MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
1.1.
1.2.
1.3.
Chương 2.
2.1.
2.2.
2.3.
Chương 3:
3.1
3.2
NGHIÊN CỨU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CỦA GIÁO
VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Các khái niệm cơ bản của đề tài luận văn
Đặc điểm, nội dung của quản lý hoạt động nghiên cứu sáng
kiến kinh nghiệm của giáo viên ở các trường trung học cơ sở
Các yếu tố tác động ảnh hưởng đến quản lý hoạt động nghiên
PHỤ LỤC
16
16
29
33
40
40
47
57
69
69
72
90
97
10
0
10
0
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dạy học tại các trường phổ thông, hoạt động nghiên cứu
khoa học công nghệ nói chung, HĐNCSKKN tại các trường THCS nói riêng có
vai trò hết sức quan trọng. HĐNCSKKN trong dạy học là một trong những mặt,
nội dung quan trọng nhằm phát huy trí tuệ của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân
giáo dục toàn diện và thực hiện các mục tiêu đổi mới của ngành”. Theo đó
yêu cầu: “Các đơn vị, trường học quán triệt và thực hiện đầy đủ các nội dung
công tác NCKH, SKKN; nghiêm túc thực hiện quy trình viết và chấm SKKN,
tập trung nâng cao chất lượng, tăng cường phổ biến, áp dụng kết quả NCKH,
SKKN vào thực tiễn; tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động NCKH, SKKN
được triển khai hiệu quả, đúng tiến độ, phục vụ tốt công tác quản lý, giảng
dạy và giáo dục học sinh.” [37, tr.1]
Thực tiễn trong dạy học tại các trường THCS, Quận Hoàng Mai, Thành
phố Hà Nội thời gian qua cho thấy: Công tác quản lý HĐNCSKKN đã đi vào
nền nếp; kế hoạch được xây dựng, triển khai chặt chẽ; chất lượng đội ngũ cán
bộ, giáo viên, nhân viên tại các trường THCS được nâng lên; nhiều sáng kiến
kinh nghiệm được ứng dụng phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực quản lý,
dạy và học đã góp phần tạo được phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các
trường. Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ GD - ĐT, HĐNCSKKN và công
tác quản lý HĐNCSKKN còn bộc lộ những hạn chế là: Chưa có chiến lược
trung hạn, dài hạn về nghiên cứu; công tác kiểm tra, đánh giá tiến độ, chất
lượng, nghiệm thu chưa chặt chẽ; HĐNCSKKN chưa trở thành động lực
mạnh mẽ đối với từng cán bộ, GV, nhân viên, còn mang tính hình thức; tính
ứng dụng, phổ biến kết quả NCSKKN trong thực tiễn chưa cao; cơ sở vật
chất, kinh phí đảm bảo cho HĐNCSKKN còn nghèo nàn chưa thu hút nhiều
đối tượng tham gia nghiên cứu v.v...
Vấn đề nghiên cứu quản lý HĐNCSKKN đã có nhiều công trình nghiên
cứu của các tác giả trong nước đề cập đến. Tuy nhiên, nội dung quản lý
4
HĐNCSKKN ở các trường THCS, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thì
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể.
XuÊt ph¸t tõ những lý do cơ bản trªn, chúng tôi chọn đề tài "Quản lý
hoạt động nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên ở các trường
cao chất lượng đào tạo ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội.” của PGS Văn
Đình Đệ (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Tạp chí Giáo dục Số 92/72004. Tác giả đã phân tích, chứng minh một cách thuyết phục sinh viên
NCKH góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, từ đó đề xuất các giải pháp
nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Bách
khoa Hà nội.
“Sinh viên nghiên cứu khoa học - Động lực chính để biến quá trình đào
tạo thành quá trình tự đào tạo” của GS.TSKH Trần Văn Nhung (Thứ trưởng
Bộ Giáo dục Đào tạo), Tạp chí Giáo dục số 130/ kỳ 2, 1 - 2006. Bài viết đã
khẳng định NCKH của sinh viên là một trong những giải pháp để biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo; phát huy tính tích cực tự giác, tính
sáng tạo của sinh viên trong lĩnh hội tri thức, nâng cao chất lượng đào tạo.
Nguyễn Bá Sơn (2000) Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lí. Nhà
xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội. Tác giả đã bàn đến khái niệm về công tác
quản lý nói chung, phân tích các biện pháp quản lý.
