1
MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1.
1.2.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Các khái niệm cơ bản
11
11
Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa hoc của sinh
viên Đại học
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nghiên cứu
khoa học của sinh viên Đại học
27
THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
66
1.3.
Chuơng 2
2.1.
2.2.
2.3.
3.2
3.3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn xác định khoa học và công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng
31
54
69
81
89
92
96
nâng cao chất lượng đào tạo đại học” của TS. Đỗ Thị Châu – Tạp chí giáo
dục số 96/2004; “Nghiên cứu khoa học giáo dục trong giai đoạn tới” của
PGS.TS. Nguyễn Hữu Châu – Tạp chí giáo dục số 98/2004; “Logic nội dung
và các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài khoa học về giải pháp quản lý giáo dục”
của TS. Nguyễn Phúc Châu – Tạp chí giáo dục số 143(kỳ I)/2006; “Khảo sát
thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học trong đại học đa nghành, đa lĩnh
vực” của Lê Yên Dung – Tạp chí giáo dục số 211/2009… các bài viết này đã
đề cập đến vai trò , ý nghĩa của NCKH đối với việc đổi mới phương pháp
giảng dạy nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Chỉ ra nội
dung, nhiệm vụ và định hướng NCKH giáo dục. Tuy nhiên các nghiên cứu
trên chỉ dừng lại ở nghiên cứu công bố trên các tạp chí nên chưa làm rõ được
thực trạng và đưa ra các giải pháp cụ thể trong công tác quản lý hoạt động
NCKH trong các trường đại học.
Nhiều tác giả, các nhà khoa học đã cho ra các giáo trình hướng dẫn
SV Đại học, Cao đẳng NCKH dưới các tiêu đề “Phương pháp luận nghiên
cứu khoa học”,“Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục” của
PGS.TS. Phạm Viết Vượng; “Phương pháp luận nghiên cứu học tập nghiên cứu” của GS. Nguyễn Văn Lê; “Phương pháp luận nghiên cứu khoa
4
học” của TS. Vũ Cao Đàm; “Phương pháp luận khoa học giáo dục” của
PGS.TS. Đặng Vũ Hoạt; TS. Hà Thị Đức; “ phương pháp học tập nghiên
cứu của SV Cao đẳng, Đại học” của TS. Phạm Trung Thành với mục đích
cung cấp cho SV cơ sở phương pháp luận, phương pháp NCKH để họ rèn
luyện, thực hành tập dượt NCKH có hiệu quả. Các giáo trình mà các nhà
khoa học cho xuất bản ngày càng khai thác, cập nhật bổ sung thông tin khoa
học, tăng cường sự chính xác hoá loại bỏ những thông tin khoa học lạc hậu,
đưa vào giáo trình các thông tin khoa học mới, bên cạnh đó có tính tới trình
độ nghiên cứu của SV.
trạng các biện pháp quản lý hoạt động NCKH và đưa ra các nhóm giải pháp
nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt động NCKH trong trường sư phạm
với những đặc thù riêng.
Trên quan điểm tiếp cận hệ thống, tiếp cận phát triển và tiếp cận
mục tiêu luận án tiến sỹ: “Mô hình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực” của Lê Yên Dung (2010) đã tập trung
nghiên cứu để tìm ra phương thức tổ chức, cơ chi vận hành, giải pháp tác
động,…cho mô hình quản lý NCKH ở các trường đại học đa ngành, đa lĩnh
vực ở Việt Nam. Cơ sở của luận án được xây dựng dựa trên quan điểm quản
lý chất lượng tổng thể đó là xây dựng mô hình cấu trúc chức năng quản lý
hoạt động NCKH ở đại học đa ngành, đa lĩnh vực. Kết quả nghiên cứu của
luận án của tác giả cho thấy việc vận dụng mô hình quản lý chất lượng tổng
thể để quản lý hoạt động NCKH ở đại học đa ngành, đa lĩnh vực là phù hợp
góp phần nâng cao chất lượng hoạt động NCKH, phát triển và nâng cao vị
thế trường đại học.
Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu trên đã có những đóng góp đáng
kể cho nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động NCKH ở các
trường đại học, cao đẳng. Mỗi đề tài nghiên cứu trên một phạm vi, thời gian,
đối tượng khác nhau gắn với một nhà trường cụ thể, làm sáng tỏ nhiều vấn
đề của quản lý hoạt động NCKH. Có thể nói ở Việt Nam chưa có công trình
nghiên cứu nào giải quyết đầy đủ, cụ thể vấn đề quản lý hoạt động NCKH ở
trường đại học, cao đẳng. Hơn nữa, vấn đề quản lý hoạt động NCKH của SV
trong nhóm các trường đại học kỹ thuật như Trường Đại học Công nghiệp
Hà Nội chưa thấy tác giả nào đề cập đến.
Tiến hành khảo sát thực trạng việc tổ chức thực hiện hoạt động NCKH
của SV ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội để từ đó tìm biện pháp quản
lý hiệu quả hoạt động NCKH nhằm nâng cao chất lượng NCKH của SV,
thực hiện tốt công tác đào tạo.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
học Công nghiệp Hà Nội. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của SV giữ
vai trò trọng yếu, chất lượng NCKH của sinh viên và quản lý hiệu quả NCKH
của SV nhà trường, nếu thực hiện tốt qui trình quản lý hoạt động NCKH của
SV; xây dựng được hệ thống văn bản và cơ chế quản lý phù hợp; chỉ đạo, tổ
chức tốt việc ứng dụng kết quả NCKH vào thực tiễn GD& ĐT của Nhà trường;
phát huy vai trò của chủ thể quản lý và vai trò tự quản lý của SV; xây dựng môi
trường NCKH và tăng cường các điều kiện bảo đảm, thì chất lượng NCKH của
SV Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội được nâng lên, góp phần nâng cao chất
lượng ĐT của nhà trường, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp GD trong giai đoạn CNH
– HĐH đất nước.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam, Nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của các cấp về giáo dục
đào tạo và quản lí giáo dục, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. Đồng
7
thời đề tài nghiên cứu còn được thực hiện dựa trên quan điểm hệ thống – cấu
trúc; đối chiếu – so sánh, Lịch sử, logic, quan điểm thực tiễn trong nghiên
cứu khoa học quản lý giáo dục.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa quản lý
giáo dục trong đó tập trung một số phương pháp chủ yếu như:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Thông qua việc đọc các tài liệu, tác giả phân tích, tổng hợp và hệ
thống hóa các vấn đề lý thuyết có liên quan thành một hệ thống lý luận để
hình thành các khái niệm, nêu giả thuyết khoa học định hướng cho quá trình
7. Ý nghĩa của luận văn
- Để xuất các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
sinh viên Trường Đại học công Nghiệp Hà Nội. Góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho đội
ngũ giảng viên và sinh viên các trường cao đẳng và đại học.
8. Kết cấu của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm; 3 chương(9 tiết); Kết luận và kiến nghị;
Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm hoạt động nghiên cứu khoa học
Theo nghĩa thông thường NCKH thường được hiểu là nghiên cứu
những vấn đề của khoa học như: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa
học kỹ thuật. Nói chung, NCKH là tìm kiếm, xem xét, điều tra có khi cần cả
đến thí nghiệm, thực nghiệm để từ những dữ kiện đã có (kiến thức, tài liệu,
phát minh) đạt đến một kết quả mới hơn, cao hơn, giá trị hơn.
Trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu phương pháp nghiên cứu khoa học
giáo dục” (tạp chí nghiên cứu giáo dục, 1974) của tác giả Phạm Minh Hạc
đã đưa ra định nghĩa “Nghiên cứu khoa học là phát hiện những hiện tượng
sự việc mới, có tính chân lý trong hiện thực hoặc khám phá những qui luật
nguyên lý mới trong hiện thực đó”.
