LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý HOẠT ĐỘNG GIÁO dục kỷ LUẬT CHO học VIÊN TRƯỜNG TRUNG cấp CẢNH sát vũ TRANG - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
1.

Trang
3

DỤC KỶ LUẬT CHO HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG

CẤP CẢNH SÁT VŨ TRANG
1.1. Các khái niệm công cụ
1.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học

12
12

viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật

18

cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang
Chương CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO

23

2.

DỤC KỶ LUẬT CHO HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG


đã đề xuất
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

75
81
84
88

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kỷ luật là một yếu tố hết sức quan trọng tạo thành sức mạnh của một tổ
chức. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ thiên tài, nhà tư tưởng lỗi lạc,


người thầy kính yêu của Đảng và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực
lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, luôn chăm lo xây dựng, giáo dục và rèn
luyện CAND trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt.Tư tưởng, tình cảm của
Người đã trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, là nền tảng lý luận, kim chỉ
nam cho mọi hoạt động của lực lượng CAND, góp phần quan trọng làm nên
những chiến công to lớn, thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninh
quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Trong quá trình xây dựng lực lượng
CAND cách mạng Người đã rất coi trọng việc giáo dục kỷ luật, trong bài nói
chuyện tại lớp nghiên cứu khóa I và lớp bổ túc khóa VI Trường Công an Trung
ương, ngày 25-12-1958, Người nhấn mạnh: “Công an đánh địch bên ngoài đã
khó, đánh địch bên trong người còn khó khăn hơn. Vì vậy, phải nâng cao kỷ
luật, tính tổ chức, chống ba phải, nể nang. Công tác phải đi sâu và thiết thực.
Làm việc phải có điều tra, nghiên cứu, không được tự kiêu, tự đại. Phải toàn
tâm, toàn ý phục vụ nhân dân thì khuyết điểm mới có thể khắc phục được và ưu

GDKL cho học viên - nhân tố cơ bản, quan trọng trong phẩm chất nhân cách
và năng lực của người cán bộ, chiến sĩ CAND. Trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ giáo dục đào tạo, Nhà trường, các cấp lãnh đạo, chỉ huy và các cơ
quan chức năng luôn quan tâm việc quản lý giáo dục xây dựng nếp sống
chính quy cho HV và được chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ. Do đó, chất
lượng, hiệu quả xây dựng nếp sống chính quy, GDKL được nâng lên, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Nhà trường. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đạt được, quá trình QLGD, GDKL cho học viên cũng
còn những hạn chế như: Nhận thức về GDKL của học viên vẫn còn có mặt
chưa toàn diện thiếu vững chắc; một bộ phận học viên còn nhận thức chưa
đúng, chưa đầy đủ về pháp luật, kỷ luật, chế độ nền nếp qui định trong học
tập, sinh hoạt, công tác; còn có các trường hợp học viên vi phạm điều lệnh
CAND, chế độ quy định của Ngành và của Trường; vi phạm kỷ luật thông
thường vẫn còn khá phổ biến cần sớm được khắc phục. Những vi phạm đó
ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực hiện nhiệm vụ và uy tín của Nhà trường.
3


Những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do công tác giáo dục và quản
lý hoạt động GDKL cho HV còn có những mặt hạn chế...
Trong thời gian qua, đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý nghiên cứu
về vấn đề kỷ luật cho học viên với các góc độ tiếp cận, ở các chuyên ngành
khác nhau; song, chưa có một tác giả, công trình nào đi sâu nghiên cứu về
quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang
với cách tiếp cận của khoa học QLGD. Vì những lý do đó, học viên chọn vấn
đề: “Quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên ở Trường Trung cấp
Cảnh sát vũ trang” làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp thạc sĩ QLGD.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề kỷ luật, GDKL và quản lý GDKL đã có những công trình
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài ngành dưới các góc độ khác nhau.

