MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1.
Những khái niệm cơ bản
1.2.
Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung
học cơ sở
1.3.
Các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục đạo đức cho
học sinh trung học cơ sở.
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HIỆN NAY
2.1. Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh
trung học cơ sở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
2.2. Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường
trung học cơ sở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
2.3. Nguyên nhân ưu điểm và hạn chế trong lý giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học cơ sở huyện Thanh Trì
Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HIỆN NAY
3.1. Yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý
3.2. Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức ở các trường trung
học cơ sở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
3.3. Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
nguồn lực con người cho xã hội với nhân cách phát triển toàn diện. Giáo dục
đạo đức, giáo dục văn hóa là hai nhiệm vụ trọng tâm để hình thành và phát
triển nhân cách cho học sinh.
Do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường và xu thế toàn cầu hóa
cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo
đức và những giá trị nhân văn tác động đến đại đa số thanh niên và học sinh
như có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ hoài bão, lập thân, lập nghiệp, những
tiêu cực trong thi cử… thêm vào đó là sự du nhập văn hóa đồi trụy thông qua
các phương tiện đại chúng như: phim ảnh, game, mạng internet.. làm ảnh
hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu
niên và học sinh, nhất là các em chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn
đề này làm ảnh hưởng đến sự tu dưỡng học tập và rèn luyện đạo đức.
Tại Hội nghị BCHTW Đảng cộng sản Việt nam lần thứ II khóa VIII,
khi đánh giá về công tác giáo dục đào tạo trong thời gian quan đã nêu “Đặc
biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái
đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão, lập
thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”. Và đã đề ra:
“Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục , mỹ
dục ở tất cả các bậc học. Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân
cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành”[14,tr.33]
4
Lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở (THCS) là lứa tuổi mà nhân cách
đang được định hình và phát triển. Những tác động từ môi trường bên ngoài dễ
dàng thâm nhập vào nhận thức của trẻ. Ở lứa tuổi này, nếu không được giáo dục
đúng đắn, học sinh rất dễ có những hành vi lệch chuẩn. Vì vậy cần giáo dục thói
quen tốt trong hành vi để trở thành phẩm chất đạo đức trong nhân cách cho trẻ.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, công tác giáo dục đạo đức ở các trường
THCS hiện nay còn nhiều bất cập. Đó là còn hiện tượng giáo viên bộ môn chỉ
sinh trung học cơ sở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hiện nay”
làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc giáo dục đạo đức của học sinh trong nhà trường được xem là vấn
đề quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách học
sinh, vì thế đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục trong và
ngoài nước quan tâm.
* Các nghiên cứu ở nước ngoài
Thế kỷ XVII, Komenxky, nhà giáo dục vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều
đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Lý luận dạy học vĩ đại”.
Komenxky đã chú trọng môi trường bên trong và bên ngoài để giáo dục đào
tạo đạo đức cho học sinh. Đóng góp của ông cho nhân loại chính là tấm
gương về đạo đức của cuộc đời mình là những phương pháp giáo dục đạo đức
cho người thầy mà ông đã khẳng định “ Nếu anh không như một người cha thì
cũng không thể là một người thầy” [34,tr.85].
Thế kỷ XX, một số nhà giáo nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu
về GGĐĐ như: AC.Macareno, VA. Xukholinxky… Những nghiên cứu của
họ đã đặt nền tảng cho việc GGĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH
ở Liên Xô.
6
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc Cổ
đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo đức của họ. Đạo là một trong những phạm
trù quan trọng nhất của Triết học Trung Quốc Cổ đại. Đạo có nghĩa là con
đường, là đường đi. Về sau, khái niệm đạo đức được vận dụng trong Triết học
để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo có nghĩa là con đường sống của con
người trong xã hội.
Khổng Tử (551-479TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc.
Ông đã xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”. Trong đó chữ “Nhân”
hành qui định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức
lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước [37, tr.168-170].
Các giáo trình đạo đức học của các tác giả như Trần Hậu Kiểm (Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, 1993), Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng
(Nhà xuất bản Giáo dục, 2001) và giáo trình triết học Mác - Lênin của PGS,
TS Vũ Trọng Dung (Chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2005) đã
cung cấp những kiến thức về đạo đức và đạo đức học.