Nhóm tác giả Trịnh Đình Thắng, Đỗ Công Tuấn, Lê Hoài An, với tác
phẩm “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động trí óc bằng những phương
pháp nhất định để tìm kiếm, vạch ra một cách chính xác và có mục đích
những gì mà con người chưa biết đến tức là tạo ra sản phẩm dưới dạng kiến
thức mới”. Ở đây, định nghĩa về NCKH được các tác giả nêu nên như một
dạng lao động đặc thù - lao động trí óc với mục tiêu là làm ra những giá trị
Khách thể của NCKH là các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội,
tư duy mà nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra tri thức khoa
học.
Đối tượng của NCKH là tri thức khoa học. Tri tức khoa học là “kết
quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và
phương tiện đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện”[35, tr 16].
Chức năng của NCKH là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri
thức về nhận dạng, đánh giá một sự vật, giải thích nguồn gốc, trạng thái cấu
trúc, quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật. Đưa ra các giải
pháp, các nhận dạng trạng thái của sự vật trong tương lai.
Vai trò của khoa học và NCKH: Hiện nay trên thế giới, cuộc cách
mạng khoa học công nghệ đang phát triển nhanh như vũ bão cùng với khối
lượng tri thức khoa học tăng lên nhanh chóng và không có giới hạn. Thời
gian từ phát minh khoa học đến ứng dụng vào sản xuất và đời sống hàng
10
ngày càng rút ngắn đi. Nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới, nhiều ngành nghề
mới xuất hiện. Khoa học và thành tựu của nó ngày càng xâm nhập rộng rãi
vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều thành tựu của khoa học được
ứng dụng vào sản xuất với mục đích tạo ra của cải ngày càng nhiều cho xã
hội. Khoa học ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố
cần thiết cho mọi tiến bộ xã hội. “ khoa học là linh hồn sự phồn vinh của
các quốc gia, là nguồn sống dồi dào của mọi tiến bộ xã hội. Chính những
phát minh khoa học và những ứng dụng của nó dẫn dắt chúng ta đi” [40, tr
34]. Khoa học học đang tham gia vào sản xuất trực tiếp của xã hội, nó không
là cái gì đó còn đứng ngoài sản xuất mà đang trở thành cơ sở lý luận của sản
xuất. Rõ ràng trong điều kiện như vậy, việc tham gia NCKH nhằm tìm ra
những giá trị nhận thức mới, phương pháp lao động mới, cách thức tổ chức
khách quan về thành tựu của khoa học, đồng thời dựa và khả năng và nhu
cầu cuộc sống hiện tại.
Các giai đoạn của NCKH là một hoạt động được tổ chức với một trình
tự logic các thao tác khoa học. Hiệu quả của NCKH phụ thuộc rất nhiều ở
cách thức tổ chức hợp lý trình tự thực hiện và nó được xác định bởi các giai
đoạn sau:
Giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu bao gồm các công việc sau:
Xác định tên đề tài: Xác định vấn đề làm đối tượng để nghiên cứu. Đây là
việc làm không đơn giản, là khâu then chốt bởi nhiều khi phát hiện vấn đề
còn khó hơn giải quyết vấn đề. Một công trình khoa học dù ở cấp độ nào, tôi
cho rằng cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau: Tính mới: Đề tài được thực
hiện không trùng lặp hoàn toàn với các công trình khoa học trước đó. Tính
thời sự: Xã hội hiện nay đang quan tâm, cơ sở đang cần giải quyết…Tính
thực tiễn: Đề tài phải giải quyết các vấn đề của xã hội, của cơ sở đang diễn
ra, hoặc sắp diễn ra trong tương lai gần đối với đất nước, hoặc 1 địa phương,
hoặc đáp ứng được những đòi hỏi của một địa chỉ cụ thể. Tính khả dụng:
Khi sản phẩm hoàn thành, có thể được ứng dụng ngay để giải quyết các vấn
đề đang đặt ra, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, không bị lệ thuộc quá nhiều
vào điều kiện khách quan. Tính hợp lý: Phải chứng minh được bằng những
lý thuyết, những lập luận logic, những thông tin và số liệu thống kê, điều tra,
- Xây dựng đề cương nghiên cứu: Đề cương nghiên cứu là bản thuyết
minh về ý nghĩa, nội dung và phương pháp nghiên cứu một đề tài. Đề cương
có kết cấu logic sau:
- Tính cấp thiết của đề tài (lý do chọn đề tài): Xác định tầm qua trọng
và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài về mặt lý luận và thực tiễn.
