chế biến: A q =
221.402 m3/năm.
Như vậy, công suất khai thác của dự án là 221.402 m3/năm.
* Tuổi thọ mỏ
T = T1 + T2 + T3 + T4 , năm
+ T1- Thời gian xây dựng cơ bản mỏ: 1,3 năm.
1.3.2.2. Vận tải trong và ngoài mỏ
Do đặc điểm của mỏ là khai thác trong điều kiện địa hình phức tạp. Do vậy để
đảm bảo tính cơ động, điều hoà được khâu vận tải trong quá trình khai thác, khắc
phục được điều kiện địa hình phức tạp thì sử dụng hình thức vận tải bằng ô tô tự đổ
là hợp lý. Sau khi khoan nổ mìn, đất đá được đổ xuống bãi bóc xúc cao độ +25m.
Tại bãi bóc xúc, máy xúc đổ lên ô tô tải trọng 10 tấn chở về trạm đập.
24
Vận tải ngoài mỏ chủ yếu do các đơn vị vận tải chuyên nghiệp đảm nhiệm,
phục vụ nhiệm vụ vận chuyển đá thành phẩm đến nơi tiêu thụ. Công ty không đầu
tư phương tiện tham gia lĩnh vực vận tải ngoài mỏ.
1.3.2.3. Sản phẩm và đất đá thải
Đá khai thác tại mỏ đá Lèn Cụt Tai được đập phá bằng đầu đập thuỷ lực có
kích cỡ đường kính tối đa 350 mm vận chuyển khoảng 300m về trạm đặt dàn máy
nghiền sàng qua phểu tiếp nhận và cấp liệu tấm, đá vôi được đập trong máy đập chế
biến đến kích thước cục (cm) 2x4; 1x2 ; 0,5x1;
Công suất khai thác: 221.402 m3/năm.(đá hộc 50%; chế biến xay nghiền 50%).
Cơ cấu đá các loại :
- Đá hộc = 110.701m3 ;
Các loại đá xay nghiền = 110.701 m3; trong đó:
- Đá 1x2 : 55%
- Đá 4 x 6: 15%;
- Đá 2 x 4: 15%;
- Đá 0,5x 1 :15%
Đá xây dựng thành phẩm từng loại được chở về các công trình xây dựng theo
quy cách và đơn đặt hàng phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu của khách
hàng.
Đất, đá thải : Theo báo cáo kết quả thăm dò mỏ đá vôi làm VLXDTT tại Lèn