Về vấn đề giáo dục đạo đức có nhiều tác giả nghiên cứu như: Vũ Khiêu
(chủ biên): Đạo đức mới (1974), Thái Duy Tuyên (chủ biên): Tìm hiểu định
hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường
(1994), Hà Nhật Thăng: Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn (1998),
Phạm Minh Hạc: Về phát triển con người toàn diện thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (2001), Huỳnh Khải Vinh: Một số vấn đề về lối sống đạo đức,
chuẩn giá trị xã hội (2001),…
Khi nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức, các tác giả trên đã đề cập
đến nội dung, mục tiêu, phương pháp giáo dục đạo đức và một số vấn đề về
quản lý công tác giáo dục đạo đức.
Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu của “Trung
tâm nghiên cứu GDĐĐ công dân” của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, một
8
số luận văn, luận án… Những công trình trên chủ yếu tập trung phân tích ý
nghĩa, yêu cầu của việc liên kết các LLXH nhằm thực hiện chương trình hoạt
động GDNGLL ở trường phổ thông. Ở một góc độ nào đó các công trình ấy
đã đề cập đến vấn đề Quản lý sự phối hợp, nhưng chưa bàn cụ thể xác định
biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh THCS.
Ngày 26 tháng 11 năm 2009, Bộ GD-ĐT đã tổ chức Hội thảo khoa học
“Về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ, lối sống, phòng chống tội
phạm, bạo lực trong học sinh phổ thông”. Hội thảo được nhiều học giả và cán
dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Bình Sơn tỉnh Vĩnh Phúc, (2010).
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng với đề tài Một số giải pháp quản lý nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT trên địa
bàn thị xã Quảng Trị, (2011). Tác giả Nguyễn Thị Suốt với đề tài Một số giải
pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở các
trường THCS trên địa bàn quận Bình Tân,TP Hồ Chí Minh, (2012).
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên phần lớn tập trung
luân giải những vấn đề, những nội dung cơ bản như:
Vai trò của GDĐĐ, quản lý GDĐĐ; khái niệm về quản lý, quản lý
GDĐĐ; bản chất, chức năng, nguyên tắc và phương pháp quản lý giáo dục
đạo đức; thông tin trong quản lý và quản lý GDĐĐ, công cụ trong quản lý
GDĐĐ; hệ thống giáo dục quốc dân; quản lý nhà nước về giáo dục; các mô
hình quản lý GDĐĐ; phân cấp trong quản lý GDĐĐ; thực trạng công tác quản
lý GDĐĐ trên nhiều địa bàn toàn quốc; một số kinh nghiêm quốc tế về quản
lý GDĐĐ; quản lý GDĐĐ trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.
Nhìn chung các công trình nêu trên đều thống nhất cho rằng rất cần
thiết phải quản lý công tác GDĐĐ, đồng thời chỉ ra những yêu cầu cụ thể để
quản lý GDĐĐ về phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường… Có
công trình coi quản lý GDĐĐ như một giải pháp, điều kiện nhằm thực hiện
đổi mới nội dung, phương pháp dạy học. Có công trình coi việc quản lý
10
GDĐĐ như là một giải pháp để đổi mới kiểm tra, đánh giá. Có công trình coi
việc quản lý GDĐĐ như một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến quản lý GDĐĐ toàn
diện cả về mục tiêu, nội dung, kế hoạch, chương trình cụ thể.
Mặc dù vậy, tất cả các công trình nghiên cứu nêu trên là những tài liệu
có giá trị về mặt khoa học để kế thừa vận dụng trong nghiên cứu, thực hiện
mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn đã xác định.
đức cho học sinh THCS công lập trên địa bàn huyện Thanh trì, thành phố
Hà Nội.
Sử dụng số liệu từ năm học 2009 - 2010 đến năm học 2013 - 2014 để
nghiên cứu.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS luôn giữ một vai trò hết
sức quan trọng, là nhân tố quyết định chất lượng dạy học và hình thành nhân
cách cho học sinh. Nếu các chủ thể quản lý thực hiện đồng bộ các biện pháp
như: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, các lực
lượng trong và ngoài nhà trường về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh;
Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức từ đầu năm học và lồng ghép vào kế
hoạch chung của nhà trường; Tổ chức đa dạng hoá nội dung, hình thức và
phương pháp giáo dục; Triển khai nghiêm túc cuộc vận động “Nói không với vi
phạm đạo đức nhà giáo” trong toàn ngành; Phối hợp với các lực lượng trong và
ngoài nhà trường tham gia giáo dục; Thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá,
khen thưởng, kỷ luật nghiêm túc, kịp thời,... thì sẽ quản lý tốt việc GDĐĐ cho
học sinh ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
12
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng; quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về GD và quản lý GD, đặc biệt là những quan điểm liên
quan đến quản lý GDĐĐ cho học sinh THCS. Đồng thời, luận văn vận dụng
các quan điểm hệ thống - cấu trúc; lịch sử - logic; phương pháp luận của khoa
học quản lý giáo dụcvà quan điểm thực tiễn làm cơ sở luận giải những vấn đề
lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản
nhất, những nguyên tắc, chẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội. Dựa trên các
quan điểm nguyên tắc cơ bản ấy để con người phân biệt, lựa chọn các quan hệ
đạo đức đúng đắn, phê phán những hành vi đạo đức không phù hợp với yêu
cầu của xã hội.