- Mục đích nghiên cứu: Là mục tiêu, định hướng chiến lược những
vấn đề cần giải quyết trong đề tài.
- Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
+ Khách thể nghiên cứu: là một bộ phận nhỏ bé của thế giới khách
quan được đưa vào hoạt động của nhà nghiên cứu, nó tồn tại độc lập với ý
- Dự thảo nội dung nghiên cứu: Là dàn ý chi tiết của công trình nghiên
cứu. Vì vậy cần phải chuẩn bị công phu theo chiến lược chung để định
hướng cho toàn bộ công trình nghiên cứu. Thông thường dàn ý gồm có các
vấn đề chính: Lịch sử vấn đề nghiên cứu; Thực trạng của vấn đề nghiên cứu;
Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm khoa học. Kết luận - đề xuất - khuyến
nghị ứng dụng.
Xây dựng kế hoạch triển khai nghiên cứu: Kế hoạch triển khai nghiên cứu là
văn bản trình bày kế hoạch dự kiến triển khai đề tài về tất cả các phương
diện như: nội dung công việc, thời gian hoàn thành, sản phẩm dự kiến của
từng công việc đó.
- Giai đoạn triển khai nghiên cứu:
Đây là giai đoạn chủ yếu trong quá trình nghiên cứu bao gồm các
bước: Lập đề mục các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu; Thu thập các
dữ liệu, tài liệu có liên quan trực tiếp, gián tiếp tới công trình nghiên cứu để
13
đưa ra tổng quan vấn đề nghiên cứu; Xây dựng cơ sở lý thuyết của vấn đề
nghiên cứu: Đây là cơ sở lý thuyết mà nhà khoa học phải phân tích khái quát
hoá, hệ thống tài liệu và bằng suy luận để tạo ra lý luận cho đề tài; Phát hiện
thực trạng phát triển của đối tượng bằng các phương pháp nghiên cứu thực
tiễn. Các tài liệu thu được từ các phương pháp quan sát, kiểm tra, thí
nghiệm, thực nghiệm phải qua xử lý bằng toán học thống kê để cho ta những
tài liệu khách quan về đối tượng. Các tài liệu lý thuyết và thực tế thu được từ
các phương pháp khác nhau giúp cho việc chứng minh giả thuyết khoa học
đề xuất ban đầu; Kiểm tra giả thuyết bằng việc lặp lại các thí nghiệm, thực
nghiệm được kiểm tra bởi các phương pháp đã sử dụng ban đầu để khẳng
định tính chân thực của kết luận; Tổ chức hội thảo khoa học để lấy ý kiến
đóng góp của các chuyên gia về hướng đi và sản phẩm nghiên cứu. Trên cơ
trong những hình thức tổ chức dạy học mang lại hiệu quả cao trong quá trình
đào tạo đội ngũ trí thức, những chuyên gia cho xã hội. Bởi vậy NCKH là
một hoạt động, một khâu, một mắt xích không thể thiếu được trong nội dung
chương trình đào tạo ở bậc Đại học có tác dụng giáo dục toàn diện nhân
cách người SV. Vì vậy quản lý tốt hoạt động này sẽ tạo điều kiện cho sinh
viên thực hiện hiệu quả hoạt động NCKH, trưởng thành vững vàng trong
chuyên môn, giỏi về năng lực thực hành, tăng cường đạo đức tác phong của
người cán bộ khoa học. Đó là mục tiêu, nhiệm vụ là mục đích mà trường Đại
học hướng tới.