đạo đức, xây dựng động cơ GDKL cho các quân nhân; tổ chức tốt mọi hoạt động
quân sự trong đơn vị; thực hành kỷ luật nghiêm, xây dựng thói quen hành vi kỷ
luật vững chắc; phát huy vai trò của người chỉ huy và tập thể cơ sở quân nhân
trong xây dựng các nền nếp kỷ luật của đơn vị, quản lý kỷ luật tốt nhằm phát
triển tính kỷ luật của quân nhân; tích cực hoá tự giáo dục kỷ luật của mỗi quân
nhân. Các tác giả cũng đề cập đến vấn đề quản lý và coi đó là một trong
những biện pháp nhằm nâng cao tính kỷ luật của quân nhân.
- Các nghiên cứu vấn đề kỷ luật dưới góc độ của Khoa học giáo dục, tác
giả Phạm Minh Thụ nghiên cứu sâu về “Sử dụng tổng hợp các phương pháp
giáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho học viên sĩ quan ở các trường đại học
quân sự” (2004). Trong đó, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên
cứu, đưa ra ba nhóm phương pháp giáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho học
viên (gồm xây dựng ý thức kỷ luật; hoạt động GDKL; kích thích và điều
chỉnh nhận thức, thái độ hành vi), đồng thời phân tích thực trạng và đề xuất
các biện pháp sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục nhằm nâng cao
chất lượng GDKL cho học viên, đáng chú ý như: kết hợp các phương pháp
giáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho học viên thông qua quá trình tổ chức
thực hiện các chế độ quy định ở Nhà trường đại học quân sự; thông qua tổ
chức thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và thông qua việc xây dựng môi
trường giáo dục lành mạnh, chính quy mẫu mực ở Nhà trường đại học quân
sự. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra Quy trình sử dụng tổng hợp các phương pháp
5


giáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho học viên theo từng năm học cụ thể gồm
3 khâu: nâng cao nhận thức; xây dựng thái độ niềm tin; hình thành thói quen
hành vi kỷ luật; trong mỗi khâu gồm có các bước, các tác động giáo dục cụ
thể.
Tác giả Vũ Quang Hải với đề tài về “Nghiên cứu quy trình tổ chức
GDKL cho học viên trong Nhà trường Quân đội” (2009), trên cơ sở nghiên

giáo dục, rèn luyện, quản lý kỷ luật cũng như vai trò của cán bộ lãnh đạo, chỉ
huy, các tổ chức ở đơn vị trong việc giáo dục, GDKL cho quân nhân và tập
thể quân nhân.
Từ sự phân tích những luận cứ khoa học của vấn đề nghiên cứu, các tác
giả đã đề xuất nhiều kiến nghị và biện pháp nhằm củng cố KLQĐ, tăng cường
hiệu quả công tác giáo dục, quản lý giáo dục, GDKL cũng như phát huy vai trò
của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, các tổ chức ở đơn vị cơ sở trong việc giáo
dục, GDKL cho quân nhân và tập thể quân nhân trong quân đội.
Tóm lại, từ sự khái quát và luận giải những công trình khoa học liên
quan đến vấn đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy:
Kỷ luật, GDKL, quản lý GDKL là những vấn đề được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đề tài khoa học cấp
Nhà nước, cấp Bộ đến các luận án, luận văn và các bài báo khoa học, nhưng
chủ yếu của các tác giả trong quân đội. Các công trình nghiên cứu tuy khác
nhau về đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, song các tác giả đã tập
trung phân tích, làm rõ vị trí, vai trò, bản chất của kỷ luật và quản lý GDKL
cho quân nhân, đánh giá thực trạng giáo dục và chấp hành kỷ luật; đề xuất
các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý kỷ luật và hình
thành thói quen hành vi chấp hành kỷ luật; trong đó quản lý hoạt động
GDKL được đề cập đến như là một biện pháp trực tiếp nhằm nâng cao chất
lượng GDKL cho học viên.
Kết quả nghiên cứu của các đề tài, công trình trên đã đáp ứng một phần thực
tiễn xây dựng lực lượng vũ trang trước mắt cũng như lâu dài; đồng thời là cơ sở
trực tiếp để tác giả kế thừa và phát triển vấn đề nghiên cứu dưới góc độ của khoa
học QLGD. Mặt khác, hiện nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về
Quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ
trang, do đó tác giả lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu.
7