Theo Phạm Viết Vượng thì “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới
người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích
cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen, hành vi chuẩn
mực về đạo đức.”[46,tr.16]
* Giáo dục đạo đức trong trường THCS
Là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện
chứng với các bộ phân khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thể mỹ, giáo
dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục hướng nghiệp giúp cho học
sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện. Giáo dục đạo đức cho
học sinh trung học cơ sở là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch
nhằm giúp cho nhân cách của mỗi học sinh được phát triển toàn diện, có
những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ, hình thành và
phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, thói quen đạo đức cho học sinh .
Hoạt động giáo dục đạo đức cũng như các hoạt động giáo dục khác đều có
các thành tố có quan hệ với nhau trong hệ thống cấu trúc nhất định và vận
động. Các thành tố cơ bản của giáo dục và người được giáo dục, mục đích
giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, kết
quả giáo dục…
15
Về nhiệm vụ GDĐĐ là làm sao cho mỗi con người được giáo dục
xây dựng môi trường, phối hợp các LLXH thực hiện mục tiêu, nội dung GDĐĐ
nói riêng và mục tiêu GD nói chung.
1.1.2. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả
trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho
đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là từ thế
kỷ XXI các quan niệm về quản lý càng phong phú. Các trường phái quản lý
học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý khác nhau. Nhưng chúng ta có thể
hiểu: Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
* Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Quản lý GDĐĐ cho học sinh THCS là một bộ phận trong quá trình
QLGD tổng thể và có quan hệ biện chứng với các bộ phận khác như: quản lý
giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và
hướng nghiệp, giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống, giáo dục
pháp luật XHCN… giúp HS hình thành phát triển nhân cách toàn diện.
Quản lý giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý
tới đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt kết quả
mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. Quản lý GDĐĐ thực chất cũng là một
hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động.
Như vậy, chủ thể quản lý chính là người gây ra và đối tượng quản lý
chính là người chịu tác động. Ở đây, chủ thể quản lý chính là Hiệu trưởng,
phó Hiệu trưởng, Bí thư Chi bộ, Chủ tịch Công đoàn, Bí thư đoàn Thanh
niên, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên, các Tổ trưởng… Đây chính là bộ
máy Liên tịch trong nhà trường, là cánh tay nối dài của Hiệu trưởng trong
việc vận hành công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh. Bên cạnh đó là giáo
17
viên chủ nhiêm lớp… và chính bản thân học sinh, vì học sinh cũng phải tự
và hưởng ứng những việc làm đúng đắn trong công tác GDĐĐ cho học sinh,
biết đấu tranh chống lại những hành vi sai trái, không phù hợp với chuẩn mực
đạo đức của xã hội.
* Về hành vi: Từ nhận thức và thái độ đồng thuận, thu hút mọi lực
lượng cùng tham gia công tác GDĐĐ cho học sinh cũng như hỗ trợ công tác
quản lý GDĐĐ có hiệu quả.
1.2.2. Quản lý kế hoạch giáo dục đạo đức
Lập kế hoạch là xác định các hoạt động cần thiết để đạt được một tập
hợp các mục tiêu đã đề ra. Lập kế hoạch là đưa ra các quyết định trước khi
thành lập, dựa vào mong muốn và dự định tạo ra trong tương lai theo hướng
đã định trước.
Vì vậy, người Hiệu trưởng cần phải xây dựng kế hoạch hoạt động
GDĐĐ trong nhà trường THCS. Hoạt động GDĐĐ trong nhà trường THCS là
bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống kế hoạch quản lý trường học. Cho
nên, kế hoạch phải đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GDĐĐ với mục
tiêu giáo dục chung của nhà trường, phối hợp hữu cơ với kế hoạch hoạt động
trên lớp, lựa chọn nội dung, hình thức đa dạng, thiết thực phù hợp với tâm
sinh lý của học sinh để đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.3. Quản lý việc xây dựng nội dung, phương tiện, phương pháp,
hình thức giáo dục đạo đức
* Quản lý nội dung chương trình
Chương trình dạy học do Bộ GD&ĐT ban hành là công cụ chủ yếu để
Hiệu trưởng quản lý, lãnh đạo và giám sát công tác dạy học trong nhà trường.
