Luan van thac si Quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng - Pdf 36

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế của toàn cầu hoá, nền giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ
đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục so với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Bước sang thế kỉ thứ XXI, sự bùng nổ của tri thức,
công nghệ sản xuất mới và công nghệ thông tin truyền thông làm thay đổi nội dung
giáo dục, yêu cầu người học phải thay đổi cách học và người dạy phải thay đổi
cách dạy. Khái niệm giáo dục suốt đời trở thành đòi hỏi và cam kết của mỗi quốc
gia. Người học có thể học ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và với bất cứ tài liệu nào;
đồng thời được tạo điều kiện tốt nhất trong việc học, học theo khả năng, theo nhịp
độ và cách học phù hợp; có quyền chọn các chương trình và các loại nguồn học
liệu đa dạng. Một thế giới phẳng và các kênh thông tin đa chiều đã đặt ra yêu cầu
mới về việc học: vấn đề không phải là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử
dụng công nghệ gì vào việc học, không chỉ học được kiến thức mà còn khả năng
tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức.
Trong trường Tiểu học, mục tiêu đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động
dạy học là một nhiệm vụ trọng tâm, có tính cấp bách của các nhà trường trong bối
cảnh hiện nay. Để góp phần hoàn thành nhiệm vụ này, trường Tiểu học bên cạnh
việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá,
tăng cường cơ sở vật chất…thì vấn đề tạo điều kiện cho giáo viên tự học thông qua
hoạt động của tổ chuyên môn là một hướng giải quyết khả thi và hiệu quả. Tổ
chuyên môn là nơi trực tiếp triển khai những yêu cầu về mục tiêu, nội dung
phương pháp…của đổi mới giáo dục tiểu học, với nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng
chuyên môn và nghiệp vụ cho giáo viên sẽ có một môi trường chuyên môn để hình
thành năng lực nghề nghiệp. Việc triển khai nghiên cứu bài học (Lesson Study)
trong sinh hoạt tổ chuyên môn góp phần đắc lực hình thành năng lực nghề nghiệp
của giáo viên thông qua nghiên cứu, cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ
thể, qua đó cải tiến chất lượng của học sinh. Vì vậy, quản lí có hiệu quả hoạt động
nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn là một trong những công tác
1


của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn.
2


Vấn để này tuy đã được triển khai ở Hà Nội từ năm 2011, nhưng việc nghiên cứu
công tác quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng
trường Tiểu học còn chưa được đề cập đến.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Quản lý hoạt động nghiên cứu bài học
tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng” cần được đặt ra và nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất biện pháp quản lý hoạt
động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của Hiệu truởng trường Tiểu học
Phương Mai quận Đống Đa thành phố Hà Nội nhằm góp phần đổi mới phương
pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của Hiệu
trưởng trường Tiểu học
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của Hiệu
trưởng trường Tiểu học Phương Mai quận Đống Đa thành phố Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Việc triển khai hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu
học Phương Mai quận Đống Đa thành phố Hà Nội đã đạt được một số kết quả nhất
định. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân như còn nặng nề về quản lý hành chính
hơn là quản lý chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn nhiều khi
mang tính hình thức, đối phó mà chưa đi vào thực chất, chưa thực hiện thường
xuyên, thường chỉ mới tập trung vào các đợt hội giảng, thao giảng hay các các đợt
thi giáo viên giỏi…Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp để quản lý hoạt động
nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn và thực hiện chúng một cách

tài như:
- Các tài liệu khoa học về hoạt động NCBH, QL, QLGD và quản lý trường
Tiểu học, quản lý tổ chuyên môn….
4