1.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của sinh viên
trong Trường Đại học
Cùng với giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ
trọng tâm của Trường Đại học
Luật Giáo dục đại học (năm 2012) đã xác định mục tiêu chung của
giáo dục đại học là: 1) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân
tài; NCKH, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. 2)
Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng
thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng
KH&CN tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng
tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý
thức phục vụ nhân dân. Như vậy, có thể nhận thấy trường đại học có hai
chức năng, nhiệm vụ cơ bản là quản lý, tổ chức hoạt động GD&ĐT và
hoạt động KH&CN.
Hoạt động khoa học và công nghệ góp phần tạo nên chất lượng giáo
dục và đào tạo trong trường đại học
Hoạt động NCKH trong trường đại học góp phần quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng GD&ĐT, năng lực nghiên cứu và khả năng ứng
dụng KH&CN của giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ quản lý,…; hình
thành và phát triển năng lực NCKH học cho người học; phát hiện và bồi
mục tiêu, yêu cầu đào tạo, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ chính trị của mỗi nhà trường. Như vậy, hoạt động KH&CN và hoạt
động GD&ĐT gắn bó chặt chẽ với nhau, có mối quan hệ biện chứng với
nhau và là điều kiện tồn tại của nhau. Cả hai hoạt động đều cùng hướng tới
một mục đích chung, tuân theo một kế hoạch thống nhất, bám sát yêu cầu
"chuẩn hoá, hiện đại hoá" hoạt động GD&ĐT, cung cấp nguồn nhân lực bậc
cao cho quân đội. Hiệu quả của mỗi hoạt động sẽ bị hạn chế nếu hai hoạt
động này cô lập, tách rời nhau, dẫn đến phát sinh nhiều rào cản trong quá
trình hoạt động. Do đó, cần phải nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của hoạt
động KH&CN làm cơ sở để đi sâu nghiên cứu làm rõ nội dung quản lý,
xây dựng các biện pháp quản lý bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả và khả thi
nhằm nâng cao chất lượng cũng như hiệu lực, hiệu quả trong quản lý hoạt
động KH&CN.
16
1.1.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên Trường Đại học
Theo một cách chung nhất NCKH là tất cả các hoạt động có hệ thống
liên quan chặt chẽ đến việc sản xuất, nâng cao và ứng dụng các kiến thức về
khoa học công nghệ.
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động có kế hoạch, có tổ
chức trong nhiệm vụ của SV hướng vào việc tìm kiếm tri thức khoa học
hoặc phát hiện bản chất sự vật, hoặc là sáng tạo phương pháp mới, phương
tiện kỹ thuật mới để phục vụ lợi ích của con người thông qua phương pháp,
phương tiện phù hợp.
Theo tác giả Lê Yên Dung thì: “Nghiên cứu khoa học là loại hình lao
động đặc biệt, được tiến hành bởi chủ thể nghiên cứu, thông qua hệ thống
các phương pháp, các phương tiện kỹ thuật phù hợp nhằm phát hiện những
loại hình này chỉ là: phát hiện các vấn đề trọng tâm của môn học, có khi là
tập xử lý một đề tài mà người khác đã bàn tới hoặc tóm tắt các nội dung
chính, sưu tầm tài liệu, ứng dụng thực tế có liên quan đến môn học. Đưa ra
những đánh giá nhận xét với nhận thức chủ quan của mình trên cơ sở nắm
bắt đầy đủ lý thuyết. Vấn đề cốt lõi ở đây là để cho SV hứng thú và có ý
tưởng mới, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tạo phong cách của cá nhân trong
quá trình học tập tiếp theo.
- Bài tập lớn
Đây là loại bài tập chính thức được quy định trong chương trình đào
tạo, sau khi SV đã học kiến thức cơ sở ngành và kiến thức chuyên môn. Với
hình thức bài tập này, tất cả SV đều phải làm dưới sự hướng dẫn của GV.