Các hoạt động có liên quan đến GDĐĐ như: hoạt động giảng dạy của các
môn học văn hoá, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động của GVCN, hoạt
động của Đoàn - Đội, hoạt động tổ chức các ngày lễ lớn trong năm…
19
Nội dung GDĐĐ bao gồm những nhóm chuẩn mực sau:
từ cấp trên và những thông tin phản ánh ý kiến của CB-GV cấp dưới cung
các LLXH ngoài nhà trường. Thông tin QL cũng phải được truyền đạt kịp
thời, đầy đủ đến CB,GV và HS. Để truyền đạt được thông tin hai chiều,
người CBQL phải tiến hành các cuộc họp sơ kết, tổng kết tuần, tháng, học
kỳ, năm học, thực hiện các cuộc họp giao tiếp XH và giao tiếp nội bộ,
thông báo bảng, thông báo bằng văn bản, lấy ý kiến trực tiếp hoặc bằng văn
bản, duy trì các loại báo cáo định kỳ hoặc đột xuất. Các cơ chế truyền đạt
thông tin, thu thập thông tin giúp CBQL có các cơ sở thực tiễn để xây dựng
kế hoạch, tăng cường xây dựng các quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân,
đảm bảo cho các hoạt động GDĐĐ được tiến hành một cách đồng bộ, đạt
hiệu quả cao.
Hiệu trưởng cần phát triển hơn hệ thống thông tin theo hướng đa dạng hoá
các loại hình như: sách tham khảo, báo chí, internet,…tại thư viện nhà trường.
Người CBQL cần quan tâm tới quản lý sự thống nhất về hai nhóm
phương pháp GDĐĐ cho học sinh THCS:
Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân phát triển cảm xúc,
tình cảm, niềm tin đạo đức.
Nhóm này có rất nhiều phương pháp và hình thức, nhưng cần đổi mới
một số phương pháp sau:
Kết hợp phương pháp cảm hóa¸ thuyết phục với đàm thoại: Thể hiện ở
chỗ trao đổi ý kiến với nhau về một câu chuyện nào đó nhằm mục đích
GDĐĐ cho học sinh. Những câu chuyện đó thường có nội dung giáo dục tư
tưởng đạo đức đa dạng và phong phú. Nhiệm vụ của phương pháp này nhằm
lôi cuốn học sinh vào việc phân tích và tự đánh giá các sự kiện, các hành vi,
các hiện tượng trong đời sống xã hội diễn ra xung quanh. Trên cơ sở đó giúp
các em có những thái độ đúng đắn với các hiện thực xung quanh.
21
Phương pháp tranh luận đối thoại: Là phương pháp hình thành cho HS
Hiệu trưởng thông qua các Phó hiệu trưởng, các tổ xây dựng chương trình
GDĐĐ của nhà trường bao gồm: Chương trình GDĐĐ thông qua hoạt động
giảng dạy, thông qua hoạt động chủ nhiệm, hoạt động giám thị, thông qua
HĐNGLL, thông qua hoạt động chào cờ. Trên cơ sở đó Hiệu trưởng phải
yêu cầu các tổ bộ môn, tổ chủ nhiệm, tổ giám thị và CB,GV của các tổ liên
quan lập chương trình GDĐĐ, phải nêu rõ hình thức biện pháp GDĐĐ thể
hiện rõ sự phân công cho từng cá nhân đối với từng nội dung chương trình.
Người CBQL cũng cần quan tâm tới quản lý các hình thức GDĐĐ cho
học sinh:
GDĐĐ thông qua giảng dạy các môn khoa học và xã hội và nhân văn:
những kiến thức có liên quan đến giá trị, thái độ và cách ứng xử, hành vi đạo
học sinh đức trong xã hội. Thông qua các hoạt động học tập, chất lượng học
tập ngày càng được nâng cao, học sinh không những tiếp thu hệ thống các giá
trị mà còn góp phần sáng tạo những giá trị mới…
GDĐĐ thông qua HĐNGLL: Khi tham gia các hoạt động của tổ chức
Đoàn, Đội, các hoạt động văn hóa văn nghệ, TDTT… Học sinh sẽ nâng cao
tính tập thể, tinh thàn cộng đồng, tinh thần trách nhiệm, tạo bầu không khí vui
tươi phấn chấn, gắn bó với tập thể.
Cũng thông qua môi trường tập thể sẽ giúp cá nhân tự điều chỉnh, uốn
nắn những lệch lạc của cá nhân, giúp cho học sinh hiểu và thực hiện đúng
nghĩa vụ và trách nhiệm của bản thân, biết giới hạn và thỏa mãn nhu cầu
chính đáng của bản thân.