- Các văn bản về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về GD&ĐT,
các văn bản của ngành GD&ĐT liên quan tới quản lý hoạt động NCBH.
- Nghiên cứu các công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học có liên quan đến đề
tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra viết
Sử dụng hệ thống câu hỏi đối với CBQL, GV trường Tiểu học Phương Mai
thu thập số liệu, đánh giá thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kế hoạch, hồ sơ chuyên môn của nhà trường, của tổ chuyên
môn… để nhận định đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu bài học ở tổ chuyên
môn và quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn. Phân
tích được nguyên nhân thực trạng để đề ra biện pháp phù hợp.
7.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
Nghiên cứu và tổng kết thực tiễn quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ
chuyên môn mà các biện pháp của nó mang lại giá trị thực tiễn và lý luận.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia để xây dựng đánh giá về tính cần thiết và khả thi
của các biện pháp đề xuất.
7.3. Phương pháp xử lý thông tin
Dùng phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu điều tra.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:

1995, Inagaki và Sato 1996, Nakano 2008).
Ngoài ra, hưởng ứng những vấn đề quan trọng mà xuất hiện trong các trường
học tại Nhật Bản trong cuối năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát triển
nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là
thu hút các học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật (Ose và Sato 2000, 2003,
Sato và Sato 2003). Một nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời
kì bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế. Cho tới khi trẻ con mong muốn
học hành chăm chỉ chỉ bởi hi vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người
lao động tốt hơn. Tuy nhiên suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải,
từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành. Nhiều vấn nạn sảy ra:
học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thường xuyên diễn ra trong lớp học của
những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền
thống, một chiều (Sato 2000, trang 6). Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn
7


là đa số học sinh Nhật Bản đã đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập (2000,
trang 10). Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên
cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần
tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh. Theo Sato ước
tính có 2000 trường Tiểu học (2009, trang 178) và gần 1000 trường cấp hai (2009,
trang 157) đang làm việc với phương pháp đó.
Nghiên cứu bài học tại Hoa Kì
Xem xét những điểm số thấp của học sinh trong những xu hướng nghiên cứu
toán học và khoa học quốc tế so sánh với những điểm số cao của học sinh Đông Á,
Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập tới vấn đề liên quan tới sự rèn luyện sư phạm
ở Hoa Kì. Họ khẳng định rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm và giảng viên
đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sụ thật thì không
nhiều thay đổi chú ý trong cách học của đứa trẻ. Thêm vào đó, họ cũng tìm ra được
rất ít thay đổi trong việc hướng học sinh đến những kiến thức toán học sâu rộng

Phần lớn các hoạt động giới thiệu NCBH ở các nước nói trên hướng tới những
nhóm giáo viên chỉ vài môn học trong trường - đặc biệt là Toán học. Tuy nhiên
trong một số trường hợp như Indonesia và Việt Nam, toàn trường đã được tham gia
ngay từ đầu của quá trình NCBH.
Dự án ban đầu được lên kế hoạch và thực hiện với mục tiêu thúc đẩy việc trẻ
em làm trung tâm giáo dục trong các trường học. Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt
Nam và cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện dự án này từ tháng 10
năm 2004 và tháng 8 năm 2007, với 5 trường, trong nghiên cứu này đóng vai trò là
trường thí điểm. Đội ngũ tư vấn tương tác với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố
Hà Nội với tư cách là tổ chức đối tác. Nhóm đối tác trong các Sở GD&ĐT được
gọi là “Nhóm làm việc”, bao gồm các lãnh đạo từ Sở GD&ĐT, các Phòng Giáo
dục và Đào tạo của các quận, các giáo viên giàu kinh nghiệm và Ban giám hiệu
một số trường.
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD&ĐT và JICA cùng nhau quyết định giới
thiệu các hoạt động đổi mới trường học từ tháng 6 năm 2006 bao gồm một trường
thí điểm trong mỗi quận.