Tác giả Vũ Tiến Thành - Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục chủ
nhiệm đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả
hoạt động khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường”.
Công trình trên đã nghiên cứu một cách hệ thống các biện pháp nhằm
phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ cũng như
triển khai ứng dụng và phục vụ sản xuất, đời sống.
Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục chủ trì đề tài cấp Bộ: “Điều tra
đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và
cao đẳng Việt Nam”, do GS.TS Thân Đức Hiền làm chủ nhiệm. Đề tài đã đi
sâu tìm hiểu, điều tra nguồn lực khoa học và công nghệ của các trường đại học
và cao đẳng.
6
Ngoài ra còn có nhiều luận văn cao học, luận án tiến sĩ đề cập đến vấn đề
này như: năm 1998, Ninh Đức Thuật đã hoàn thành luận văn thạc sĩ “Một số
cao học và nghiên cứu sinh của tác giả Phạm Viết Vượng đã trình bày những
vấn đề chung nhất về khoa học và NCKH; lý thuyết về phương pháp NCKH;
nội dung cơ bản của hoạt động NCKH, trong đó có những nội dung đề cập
đến quản lý tiềm lực khoa học, quản lý tổ chức triển khai các đề tài NCKH,
đánh giá công trình nghiên cứu và công bố kết quả NCKH.
Tác giả Trần Kiểm, trong cuốn “Khoa học quản lý giáo dục - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn”, đã trình bày một cách đầy đủ, khái quát về khoa
học quản lý giáo dục. Trong đó, có đề cập đến quản lý các hoạt động nghiên
cứu về khoa học quản lý giáo dục, dự báo xu thế giáo dục và quản lý giáo dục
trên thế giới, những thách thức và thời cơ đối với quản lý giáo dục nói chung,
quản lý hoạt động NCKH trong nhà trường nói riêng.
Tác giả PGS.TS Đặng Quốc Bảo và TS Nguyễn Thành Vinh (2011),
trong cuốn“Quản lý Nhà trường”, sách chuyên khảo giáo dục và quản lý
giáo dục dùng cho hệ đào tạo cử nhân quản lý, đã trình bày một hệ thống
rộng lớn từ những vấn đề chung đến những vấn đề cụ thể trong quản lý nhà
trường: quản lý hoạt động dạy học và kiểm định chất lượng, quản lý hoạt
động NCKH của giáo viên, quản lý tài chính; quản lý cơ sở vật chất-kỹ thuật
của nhà trường,…
Các sách, giáo trình kể trên cũng như sách viết về phương pháp NCKH
hay phương pháp luận NCKH của một số tác giả, như: Vũ Cao Đàm, Nguyễn
Văn Hộ, Phạm Hồng Quang, Lưu Xuân Mới,… đều nhằm cung cấp những
kiến thức chung về phương pháp luận NCKH, phương pháp cấu trúc công
trình NCKH; đề cập khái quát đến quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
trong tổng thể quản lý nguồn nhân lực nhà trường hay quản lý các hoạt động
cơ bản của giảng viên.
Những nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt động KH&CN còn được
thể hiện qua nhiều đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý
8
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của Trường Đại học Văn hóa
Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga, “Quản lý hoạt động giảng
dạy và NCKH của giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố
Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ Giáo dục học, đã tập trung nghiên cứu, khảo
sát công tác quản lý của cán bộ quản lý đối với hoạt động giảng dạy và
NCKH của giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí
Minh, từ đó đã tìm ra những giải pháp quản lý hoạt động chuyên môn của
giảng viên, đáp ứng yêu cầu phát triển của Trường.
Năm 2013, tác giả Nguyễn Đức Hiếu, "Quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của giảng viên Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay", luận văn thạc sĩ
Quản lý giáo dục, đã khái quát những cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt
động NCKH của giảng viên, xác định những yêu cầu xây dựng biện pháp
quản lý và đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
ở Trường Sĩ quan Chính trị. Luận văn đã cung cấp những luận cứ khoa học
giúp cho các cấp lãnh đạo, chỉ huy ở Trường Sĩ quan Chính trị quản lý hoạt
động NCKH của giảng viên có chất lượng và hiệu quả hơn.