thức, trách nhiệm của chủ thể và đối tượng quản lý; xây dựng và thực hiện tốt
quy trình quản lý; đồng thời, phối hợp chặt chẽ các chủ thể trong quá trình quản
lý và phát huy tự quản lý, chấp hành kỷ luật của học viên… thì hoạt động GDKL
cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang sẽ đi vào nền nếp, có chất
lượng, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ của và xây dựng Nhà
trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng. Quán triệt và cụ thể hoá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về giáo dục, QLGD, của Bộ Công an; Đảng uỷ Công an Trung ương về giáo
dục, rèn luyện phẩm chất nhân cách người cán bộ, chiến sĩ CAND. Quá trình
nghiên cứu, đề tài sử dụng các quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc, quan điểm
lôgíc - lịch sử và quan điểm thực tiễn để luận giải các nhiệm vụ của đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu khoa học, các văn kiện,
nghị quyết, văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, của lực lượng CAND
liên quan đến GDKL và quản lý GDKL, đặc biệt là Điều lệnh CAND, Quy
tắc ứng xử của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức CAND;
các tạp chí, thông tin, sách báo, công trình khoa học về tình hình giáo dục,
quản lý hoạt động GDKL và chấp hành kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ trong lực
lượng CAND. Từ đó xác định cơ sở lý luận quản lý hoạt động GDKL cho
học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trao đổi, tọa đàm với CBQL các cấp (phòng, khoa, tổ), đặc biệt là các cơ
quan chức năng (Phòng Quản lý học viên, Phòng Đào tạo, CBQL học viên) và
đơn vị học viên.

danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỶ LUẬT
CHO HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT
10


1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm giáo dục kỷ luật cho học viên ở Trường Trung cấp
Cảnh sát vũ trang
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Kỷ luật trật tự nhất định
trong hành vi của con người theo những chuẩn mực do luật pháp, đạo đức
quy định trong từng thời kỳ lịch sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay của giai
cấp, tập đoàn xã hội riêng rẽ hay của một cộng đồng. Kỷ luật là phương tiện
để thống nhất hành động trong cộng đồng” [44, tr.112]. Trong bất cứ tổ
chức nào, để duy trì mọi hoạt động có nền nếp, tạo sự thống nhất đều cần
phải có những quy định riêng dựa trên những quy tắc, điều lệ chung và nội
dung của luật pháp.
Quan niệm về kỷ luật có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, được
diễn đạt bằng những thuật ngữ khác nhau, song đều bao hàm nội dung cơ bản đó
là những quy tắc, chuẩn mực được xây dựng trên cơ sở nhận thức thống nhất và
phản ánh lợi ích của xã hội, cộng đồng hay một tổ chức nhất định, trở thành cơ
sở pháp lý bắt buộc mọi người trong xã hội, cộng đồng, tổ chức đó phải tuân
theo. Kỷ luật được tồn tại dưới dạng thành văn và không thành văn.
Nội dung của kỷ luật mang tính chính trị - xã hội, phản ánh và cụ thể
hoá Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; điều lệnh, chế độ, qui chế, quy tắc,
qui định của Ngành; mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên.
Kỷ luật có tính tự giác nghiêm minh; được xây dựng và duy trì trên cơ sở
giác ngộ về lý tưởng và mục tiêu chiến đấu, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự

chuẩn mực hành động; sự tự giác, nghiêm minh trong chấp hành các yêu cầu
kỷ luật; sự chặt chẽ trong quản lý kỷ luật...
Theo đó, Kỷ luật của học viên là quá trình chấp hành nghiêm túc,
chính xác các điều luật, quy định, mệnh lệnh của của Ngành, Nhà trường và
của cấp trên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, nhằm tạo nên
sự thống nhất cao, hướng vào hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, góp phần xây
dựng Nhà trường chính quy, vững mạnh toàn diện.

12


Đối với lực lượng Công an, với hoạt động mang tính chất đặc thù, đòi
hỏi cán bộ, chiến sĩ công an phải phục tùng nghiêm ngặt pháp luật Nhà nước,
điều lệnh, quy định của Ngành, để góp phần trực tiếp đến việc hoàn thành
nhiệm vụ của từng người và cả tập thể. Vì vậy kỷ luật là sự chấp hành
nghiêm chỉnh và chính xác của mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND đối với các trật
tự, quy tắc được quy định bởi pháp luật Nhà nước, điều lệnh, quy định của
Ngành, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy và cấp trên.
Nội dung kỷ luật của học viên là một thể thống nhất, hoàn chỉnh, phản
ánh rõ tính toàn diện, đầy đủ, chặt chẽ. Do đó, trong quá trình công tác đòi hỏi
học viên phải chấp hành một cách tự giác, nghiêm minh điều lệnh, điều lệ
Ngành, quy chế GD&ĐT, quy định của Trường, bảo đảm hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ được giao.
Giáo dục kỷ luật cho học viên ở nhà trường: Là sự phối hợp thống nhất
giữa hoạt động của nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, với những hình
thức tổ chức, phương pháp giáo dục thích hợp được tiến hành có mục đích,
có tổ chức nhằm nâng cao nhận thức, hình thành thái độ, thói quen hành vi
kỷ luật đúng đắn cho học viên theo mục tiêu giáo dục đã xác định.
Mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của GDKL cho học viên là quá trình làm cho
họ có hiểu biết, nâng cao ý thức kỷ luật, có hành vi kỷ luật đúng đắn theo