9


Bảng 1.1. Thông tin cơ bản về các trường lựa chọn

Số
Trường

Quận

học
sinh


Giáo viên dường như
mất sự quan tâm mạnh
mẽ. Các thảo luận tập
trung nhiều hơn vào
việc dạy và giáo viên

tích cực hơn.
Có một số sự miễn
cưỡng về SHCM
trong giáo viên.
B

Hai Bà
Trưng

494

19

25

Tuy nhiên, sau một
thời gian họ bắt
đầu cho thấy sự
quan tâm mạnh mẽ
hơn trong SHCM

C

Thanh


trước khi kết thúc

học sinh học và làm thế

dự án quản lý và

nào đẩy mạnh hoạt

giáo viên thể hiện

động học. Trường trải

là đã tăng hiểu biết qua một sự thay đổi
về đổi mới SHCM
10

lãnh đạo.


Do sự khác biệt trong ý
kiến về thực hành giữa

D

Hoàng
Mai

Giáo viên quan



trong lãnh đạo. Hiệu

trường họp

trưởng mới không ưu
tiên hoạt động đổi mới
giáo dục

Lúc đầu, giáo viên
đều rất quan tâm
đến SHCM, Hiệu
trưởng thể hiện sự
lãnh đạo mạnh mẽ. Giáo viên dường như
E

Thanh
Trì

556

15

27

Tuy nhiên Hiệu

mất đi sự quan tâm của

trưởng đã bị thay

xây dựng mới khi bà
được bổ nhiệm. Trường

11


được xếp hạng cuối
trong số 25 trường
trong quận. Nhưng sau
2 năm, thứ hạng của
trường đã tăng lên thứ
6. Giáo viên đều rất
hợp tác với nhau.
Hiệu trưởng đổi mới
trường thông qua
SHCM. Khi Hiệu
trưởng thực hiện điều
này, giáo viên không
thực sự gắn bó với
G

Từ Liêm

837

17

30

Không tham gia

SHCM để đổi mới. Sau
một năm, thứ hạng của

12


trường tăng lên thứ 5.
Sở GD&ĐT giới thiệu các trường có thể tiến hành thí điểm, các thành viên
trong nhóm tư vấn JICA đã đến thăm các trường này và cả hai cùng nhau thảo luận
để quyết định chọn các trường thí điểm. Kết quả lựa chọn đã được báo cáo với Bộ
GD&ĐT. Các tiêu chí lựa chọn dựa trên mức độ sẵn sàng của các trường để thực
hiện đổi mới và dễ dàng truy cập từ các trường. Tất cả các trường thí điểm đều là
các trường hàng đầu của quận và là nơi thường xuyên diễn ra các đợt tập huấn giáo
viên của quận [15].
Qua thông tin cơ bản về các trường được lựa chọn (bảng 1.1), cho ta thấy lúc
đầu hầu hết giáo viên ở các trường được lựa chọn thí điểm đều từ chối một cách
quyết liệt hoặc tham gia thì cũng tham gia một cách miễn cưỡng. Đối với các nhà
quản lý ở các trường nêu trên thì có 3/8 trường không tham gia. Tuy nhiên sau khi
kết thúc dự án thì giáo viên ở các trường nói trên kể cả giáo viên ở những trường
khi dự án được triển khai mà họ từ chối không tham gia thì nay họ đã chủ động và
tham gia một cách tích cực mặc dù cán bộ quản lý (CBQL) không mấy quan tâm.
Điều đó nói lên ý nghĩa và tầm quan trọng của NCBH ở tổ chuyên môn là một sự
lựa chọn đúng đắn, là cơ sở cho việc đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá (xem
bảng 1.1).
Tháng 3 năm 2013, Vụ Giáo dục Tiểu học - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã mời
các chuyên gia của tổ chức JICA Nhật Bản, các giảng viên của một số trường đại
học, các chuyên viên của Vụ tham dự hội nghị về đổi mới SHCM theo NCBH.
Các trường tham gia SHCM theo NCBH bao gồm:
- Ở bậc tiểu học: Tiểu học Phương Mai – Kim Liên – Trung Tự.
- Ở bậc THCS: THCS Đống Đa, THCS Trưng Vương – Hà Nội, THCS Quốc

nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường.
1.2. Hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn.
1.2.1. Cơ sở khoa học của hoạt động nghiên cứu bài học
Hoạt động “Nghiên cứu bài học” (tiếng Anh là Leson Study hoặc Lesson
Research) theo tiếng Nhật (jugyo kenkyu) có nghĩa là nghiên cứu và cải tiến bài
học cho đến khi nó hoàn hảo [4,2006]. Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học” có nguồn
gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 – 1912), như một biện
pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải
14


tiến các hoạt động dạy học ở từng hoạt động dạy học ở từng bài học cụ thể. Cơ sở
khoa học của hoạt động NCBH được dựa trên lý thuyết vùng “phát triển gần” của
nhà tâm lý học Nga V.X.VygotsKy, lý thuyết “Vòng đối ngoại” của Mikhail
Bakhtin, tháp học tập của các nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ.
1.2.1.1. Nghiên cứu bài học dựa trên lý thuyết vùng phát triển gần
Việc học tập của học sinh và phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên
trong NCBH dựa trên cơ sở lý thuyết vùng phát triển của nhà tâm lý học người
Nga Vygotsky. Theo lý thuyết này nội dung dạy học chỉ có ý nghĩa khi nằm trong
vùng phát triển của người học. Do đó, nhiệm vụ của NCBH là xác định rõ vùng
phát triển gần để lựa chọn mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học phù hợp.
Mỗi lớp học thường có 3 nhóm học sinh, nhóm A là nhóm học sinh khá, giỏi,
nhóm B là nhóm trung bình, còn nhóm C là nhóm yếu kém. Để dạy học hiệu quả,
nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học và kiểm tra, đánh giá phải có tác
động tích cực đến cả ba nhóm đối tượng. Chẳng hạn như cùng một nội dung dạy
học, nhưng nhiệm vụ giao cho nhóm học sinh yếu, kém ở mức độ biết, nhóm trung
bình ở mức độ hiểu còn nhóm khá, giỏi ở mức vận dụng. hay nói cách khác, nội
dung và phương pháp dạy học phải phù hợp với đối tượng. Sự phân hoá dạy học ở
đây bao gồm phân hoá theo mức độ nhận thức, phân hoá theo nội dung nhiệm vụ
học tập, phân hoá theo phong cách học tập, phân hoá theo sản phẩm.

đến 75%. Nếu học sinh dạy cho bạn khác học, chẳng hạn như các kỹ thuật chia sẻ,
kỹ thuật mảnh ghép hiệu quả đối với dạy học lên đến 90%.

1.2.2. Tổ chuyên môn
1.2.2.1. Vị trí của tổ chuyên môn
17


Theo điều lệ trường Tiểu học, tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành
trong bộ máy tổ chức, quản lý của trường Tiểu học. Trong trường các tổ, nhóm
chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp các bộ phận nghiệp vụ
khác và các tổ chức Đảng, đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện chiến lược
phát triển của nhà trường, chương trình giáo dục và các hoạt động giáo dục và các
hoạt động khác hướng tới mục tiêu giáo dục.
1.2.2.2. Chức năng của tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là đầu mối để Hiệu trưởng quản lý nhiều mặt, nhưng chủ
yếu vẫn là hoạt động chuyên môn, tức là hoạt động dạy học trong trường.
Tổ chuyên môn có chức năng:
Giúp Hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan
đến dạy và học.
Trực tiếp quản lý giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định.
Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch; điều
hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình
môn học của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm học của nhà trường; tổ chức bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên trong tổ; đánh giá xếp loại và đề xuất khen thưởng, kỷ
luật giáo viên thuộc tổ mình quản lý.
Do đó tổ trưởng chuyên môn phải là người có phẩm chất đạo đức tốt; có
năng lực trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, có uy tín đối với đồng nghiệp, sinh
hoạt. Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ,
biết lắng nghe, tạo sự đoàn kết trong tổ, gương mẫu, công bằng, kiên trì, khéo léo