* Nhóm tác giả nghiên cứu HĐSKKN và quản lý hoạt động NCSKKN
Tập thể tác giả: PGS. TS Trần Đình Tuấn, PGS. TS Đặng Đức Thắng,
PGS.TS Mai Văn Hóa, PGS.TS Nguyễn Văn Chung ... với công trình
"Phương pháp luận nghiên cứu khoa học" (2008) đã đề cập tới quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học trong các trường quân đội, gồm: quản lý mục tiêu,
xây dựng hệ thống đề tài, tiến hành hoạt động, kiểm tra đánh giá, nghiệm thu
các hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường quân đội. Đây là những cơ
sở khoa học quan trọng định hướng cho nghiên cứu quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học nói chung, quản lý HĐNCSKKN nói riêng. Tuy nhiên, công
trình không đi vào cụ thể quản lý HĐNCSKKN ở trường THCS, chủ yếu là
quản lý nghiên cứu ở các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu khoa học
trong quân đội.
đối tượng nhất định, đáp ứng yêu cầu mới căn bản và toàn diện giáo dục và
đào tạo hiện nay.
11
Ngày nay, với xu thế phát triển của thời đại, nền kinh tế tri thức ở nước
ta đang có nhiều biến đổi mạnh mẽ phức tạp. Giáo dục nói chung, quản lý
giáo dục nói riêng đang đứng trước những yêu cầu cao hơn nhận thức về
chuyên môn. Nên hoạt động NCKH, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
phải được quan tâm đổi mới mạnh mẽ, để những nghiên cứu mới có giá trị về
lý luận và thực tiễn được ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống. Để góp phần
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của giáo viên
các trường THCS quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, kế thừa phát triển các
đề tài của các tác giả đi trước, dù gặp nhiều khó khăn trở ngại nhưng học viên
mạnh dạn nghiên cứu đưa ra các biện pháp có tính khả thi, nghiên cứu về lý
luận quản lý HĐNCSKKN tại các trường THCS vẫn là vấn đề mới mẻ cần
được tiếp tục đi sâu, làm rõ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý HĐNCSKKN
trong các trường THCS, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý
HĐNCSKKN trong các trường THCS, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội,
góp phân nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên ở các trường THCS trên
địa bàn Quận hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về quản lý HĐNCSKKN trong các
trường THCS.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng HĐNCSKKN, quản lý HĐNCSKKN
của giáo viên tại các trường THCS, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất c¸c biện pháp quản lý HĐNCSKKN của giáo viên tại các
nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên các trường trung học cơ sở, thì sẽ
quản lý chặt chẽ HĐNCSKKN của giáo viên các trường THCS trên địa bàn quận
Hoàng Mai, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục của nhà trường.
13
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam về giáo dục và quản lý giáo dục. Đặc biệt, luận văn được nghiên cứu dựa
trên quan điểm hệ thống - cấu trúc, quan điểm lịch sử lôgic, quan điểm thực tiễn
để luận giải những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp
hướng tới thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
quản lý giáo dục, bao gồm:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng các phương pháp
phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá một số tác phẩm kinh điển của
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện, Nghị quyết của Đảng về giáo
dục - đào tạo; giáo trình, sách chuyên khảo, các công trình khoa học, bài báo
khoa học có liên quan đã được công bố và đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu hội
thảo khoa học.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Trao đổi tọa đàm với: 10 cán bộ quản lý giáo dục tại Phòng Giáo dục Đào tạo quận Hoàng Mai; 20 cán bộ quản lý giáo dục là Ban Giám hiệu, tổ trưởng,
tổ phó tổ chuyên môn; 50 GV của 5 trường với các tổ chuyên môn khác nhau.
+ Điều tra xã hội học với 30 cán bộ quản lý, 200 giáo viên.
+ Nghiên cứu một số sản phẩm: Báo cáo tổng kết của các trường; của
Phòng Giáo dục - Đào tạo, Sở Giáo dục - Đào tạo, UBND quận Hoàng Mai,
kiến mới, phương pháp, giải pháp, cách làm mới, về một đối tượng hay hoạt
động nào đó, có tác dụng làm cho công việc trong hoạt động thực tiễn của con
người được tiến hành tốt hơn, có hiệu quả cao hơn.
Kinh nghiệm là những điều hiểu biết có thể áp dụng hữu hiệu cho cuộc
sống có được nhờ sự tiếp xúc, từng trải với thực tế. Kinh nghiệm là cái có
thực, được con người – chủ thể tích lũy trong quá trình trải nghiệm, hoạt động
thực tiễn, và là những kiến thức cao nhất của chủ thể.