phát triển thói quen, hành vi kỷ luật theo yêu cầu của xã hội và Ngành nhằm
tạo nên sự thống nhất cao, hướng vào việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụ
của từng học viên. Hoạt động GDKL cho học viên là sự chấp hành và thực hiện
có chủ đích, có hệ thống và tự giác, nghiêm minh đối với pháp luật Nhà nước, kỷ
luật của Ngành, quy chế GD&ĐT, các quy định của Nhà trường, nhằm tạo sự
thống nhất cao, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ người học viên, góp phần xây
dựng Nhà trường chính quy.
1.1.2. Khái niệm Quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên ở
Trường Trung cấp cảnh sát vũ trang
Theo Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu
cầu nhất định” [45, tr.772].
Quản lý là một loại hình hoạt động đặc biệt, một quá trình tác động
qua lại giữa người và người. Quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ
14


thuật huy động và sử dụng các nguồn lực. Quản lý nhằm tập hợp mọi người,
mọi cấp tạo ra sự hợp tác giữa cá nhân và toàn xã hội trong việc tổ chức thực
hiện kế hoạch và mục tiêu đề ra.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu: Quản lý là
một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích đề ra. Như vậy, quản lý là một quá trình tác động của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ
hội của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Trường học với tư cách là một tổ chức cơ sở giáo dục. Trường học vừa
là thành tố khách thể cơ bản của tất cả cấp QLGD vừa là hệ thống độc lập tự
quản của xã hội. Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý
nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của người dạy, người học và các lực
lượng giáo dục khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để

Cảnh sát vũ trang, gồm: Ban Giám hiệu Nhà trường; lãnh đạo, chỉ huy các
đơn vị quản lý học viên, các cơ quan chức năng và đội ngũ giáo viên Nhà
trường. Các chủ thể này có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng luôn có
mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với nhau cùng hướng tới mục tiêu chung
trong quản lý hoạt động GDKL cho học viên.
Đối tượng quản lý hoạt động GDKL cho học viên trường Trung cấp
Cảnh sát vũ trang là học viên đang học tập, rèn luyện tại Nhà trường. học
viên là đối tượng quản lý và là chủ thể tự quản lý, tự giáo dục GDKL.
Phương thức quản lý hoạt động GDKL cho học viên trường Trung cấp
Cảnh sát vũ trang được thực hiện thông qua việc ban hành các quy chế,
quy định, chỉ thị, mệnh lệnh … trong GDKL; việc phối hợp và phát huy vai
trò các tổ chức, các lực lượng trong GDKL; bằng việc kiểm tra, đánh giá kết
quả hoạt động GDKL và kiểm tra, đánh giá chất lượng GDKL. Các phương
pháp, hình thức quản lý hoạt động GDKL rất đa dạng, phong phú như lên lớp
về kỷ luật như khuyên răn, nhắc nhở, xử phạt... Việc sử dụng phương pháp,
hình thức quản lý hoạt động GDKL phải sáng tạo, linh hoạt phù hợp với từng
nội dung, từng chủ thể, từng đối tượng quản lý và để hướng tới thực hiện có
16


hiệu quả các mục tiêu GDKL đã xác định.
1.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên ở
Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang
Mỗi đối tượng quản lý đều có những nội dung nhất định. Đối với quản
lý hoạt động GDKL của học viên gồm các nội dung cơ bản sau:
1.2.1. Quản lý mục tiêu, kế hoạch hoạt động giáo
dục kỷ luật cho học viên
Để GD&ĐT đội ngũ cán bộ CAND tương lai có chất lượng và hiệu
quả cao, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN trong tình hình mới, Nhà trường cần phải xác định mục