đúng chúng ta sẽ quay trở lại cách sinh hoạt chuyên môn truyền thống, không đảm
bảo hiệu quả. Để đảm bảo đúng kỹ thuật tổ chức thực hiện, các trường gần nhau có
thể liên kết tổ chức SHCM theo cụm và có hướng dẫn làm thí điểm về SHCM
nhằm xây dựng mô hình và rút kinh nghiệm.
Để thực hiện kế hoạch hành động SHCM nên tổ chức mỗi tuần ít nhất một
buổi SHCM. Tổng thời gian dự giờ mỗi buổi SHCM có ít nhất 3 – 4 giờ, trong đó
bao gồm cả thời gian dự giờ một bài học minh hoạ (BHMH) và thời gian suy ngẫm
thảo luận.
Cố gắng huy động tất cả CBQL và GV cũng dự. Giai đoạn đầu khi mới tổ
chức SHCM nên bố trí chung toàn trường để tập cách làm và xây dựng thói quen

19


mới. Giai đoạn sau khi thành thạo, có thể tách việc tổ chức SHCM theo nhóm tổ
nếu trường đông giáo viên để tăng cơ hội phát biểu ý kiến cho người dự.
1.2.3. Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
1.2.3.1. Một số khái niệm liên quan đến sinh hoạt chuyên môn theo
nghiên cứu bài học
Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động được thực hiện thường xuyên theo định
kỳ nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên theo
chuẩn nghề nghiệp thông qua việc dự giờ, phân tích bài học. Công tác sinh hoạt
chuyên môn (SHCM) được tổ chức thực hiện và duy trì ở các trường tiểu học
không chỉ giúp cho mỗi giáo viên (GV) nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
mà còn gắn kết tình đồng nghiệp, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác, hình thành môi
trường sư phạm tốt đẹp, cũng như truyền thống, bản sắc văn hoá riêng của mỗi
trường. SHCM hiện nay thường diễn ra theo hai hình thức: Tổ chức theo các
chuyên đề và dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học. Ở hình thức thứ nhất, SHCM
bao gồm việc triển khai học tập các văn bản chỉ đạo về chuyên môn của cấp trên,
tập huấn phương pháp dạy học và thường do Ban giám hiệu (BGH) triển khai.


SHCM truyền thống
- Đánh giá, xếp loại giờ dạy
- Tập trung vào hoạt động
Mục đích

dạy của giáo viên
- Thống nhất cách dạy để
giáo viên cùng thực hiện

Thiết kế bài
dạy

SHCM theo NCBH
- Tìm giải pháp để nâng cao kết
quả học tập của học sinh
- Tập trung vào hoạt động của học
sinh
- Mỗi giáo viên tự rút ra bài học để

- Một giáo viên thiết kế và

áp dụng
- Một nhóm giáo viên thiết kế, một

dạy minh hoạ.

giáo viên dạy minh hoạ

- Thực hiện theo đúng nội


của học sinh
Người dự:

Người dự:

Dạy minh hoạ

hoạt, sáng tạo dựa trên khả năng

quan sát cử chỉ, việc làm của
giáo viên dạy.
- Tập trung xem xét giáo viên
dạy có đúng quy định không
- Đối chiếu với các tiêu chí
đánh giá xếp loại giờ học.
Dựa trên tiêu chí có sẵn, đánh
giá xếp loại giờ dạy
- Tập trung nhận xét phân
tích hoạt động của giáo viên