Kinh nghiệm là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không
kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
SKKN có thể hiểu là "ý kiến mới, là sự hiểu biết do đã từng trải công
việc, đã thấy được kết quả, có tác dụng làm cho công việc được tiến hành tốt
hơn, phát huy được mặt tốt và khắc phục được mặt chưa tốt." [35, tr.162].
Sáng kiến là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển
của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
Hoạt động NCSKKN, là hoạt động nghiên cứu và triển khai thực nghiệm,
phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ,
phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và
công nghệ.
Nghiên cứu SKKN là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất,
quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp
nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
Nghiên cứu SKKN bao gồm các loại hình sau:
16
Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu có mục tiêu tìm tòi, sáng tạo
ra những tri thức mới, những giá trị mới cho nhân loại. Nghiên cứu cơ bản đi
sâu khám phá bản chất và quy luật vận động và phát triển của thế giới ở cả hai
phía vĩ mô và vi mô. Tri thức cơ bản là tri thức nền tảng cho mọi quá trình
nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo.
tạo cho mình có một kho tàng về kĩ năng sư phạm trong quá trình dạy học.
Mỗi SKKN có thể coi là sản phẩm trí tuệ của riêng cá nhân giáo viên đó.
Ý nghĩa quan trọng của HĐNCSKKN còn được thể hiện ở việc đây là
một trong các tiêu chí bắt buộc khi xét các danh hiệu thi đua từ cấp cơ sở trở
lên. Nghĩa là người giáo viên muốn được công nhận Chiến sĩ thi đua hay Giáo
viên dạy giỏi bắt buộc phải có SKKN trong hồ sơ. Luật thi đua khen thưởng
(Luật số 15/2003/QH11) - Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, tại Điều 23 có quy định: Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được xét
tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau:
1. Đạt các tiêu chuẩn của danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ
tiên tiến”;
2. Có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hoặc áp dụng công nghệ mới để tăng
năng suất lao động.
Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2014 của Chính phủ trong
Quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen
thưởng năm 2013, tại Điều 4. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, cũng nêu rõ:
1. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được xét tặng cho cá nhân đạt các
tiêu chuẩn sau:
a) Là “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”;
b) Có sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác
nghiệp hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất lao động,
tăng hiệu quả công tác được cơ sở công nhận hoặc có đề tài nghiên cứu khoa
học đã nghiệm thu được áp dụng hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục
vụ chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức, đơn vị
công nhận.
18
Từ tính chất quan trọng của HĐNCSKKN, nhằm đáp ứng các yêu cầu
trên và để HĐNCSKKN của giáo viên đi vào nền nếp, có chất lượng, thì một
Theo Điều lệ có thể thấy, NCKH không chỉ là nhiệm vụ của các nhà
khoa học mà còn là yêu cầu quan trọng của các nhà giáo dục, của tất cả các
giáo viên. Hàng năm, mỗi cán bộ, giáo viên đều phải thực hiện nhiệm vụ
nghiên cứu khoa học để đúc rút những kinh nghiệm, tìm ra những tri thức
mới, những kinh nghiệm, những giải pháp mới tối ưu góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo. Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của mỗi cán bộ, giáo
viên thường được thực hiện dưới hai dạng: Sáng kiến kinh nghiệm hoặc đề tài
nghiên cứu khoa học.
Hoạt động NCSKKN của giáo viên ở các trường THCS là việc người
giáo viên trình bày lại bằng văn bản những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được họ
tích lũy trong thực tiễn công tác giảng dạy và giáo dục, hoặc những hoạt động
nghiên cứu cụ thể đã tìm ra, khắc phục được những khó khăn mà với những
biện pháp thông thường không thể giải quyết được, góp phần nâng cao hiệu
quả rõ rệt trong công tác giảng dạy của người giáo viên.
Trong SKKN đó, tác giả thể hiện rõ quá trình nghiên cứu, ứng dụng,
đặc biệt là tính mục đích, tính thực tiễn, tính sáng tạo khoa học và khả
năng vận dụng, mở rộng SKKN đó. Một SKKN phải đảm bảo các yêu cầu
cơ bản sau:
1.Tính sáng tạo: Phải đưa ra những giải pháp mới hoặc giải quyết một
vấn đề mới một cách sáng tạo để nâng cao hiệu quả công việc.
2. Tính khoa học, sư phạm: Nội dung và hình thức không sai phạm về
khoa học; lựa chọn và sử dụng hợp lý, hiệu quả các phương pháp nghiên cứu;
tổ chức tốt các bước áp dụng vào thực tiễn. Đề ra cách làm mới phù hợp với
các nguyên lý giáo dục và các nguyên tắc sư phạm, đảm bảo yêu cầu về hình
thức văn bản của SKKN.