Đây là loại hình nghiên cứu yêu cầu cao hơn bài tập nhỏ, thời gian nghiên
cứu dài hơn và có quy định cụ thể về nội dung, thời gian hoàn thành, hình
thức đánh giá. Việc tiến hành làm bài tập lớn thường gắn với việc học tập
chuyên đề từ năm thứ hai. Những chuyên đề hỗ trợ rất tốt về chất lượng cho
việc làm bài tập lớn của SV. Mục đích chủ yếu của hình thức nghiên cứu này
là cho SV thực hành với các thủ pháp NCKH, tìm hiểu, tra cứu tài liệu, phát
hiện ứng dụng, liên hệ thực tế chứ chưa làm giàu cho khoa học bằng kết quả
của các công trình nghiên cứu. Bài tập lớn được hoàn thành có thể được bảo
vệ trước bộ môn hoặc do hội đồng đặc biệt được bộ môn thành lập. Kết quả
được đánh giá bằng điểm số của môn học. Việc hoàn thành bài tập lớn có ý
nghĩa quan trọng đặt tiền để cho các hình thức nghiên cứu cao hơn như: làm
khoá luận, đồ án tốt nghiệp.
- Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận là hình thức nghiên cứu cao hơn làm bài tập lớn. Đây là bài
tập NCKH cuối khoá chỉ dành riêng cho những SV có kết quả học tập đạt từ
loại khá trở lên đối với mọi sinh viên Đại học thuộc khoa học xã hội. Giá trị
của khoá luận được tính từ 3 đến 4 đơn vị học trình. Nếu SV chọn đề tài
khoá luận thuộc học phần thi tốt nghiệp nào thì họ được miễn thi học phần
đó để làm khoá luận. Khi làm khoá luận, SV phải đọc nhiều tài liệu có liên
hình cụ thể để ứng dụng các nghiên cứu. Đồ án tốt nghiệp gồm thuyết minh,
số liệu tính toán, so sánh tính kinh tế kỹ thuật lựa chọn phương án, bản vẽ,
mô hình, sản phẩm ứng dụng. Đồ án tốt nghiệp được bảo vệ trước hội đồng
do hiệu trưởng ra quyết định thành lập, kết quả được tính là điểm tốt nghiệp
của SV.
Ngoài các hình thức NCKH thuộc chương trình đào tạo trên, các SV
còn tham gia nhiều hình thức NCKH khác như: thi Olympic, thực tập tốt
nghiệp tại doanh nghiệp, chế tạo Robocon, tham gia đề tài NCKH cấp khoa,
cấp trường,… do giảng viên hướng dẫn.
1.1.4. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường
Đại Học Công Nghiệp Hà Nội
Theo cách tiếp cận riêng để hiểu quản lý, nhưng trên cơ sở những
quan điểm chung đề tài đưa ra khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động có
19
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong việc
huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực
một cách tối ưu nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Khái niệm quản lý hoạt động NCKH của SV Trường Đại Học Công
Nghiệp Hà Nội được xây dựng trên cơ sở luận giải 3 vấn đề chính:
Quản lý giáo dục, đào tạo;
Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học;
Quản lý đội ngũ sinh viên Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội;
Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: Quản lý hoạt động
NCKH của sinh viên Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội là những tác động
có mục đích, có định hướng, được thực hiện một cách khoa học của chủ thể
quản lý đến quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng kết quả nghiên cứu của sinh viên, nhằm thực
động NCKH của SV.
Phương thức quản lý: Quản lý bằng điều lệ, quy chế, quy định của
Nhà nước, nhà trường; quản lý bằng kế hoạch và thông qua kế hoạch; quản
lý thông qua tư vấn của hội đồng khoa học và cơ quan chức năng quản lý
khoa học; thông qua vai trò tự quản lý của cán bộ khoa học, các tập thể khoa
học phòng, khoa, tổ bộ môn.
Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của SV là tổng hợp các cách thức
quản lý của chủ thể quản lý tác động tới quá trình thực hiện các nhiệm vụ
NCKH, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của SV
Khi nói đến quản lý hoạt động NCKH của SV trường đại học, chúng
ta có thể nói đến một quy trình tác động mang tính pháp lý, tính khoa học,
có mục tiêu rõ ràng của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý nhằm chỉ
huy và điều hành đối tượng bị quản lý và hoạt động NCKH của họ theo
đúng mục tiêu của hoạt động NCKH đã đề ra, nhằm nâng cao chất lượng của
hoạt động NCKH trong nhà trường nói riêng và chất lượng đào tạo nói
chung. Quản lý hoạt động NCKH của SV mang tính pháp lý được thực hiện
dựa trên cơ sở pháp luật và các văn bản, thông tư hướng dẫn của Bộ
GD&ĐT và điều lệ nhà trường về hoạt động NCKH của sinh viên.