GDĐĐ thông qua tự tu dưỡng, tự rèn luyện, tự hoàn thiện đạo đức nhân
cách. Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến phẩm chất đạo đức của mỗi học
sinh. Sự hình thành và phát triển đạo đức của mỗi cá nhân là một quá trình lâu
dài và phức tạp. Trong đó các tác động bên ngoài và những động lực bên
23
trong thường xuyên tác động lẫn nhau và vai trò của mỗi yếu tố thay đổi theo
trong các hoạt động tự quản, giáo dục học sinh vi phạm nội quy, khen thưởng
cá nhân và tập thể có tiến bộ trong học tập và rèn luyện.
Quản lý GDĐĐ phải quán triệt yêu cầu toàn diện: Phải đảm bảo quán
triệt 5 điều Bác Hồ dạy; Đảm bảo nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo
đức; Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm cách mạng trong sáng; Đấu tranh khắc
phục, ngăn chặn những biểu hiện thiếu đạo đức trong tư tưởng, tình cảm, hành
động của học sinh, xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá, tích cực tham gia
phòng chống tệ nạn xã hội.
1.2.6. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá, đánh giá chất lượng giáo dục
đạo đức
Trong quản lý GDĐĐ, việc kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa không chỉ đối
với nhà quản lý mà còn có ý nghĩa đối với học sinh. Vì qua kiểm tra, đánh giá
của giáo viên, học sinh, hiểu rõ hơn về các hoạt động của mình. Từ đó hoạt
động tích cực hơn, tự giác hơn, biết tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho
phù hợp với yêu cầu chung của xã hội. Việc kiểm tra, đánh giá phải khách
quan, toàn diện, hệ thống, công khai. Sau khi kiểm tra phải có nhận xét, kết
luận, phải động viên, khen thưởng, nhắc nhở kịp thời những sai sót thì mới có
tác dụng. Hiệu trưởng có thể kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực
tiếp hay gián tiếp, cần xây dựng chuẩn kiểm tra cho phù hợp giúp học sinh
củng cố và tăng cường ý thức rèn luyện ở học sinh.
Đánh giá đối với môn Giáo dục công dân cần kết hợp giữa đánh giá
bằng cho điểm mức độ đạt được về kiến thức và kỹ năng với việc theo dõi sự
tiến bộ về thái độ, hành vi trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống của học sinh.
Đối với một số môn khoa học xã hội như: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, GDCD
cần đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng hạn chế học sinh chỉ ghi nhớ máy
móc. Tiếp tục đổi mới kiểm tra đánh giá bằng cách nêu vấn đề mở, đòi hỏi
25
học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng. Đây là vấn đề khó, Hiệu
cha mẹ học sinh và các tổ chức đoàn thể khác… Vì vậy cần thiết phải có sự
liên kết gắn bó và thống nhất hữu cơ với nhau để cùng giúp đỡ, hỗ trợ, xây
dựng và triển khai mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường nói chung,
hoạt động GDĐĐ nói riêng.
1.2.8. Quản lý sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong
việc giáo dục đạo đức.
Người CBQL cần nhận thức được tầm quan trọng của việc phối hợp
giáo dục giữa Gia đình - Nhà trường - Xã hội để có sự quản lý đúng đắn và
linh hoạt bởi lẽ quá trình hình thành và phát triển nhân cách nói chung,
phát triển các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị nói riêng luôn bị chế
ước bởi những điều kiện khách quan và chủ quan tác động. Để công tác
GDĐĐ đạt hiệu quả cao cần có một môi trường giáo dục lành mạnh, môi
trường văn hoá thuận lợi cho giáo dục, trong đó mọi người, từ gia đình đến
cộng đồng cùng nhà trường làm tốt việc định hướng giá trị của xã hội
chúng ta.
Quản lý được sự phối hợp giữa Gia đình - Nhà trường - Xã hội
trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh góp phần tạo dựng môi trường
giáo dục mang tính liên kết cao, đồng thời có tác dụng thúc đẩy sự quan
tâm của cộng đồng, gia đình trong việc giáo dục trẻ nói chung, giáo dục
đạo đức nói riêng
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học cơ sở
Trong quá trình tồn tại và phát triển, giáo dục có mối quan hệ mang
tính quy luật với trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội. Với
tư cách là một chức năng xã hội, giáo dục chịu sự chi phối của các yếu tố
khách quan trong đời sống xã hội như: Kinh tế xã hội, môi trường xã hội,