3. Tính hiệu quả: Mang lại kết quả thiết thực trong thực tế khi áp dụng.
Có bằng chứng, có số liệu cho thấy việc áp dụng SKKN đã cho kết quả tốt
hơn so với cách làm cũ.
20
nghiên cứu; kiểm tra đôn đốc chấn chỉnh làm cho công tác NCSKKN của giáo
viên đạt được hiệu quả thiết thực.
Trong quản lý, vấn đề quan trọng là phải đưa ra được các biện pháp phát
huy được vai trò trách nhiệm của cán bộ quản lý, hướng dẫn giáo viên
NCSKKN và vai trò tích cực tự giác của chính giáo viên trong NCSKKN.
Thứ hai, quản lý tổ chức, sắp xếp các nguồn lực cho việc NCSKKN
của giáo viên vừa phù hợp với điều kiện, năng lực, chuyên ngành đào tạo
của họ, vừa góp phần giải quyết được những vấn đề thực tiễn mà giáo dục
đặt ra. Quản lý tốt khâu này sẽ đảm bảo cho giáo viên lựa chọn được các
vấn đề nghiên cứu, các hướng nghiên cứu phù hợp, thiết thực, tránh được
khuynh hướng nghiên cứu viển vông, xa rời thực tế, làm cho công tác
NCSKKN không đạt hiệu quả.
Thứ ba, nhà trường phải có cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi
cho giáo viên nghiên cứu SKKN. Tạo điều kiện cho giáo viên tiếp cận thông
tin khoa học dưới dạng những tài liệu, sách báo chuyên môn, cũng như các tài
liệu tham khảo khác. Nhà trường phải tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên sử
dụng các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật để phục vụ cho công tác nghiên
cứu. Trong quản lý hoạt động NCSKKN phải làm sao để giáo viên biết khai
thác, sử dụng các phương tiện kỹ thuật vào nghiên cứu, khai thác, thu thập và
xử lý thông tin, tài liệu nghiên cứu. Chất lượng và hiệu quả hoạt động
NCSKKN của giáo viên không chỉ được biểu hiện ở những khám phá mới,
những phát hiện chân lý mới, tri thức mới, những sự vận dụng sáng tạo tri
thúc lý luận vào thực tiễn giáo dục mà còn được biểu hiện ở nhận thức, thái
độ và mức độ hình thành các kỹ năng NCSKKN của giáo viên.
Tổ chức quản lý hoạt động NCSKKN cho giáo viên phải góp phần
thực hiện đầy đủ ba chức năng, đó là:
Chức năng giáo dục: điều này có nghĩa là giáo viên khi tham gia
NCSKKN sẽ có điều kiện, cơ hội củng cố, đào sâu và mở rộng tri thức, nâng
tính trung thực, tinh thần ham học hỏi...
23
Chức năng tổ chức: tổ chức hoạt động NCSKKN cho giáo viên còn có
tác dụng giáo dục toàn diện nhân cách của người cán bộ khoa học, trước hết là
giáo dục thái độ học tập, nghiên cứu, xây dựng được niềm tin vào khả năng của
mình rèn luyện được ý chí, luôn luôn chủ động dựa vào sức mình là chính.
Ngoài ra, việc tham gia NCSKKN cũng giúp giáo viên rèn luyện tác phong làm
việc khoa học, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm và ý thức tự lập cao trong
công việc.
1.1.3. Quản lý hoạt động nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm của giáo
viên Trung học cơ sở
Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”. Thông
thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển,
động viên, kiểm tra, điều chỉnh…
Theo góc độ chính trị - xã hội, quản lí được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức
với lao động. Sự vận hành này cần có một cơ chế quản lí phù hợp. Nếu cơ chế
đúng, hợp lí thì xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
Theo góc độ hành động, quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều
hành. Theo C.Mac, quản lý (quản lý xã hội) là chức năng được sinh ra từ tính
chất xã hội hóa lao động. Nó có vai trò quan trọng đặc biệt bởi mọi sự phát
triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý.
Mac viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của
những khí quan độc lập của nó...” (C. Mac và Ph. Ăngghen, Toàn tập, T.23,
tr.480).“Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi
lớn, phạm vi càng rộng và nội dung càng phong phú, phức tạp.
QLGD là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt tới mục đích nhất định.
25