Quản lý hoạt động NCKH của SV là việc thực hiện các chức năng
quản lý, có xét đến các đặc điểm phù hợp của SV như: Năng lực trí tuệ,
hứng thú và nguyện vọng của SV, nội dung chương trình đào tạo, yêu cầu
thực tiễn của xã hội, định hướng của KHCN chuyên ngành,…để nâng cao
chất lượng đào tạo và chất lượng NCKH của sinh viên.
Vậy quản lý hoạt động NCKH của sinh viên là: cách thức cụ thể mà chủ
thể quản lý trường đại học thực hiện việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ
đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên nhằm đạt
mục tiêu nghiên cứu khoa học và chất lượng đào tạo của nhà trường.
Chất lượng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội bao gồm: hất lượng nghiên cứu khoa
học của sinh viên và chất lượng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học.
trưng chủ yếu của các mô hình chính quy:“Những mô hình chính quy giả
định rằng các tổ chức là những hệ thống có tôn ti, thứ bậc trong đó người
quản lý sử dụng những biện pháp duy lý để theo đuổi những mục tiêu đã
được thoả thuận. Những người đứng đầu có thẩm quyền được hợp pháp hoá
bằng vị trí chính thức của họ bên trong tổ chức và họ có trách nhiệm trước
những thực thể bảo trợ về hoạt động của các thiết chế của họ.” [20, tr 17]
Kế hoạch hóa hoạt động NCKH cho SV là quá trình bao gồm: xây
dựng mục tiêu cho tổ chức (với số lượng đề tài, nội dung thực hiện); nguồn
lực, biện pháp tổ chức; tiến độ thực hiện, thời gian hoàn thành; tiêu chí đánh
giá nghiệm thu theo một quy trình thống nhất và được phê duyệt.
Hoạt động NCKH của SV được tiến hành theo kế hoạch phù hợp với
kế hoạch năm học. Tính kế hoạch trong hoạt động NCKH của SV được
22
thể hiện qua các khâu trong tổ chức xét duyệt đề tài, tổ chức nghiên cứu và
đánh giá kết quả nghiên cứu.
1.2.3. Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của
sinh viên
Trong quản lý hoạt động NCKH của SV chức năng tổ chức là xây
dựng vai trò nhiệm vụ, cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận
trong tổ chức. Sắp xếp phân bổ nguồn lực cho từng bộ phận, từng thành viên
đảm bảo cho họ thực hiện nhiệm vụ của mình, qua đó thực hiện thành công
mục tiêu của tổ chức. Thông qua đó, chủ thể quản lý tác động đến đối tượng
quản lý một cách có hiệu quả bằng cách điều phối nguồn lực của tổ chức
như: nhân lực, vật lực, tài lực. Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ
chức phải đảm bảo các yêu cầu về tính tối ưu, tính linh hoạt, tính kinh tế và
độ linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ.
Hoạt động NCKH của SV được tổ chức theo mục tiêu định trước với
học của sinh viên
Nghiên cứu khoa học của SV là một hoạt động đầy khó khăn thử
thách.
Đòi hỏi SV phải kiên trì tập trung trí tuệ, sức lực, thời gian cho công
trình nghiên cứu. Vì vậy, cơ quan quản lý hoạt động NCKH, GV cần phải có
những biện pháp động viên, khuyến khích, hành động thuyết phục để khích
lệ sinh viên tập trung cho hoạt động nghiên cứu, không nản chí hay bỏ giữa
chừng, nhằm tạo động lực cho người học hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu.
Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH gồm: quản lý bố trí
sắp xếp để các GV nhiều kinh nghiệm, năng lực chuyên môn tốt, nhiệt tình
tham gia hướng dẫn SV NCKH. Đầu tư thỏa đáng có trọng điểm về điều
kiện, cơ sở vật chất như: thư viện, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, hợp
tác liên kết với cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, tổ chức các đoàn tham quan
doanh nghiệp cho SV để SV có cơ hội phát hiện ra đề tài nghiên cứu thiết
thực, có ý nghĩa cho mình. Tạo điều kiện thuận lợi để SV có thể tìm hiểu,
tiếp cận thực tế trong quá trình học tập, NCKH và tìm kiếm việc làm khi ra
trường. Đặc điểm của quản lý hoạt động NCKH của SV.
Mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của SV của trường đại học
nhằm góp phần giải quyết các vấn đề sau: Nâng cao chất lượng đào tạo đáp
ứng yêu cầu về nguồn nhân lực có trình độ cao của đất nước; kết hợp thực
hiện các nhiệm vụ khoa học với các nhiệm vụ đào tạo của nhà trường ứng
dụng các thành tựu khoa học, các tiến bộ kỹ thuật phục vụ việc thực hiện
các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước; xây dựng và phát triển
tiềm lực NCKH của trường, từng bước hội nhập với nền KHCN hiện đại của
khu vực và trên thế giới.
Vì vậy, khi nói đến đặc điểm của quản lý hoạt động NCKH của SV
trường đại học, chúng ta có thể nói đến một quy trình tác động mang tính
pháp lý, tính khoa học, có mục tiêu rõ ràng của chủ thể quản lý đến đối
tượng bị quản lý nhằm chỉ huy và điều hành đối tượng bị quản lý và hoạt
động NCKH của họ theo đúng mục tiêu của hoạt động NCKH đã đề ra,
đóng vai trò quyết định chất lượng GD&ĐT, nhưng thực tế khi quy mô học
sinh, SV tăng nhanh đã gây nên sự bất cập giữa quy mô phát triển giáo dục
với đội ngũ GV. Thời gian làm công tác giảng dạy của GV nhiều, thêm vào
đó là chế độ cho hướng dẫn SV NCKH không tính vào khối lượng giờ giảng
tiêu chuẩn, không tính thành tích thi đua làm giảng viên giảm sự nhiệt tình
với công tác NCKH. Ở những khoa có GV nhiệt tình trong NCKH thì ở đó
có nhiều SV tham gia NCKH tạo được phong trào và chất lượng các đề tài
NCKH của SV cũng được đánh giá cao.
Trình độ, kinh nghiệm của GV trong hướng dẫn NCKH là yếu tố ảnh
hưởng nhiều đến quản lý hoạt động NCKH của SV. Giảng viên vừa là người
thầy hướng dẫn vừa là người bạn trong tìm tòi NCKH giúp SV tự tin, hăng
hái hơn trong việc tìm kiếm, sáng tạo. Các chuyên gia có trình độ cao tham
25
tham gia nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn, đảm đương các chức vụ quản lý
NCKH và công nghệ làm phong trào NCKH phát triển hiệu quả.
Cơ chế quản lý về KHCN còn nhiều bất cập, chế độ hỗ trợ trong việc
thực hiện đề tài NCKH đã được cải tiến nhiều song vẫn còn thấp, thủ tục
thanh toán phức tạp. Sinh viên những người mới bắt đầu làm NCKH, có
nhiều khó khăn từ tri thức hạn chế, chưa thành thạo trong công việc, đến thời
gian dành cho NCKH không có nhiều,... nên chế độ động viên, khuyến khích
để tạo động lực NCKH cho sinh viên có ảnh hưởng lớn đến quản lý hoạt
động NCKH của sinh viên.
Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và NCKH là yếu tố cần thiết,
không thể thiếu: thư viện, phòng thực hành, thí nghiệm,...tuy nhiên việc đầu
tư mua sắm còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ, việc bố trí cán bộ hướng dẫn
sử dụng thiết bị thực hành, thí nghiệm để có thể khai thác hiệu quả thiết bị
hiện có chưa đáp ứng được yêu cầu NCKH cũng làm ảnh hưởng tới chất