1.2.2. Quản lý hoạt động của chủ thể và đối tượng giáo dục kỷ luật
cho học viên
Chủ thể quản lý hoạt động GDKL cho học viên: Là Đảng uỷ, Ban Giám
hiệu Nhà trường; Cấp uỷ chi bộ, chỉ huy các đơn vị. Trong đó cấp ủy chi bộ, chỉ huy
Tổ, Lớp là chủ thể trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động
GDKL cho học viên.
Chủ thể hướng dẫn, chỉ đạo quản lý hoạt động GDKL cho học viên gồm
các cơ quan chức năng, các khoa giáo viên; đặc biệt là Phòng Quản lý học viên,
Phòng Xây dựng lực lượng, Phòng Đào tạo… đây là những cơ quan tham mưu
cho Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường và trực tiếp chỉ đạo hoạt động quản lý
hoạt động GDKL cho học viên.
Chủ thể trực tiếp quản lý hoạt động GDKL cho học viên là CBQL học
viên ở các Tổ, Lớp, Trung đội. Đội ngũ cán bộ đó là “người thầy thứ hai” trực
tiếp tổ chức GDKL, quản lý, rèn luyện học viên về mọi mặt. Do đó đội ngũ
CBQL học viên có vai trò rất lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhân
cách học viên. Học viên quán triệt và thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo tiếp
nhận sự giáo dục, quản lý kỷ luật thông qua hoạt động của đội ngũ CBQL.
Không chỉ có đội ngũ CBQL trực tiếp tham gia vào quản lý hoạt động GDKL
cho học viên mà còn có đội ngũ giáo viên cũng có nhiệm vụ tham gia giáo dục
học viên; các tổ chức trong đơn vị như chi bộ, tổ đảng, tổ chức đoàn, hội…
Trong suốt quá trình quản lý, giáo dục GDKL đội ngũ CBQL phải phối hợp chặt
chẽ với các bộ phận, các lực lượng khác trong Nhà trường để quản lý, GDKL
18


cho học viên. Mặt khác, học viên vừa là chủ thể của quá trình quản lý, vừa là
đối tượng quản lý; cho nên, chỉ có thể nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý
GDKL khi học viên ý thức đầy đủ về vai trò của tự quản lý, quản lý GDKL.
Đối tượng quản lý: Đối tượng hướng tới của các hoạt động quản lý hoạt
động GDKL là đội ngũ học viên đào tạo để trở thành cán bộ cảnh sát. Cho

dung GDKL của học viên nói riêng luôn mang tính khoa học và có xu hướng
chính trị tư tưởng rõ ràng. Nội dung quản lý là khâu thiết kế xây dựng
chương trình, nội dung và quá trình thực hiện chương trình, nội dung GDKL
cho học viên từ việc triển khai kế hoạch, cho đến phân công, phân cấp tổ
chức thực hiện nội dung GDKL…Để thực hiện tốt vấn đề này, yêu cầu đội
ngũ CBQL phải quán triệt sâu sắc kế hoạch hoạt động GDKL, nắm chắc mục
tiêu, yêu cầu nội dung hoạt động GDKL; khi thiết kế chương trình, nội dung
GDKL cho học viên phải theo đúng lôgíc của quá trình dạy học và giá o dục;
nội dung GDKL phải gắn với đặc điểm và hoạt động của cán bộ Cảnh sát vũ
trang; nắm chắc chương trình GDKL và quy định về khối lượng kiến thức nội
dung GDKL cần trang bị cho học viên theo từng năm học và từng giai đoạn. Ví
dụ như: Đối với học viên năm thứ nhất, nội dung GDKL thường tập trung: Về
mặt nâng cao nhận thức gồm Hiến pháp, Điều lệnh CAND, Điều lệ, quy chế,
quy định của lực lượng CAND và Nhà trường … các nội dung về pháp luật
Nhà nước, kỷ luật của lực lượng CAND mới sửa đổi, bổ sung ban hành…
Phương pháp, hình thức, phương tiện quản lý GDKL cho học viên: Đây là
hệ thống các con đường, cách thức thao tác, cách thức tổ chức, sắp xếp phương tiện
kỹ thuật, cơ sở vật chất, biện pháp tác động của chủ thể quản lý đến khách thể, đối
tượng bị quản lý nhằm đạt đến mục tiêu quản lý GDKL mà Nhà trường đã đặt ra.
Đó là phương thức tác động của chủ thể quản lý tới nhận thức, tình cảm và thói
quen hành vi kỷ luật của học viên và tập thể học viên nhằm thực hiện mục tiêu quản
lý GDKL đã dự kiến của Nhà trường. Sự tác động này có thể theo hai phương thức
cơ bản bắt buộc và động viên khuyến khích.
Do vậy, các chủ thể quản lý trong Nhà trường phải nắm vững hệ thống
các nguyên tắc, công cụ quản lý đó là những phương tiện, những giải pháp
của chủ thể quản lý nhằm định hướng, khích lệ, dẫn dắt đối tượng quản lý
thực hiện đạt mục tiêu đề ra; căn cứ vào nội dung quản lý, trong quản lý hoạt
20