Thảo luận về

- Ý kiến nhận xét, đánh giá

giờ dạy

mang tính mổ xẻ, chỉ trích,
chủ quan
- Người chủ trì xếp loại giờ

hưởng đến kết quả thi cử, tuy nhiên về lâu dài tạo nên nhiều thói quen có hại cho
22


cuộc sống của học sinh như không có tư duy độc lập mà theo tâm lý đám đông.
Mặt khác, cách dạy này triệt tiêu sự tham gia tích cực của học sinh vào bài giảng,
không khuyến khích sự hợp tác trong học tập giữa học sinh với học sinh. Cách dạy
học như vậy theo một nghiên cứu của Mỹ, sau sáu tháng ngưòi học chỉ lưu giữ
được khoảng 5% những gì đã được nghe giảng. Để giải quyết tình trạng này, giáo
viên cần biết chấp nhận học sinh, không được rời bỏ các em học yếu, kém. Chuyển
đổi phương pháp truyền thụ một chiều thành phương pháp dạy học có sự tham gia
tích cực của người học. Những yếu tố sau cần được đưa vào bài học hàng ngày:
- Các hoạt động tìm tòi, khám phá dựa trên các đồ dùng dạy học trực quan.
- Các hoạt động của nhóm nhỏ chỉ gồm 3 đến 4 học sinh.
- Đối thoại chia sẻ ý kiến giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học
sinh
Bằng việc học qua giao tiếp, học sinh không những chiếm lĩnh được kiến
thức khoa học mà còn xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hợp tác và phát triển kỹ
năng sống.
Nguyên tắc 2: Sử dụng thiết bị dạy học thực tế. Bài học là của học sinh, bài
học cần được gắn liền với thực tiễn cuộc sống của các em. Chống lại các giờ học lý
thuyết suông, thiếu thực tiễn, thực hành.
Nguyên tắc 3: Hoạt động nhóm nhỏ hiệu quả, chống lại các hiện tượng ỷ lại,
hiện tượng tách nhóm (bị bỏ rơi từ nhóm trung bình xuống nhóm yếu, kém)
Trong thực tiễn dạy học hiện nay có những trường hợp tổ chức nhóm thảo
luận không hiệu quả. Giáo viên chỉ đối thoại với nhóm trưởng và thư ký, các thành
viên khác của nhóm bị bỏ rơi, lâu dần sẽ bị rống kiến thức và lọt xuống nhóm học
sinh yếu, kém. Do đó cần sử dụng các kỹ thuật hoạt động nhóm tích cực như khăn
phủ bàn, các mảnh ghép, công não,….


cho phù hợp. Do đó không có giáo án chung cho các lớp học khác nhau.
- Nghiên cứu bài học là để đưa ra những giáo án tốt
Không có giáo án gọi là mẫu, là chuẩn trong nghiên cứu bài học. Các giáo
viên cùng thảo luận để tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao khả năng tư duy cho
học sinh, mỗi giáo viên lại có những thay đổi linh hoạt trong quá trình dạy tùy
thuộc vào khả năng của mình. Giáo án mẫu đưa là để tất cả các thành viên cùng
nhau trao đổi và có thể dùng cho các giáo viên trẻ chưa có kinh nghiệm dạy học.
- NCBH được thực hiện riêng lẻ, đơn độc bởi từng giáo viên.
Quá trình nghiên cứu bài học là một quá trình làm việc nhóm, các giáo viên
cùng nhau hợp tác để phát triển bài học, sau đó một hoặc hai giáo viên sẽ tiến hành
dạy học ở một lớp và các giáo viên khác cùng tham gia quan sát, nhận xét, góp ý,
bổ sung… nghiên cứu bài học cũng không phải là việc chỉ thực hiện xong một bài
học mà là cải tiến và phát triển bài học liên tục, thông qua đó phát triển năng lực
nghề nghiệp của giáo viên, cải thiện chất lượng học của học sinh. Như vậy về bản
chất, nghiên cứu bài học tạo ra một cộng đồng bao gồm không chỉ học sinh mà còn
của các giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và cha mẹ học sinh.
1.3. Hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học
Hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn được tổ chức, tiến hành theo
các bước như sau:
Bước 1: Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch NCBH
- Lập kế hoạch dạy học và triển khai kế hoạch.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status