21


Đánh giá chính xác kết quả GDKL cho học viên không chỉ có ý nghĩa quan
trọng đối với quá trình học tập rèn luyện của học viên mà còn giúp Nhà trường rút
kinh nghiệm về công tác đào tạo của mình, đồng thời cũng giúp cho các đơn vị tiếp
nhận học viên có cái nhìn chính xác về phẩm chất cán bộ. Chính vì vậy việc đánh
giá kết quả giáo dục phải được tiến hành một cách nghiêm túc, đảm bảo nguyên tắc:
bảo đảm tính khách quan công bằng; bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng điểm;
bảo đảm nguyên tắc phát triển; bảo đảm nguyên tắc phản ánh đúng thực chất.
Muốn quản lý tốt việc đánh giá kết quả GDKL cho học viên thì phải đảm
bảo các điều kiện sau: Công tác đánh giá kết quả phải theo đúng thủ tục, quy
trình phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Nhà trường. Việc đánh giá kết quả
giáo dục phải trung thực, khách quan, phản ánh đúng chất lượng giáo dục.
Thường xuyên rút kinh nghiệm về công tác kiểm tra đánh giá kết quả GDKL cho
học viên.
Nội dung quản lý kết quả hoạt động GDKL thường tập trung ở việc
kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GDKL theo chương trình, nội dung GDKL
đã xây dựng và phê duyệt; nắm kết quả GDKL cho học viên qua từng giai
đoạn, năm học; so sánh đối chiếu với mục tiêu đã xác định trước đó; rút ra
những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện các nhân tố của quá trình hoạt động
GDKL cho giai đoạn, hoạt động thực tiễn tiếp theo. Vấn đề này được thể hiện ở
việc quản lý kết quả về mặt nhận thức, kết quả xây dựng thái độ niềm tin và kết
quả xây dựng thói quen hành vi có kỷ luật của học viên.
1.3. Những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật
cho học viên Cảnh sát vũ trang
1.3.1. Tác động của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghệp hóa, hiện đại hóa,
giao lưu, hội nhập quốc tế; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Quá trình này đã và đang tạo nên những biến đổi to lớn trong tất cả

hội cũng tác động, ảnh hưởng nhất định đến GDKL và quản lý hoạt động
GDKL cho học viên. Những hiện tượng tùy tiện, chấp hành kỷ luật kỷ cương
không nghiêm, vi phạm pháp luật, qui định, suy thoái, tham nhũng...gây cản
23


trở công tác GDKL, làm giảm hiệu lực của thuyết phục nêu gương đối với
nhân dân. Đồng thời, hàng ngày hàng giờ tác động đến tư tưởng, tình cảm,
ảnh hưởng đến ý thức tổ chức kỷ luật, phong cách, tác phong, lối sống và
việc rèn luyện thói quen hành vi chấp hành pháp luật, kỷ luật của mỗi học
viên Cảnh sát vũ trang.
1.3.2. Tác động từ yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý Nhà
nước và xã hội
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản
Việt Nam nêu rõ "tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa... Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của
Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật,
kỷ cương" [12, tr.246]. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN chính là
xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng, tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ
chức Đảng đều phải hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật, chịu trách
nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình. Mọi công dân đều phải
có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp, pháp luật, phải sống và làm việc theo
pháp luật. Để xây dựng một nhà nước như trên, là trách nhiệm của Đảng,
Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể nhân dân, trong đó
lực lượng Công an là lực lượng đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng và
bảo vệ Nhà nước pháp quyền XHCN.
CAND là một bộ phận quan trọng, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng,
Nhà nước. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, để

tưởng, vi phạm kỷ luật CAND.. Vì vậy, đặt ra cho chủ thể quản lý phải có kế
hoạch giáo dục, tuyên truyền, đấu tranh; luôn đổi mới nội dung, hình thức GDKL
cho mọi cán bộ, chiến sỹ; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng trước thách thức
của mặt trái cơ chế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch.
1.3.4. Tác động từ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng lực lượng công an
nhân dân, xây dựng Nhà trường trong tình hình mới

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status