MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ
SỞ
1.1. Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2. Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các
trường trung học cơ sở
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh các trường trung học cơ sở
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ
SỞ HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát chung về đặc điểm kinh tế, xã hội và giáo dục
trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
2.2. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống, quản lý giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh các trung học cơ sở huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội
Chương 3. YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
3.1. Yêu cầu quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường
trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
3.2. Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường
trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
3.3. Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
đặc biệt quan tâm đến vấn đề GDKNS cho thế hệ trẻ, trong đó có học sinh các
trường THCS. Thế hệ các em ngày nay sống trong môi trường đan xen những cái
tốt và cả những cái chưa tốt, thường phải đương đầu với những rủi ro, đe dọa sức
khỏe và hạn chế cơ hội học tập. GDKNS có thể cung cấp cho các em các kỹ năng
để tự giải quyết được các vấn đề nảy sinh từ các tình huống thách thức.
Kỹ năng sống vừa mang tính xã hội vừa mang tính cá nhân. GDKNS
trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ trong giáo dục nhân cách toàn diện.
Mặt khác, kỹ năng sống là một thành phần quan trọng trong nhân cách con
người trong xã hội hiện đại. Muốn tồn tại và phát triển trong xã hội hiện đại,
con người phải có kỹ năng sống.
Nội dung GDKNS đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào giáo
dục cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau.
Chương trình hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người (Senegal-2000) đã
đặt ra trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học tiếp cận với
chương trình GDKNS phù hợp và kỹ năng sống cần được coi như một nội
dung của chất lượng giáo dục. Giáo dục tốt kỹ năng sống giúp con người
nhanh chóng thích nghi với tự nhiên và xã hội, vượt lên những khó khăn thậm
chí cả thảm họa. Trong năm 2011, tại Nhật Bản qua cách ứng xử của người
dân (trong đó có cả học sinh bậc học THCS) sau cơn sóng thần tàn phá đã
thấy được sự ưu việt qua cách giáo dục và rèn luyện GDKNS cho tất cả mọi
người ở đất nước này.
3
Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp
ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất
nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học.
Giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của
giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống. Đó là: Học
để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống.
buông thả, sớm thỏa mãn những gì đang có và bắt đầu thích hưởng thụ. Bên
cạnh đó, sự buông lỏng trong việc kết hợp quản lý giữa gia đình, nhà trường
và xã hội, nhiều ban ngành, đoàn thể chưa thực sự vào cuộc, cùng với ý thức
rèn luyện kém của một bộ phận thanh thiếu niên chính là một trong nguyên
nhân dẫn đến hậu quả này. Cũng không ít trường hợp, xuất phát từ hoàn cảnh
gia đình cha mẹ lo làm ăn, cha mẹ ly hôn, bỏ mặc con em lêu lổng, chán đời
“quậy phá” và vi phạm pháp luật là điều khó tránh khỏi. Điển hình trong
tháng 4/2016 vừa qua, chị em của Nguyễn Thị Kim Chi (SN 1992) và Nguyễn
Xuân Sang (SN 1995) cùng trú tại 02 Urê, P. Quang Trung. Tp. Kon Tum lần
lượt sa vào vòng lao lý. Được biết cả 02 đều là đối tượng nghiện ma tuý.
Trước đó, vào lúc 8h sáng ngày 09/4/2013 lực lượng trinh sát Công an Thành
phố Kon Tum đang trên đường tuần tra khu vực phường Trường Chinh thì
phát hiện Chi cùng chồng tên Bùi Nghĩa Đức (SN 1992) trú tại thôn 5, xã
Diên Bình, huyện Đăk Tô có nhiều biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra hành
chính và khám xét trên người, lực lượng chức năng thu giữ gói bột màu trắng
mà Chi khai nhận đó là chất ma tuý mua về để sử dụng. Với hành vi của
mình, cơ quan chức năng đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can bắt
tạm giam Chi và Đức về tội Tàng trữ và mua bán trái phép chất ma tuý.
Chính từ sự quản lý lỏng lẻo của gia đình và quan trọng là lối sống sai
lầm của một bộ phận thanh thiếu niên nên tình trạng tụ tập thành băng nhóm,
uống rượu bia, gây rối trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích, tổ chức
đánh bạc, đua xe, trộm cắp, cướp giật.v.v. đã bắt đầu len lỏi, xâm nhập mạnh
vào đối tượng thanh thiếu niên. Do vậy mà tình trạng thanh thiếu niên vi
phạm ngày càng gia tăng là điều không tránh khỏi.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên nhưng có một nguyên
nhân không thể phủ nhận là do cách giáo dục trong các nhà trường. Sự gia
6
tăng của những tội phạm nhỏ tuổi chính là một biểu hiện cho thấy sự thiếu hụt
Nhận thức rõ tầm quan trọng của quản lý GDKNS cho học sinh nên thời
gian qua các trường THCS ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội đã rất quan
tâm đến vấn đề này. Tuy nhiên, đây là vấn đề còn mới mẻ đối với học sinh và cả
đối với các thầy cô giáo, các nhà quản lý giáo dục. Vì vậy, tình trạng học sinh vi
phạm pháp luật, vi phạm nội quy nhà trường vẫn chưa có xu hướng giảm...Một
trong những nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém đó chính là sự
quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS chưa được quan
tâm đúng mức, chưa có những nội dung và hình thức tổ chức phù hợp.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Quản lý giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các nghiên cứu trên thế giới
Xã hội ngày nay có sự thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và
lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con
người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu. Hoặc có
những vấn đề đã xuất hiện trước đây, nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và
đầy thách thức như trong xã hội hiện đại, nên con người dễ hành động theo
cảm tính và không tránh khỏi rủi ro. Nói cách khác, để đến bến bờ thành công
và hạnh phúc trong xã hội hiện đại, con người cần phải có kỹ năng sống.
Vì vậy, kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người mỗi
quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù
hợp (mục tiêu 3) và kỹ năng sống của người học là một tiêu chí của chất
lượng giáo dục. Cho nên, trong mục tiêu 6 của chương trình đã coi kỹ năng
sống là một khía cạnh của chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục
cần tính đến những tiêu chí đánh giá kĩ năng sống của người học. Như vậy
tiến hành GDKNS để nâng cao chất lượng giáo dục.
Nhu cầu vận dụng kỹ năng sống một cách trực tiếp, hay gián tiếp được
nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế, bao gồm cả trong
năng sống trong giáo dục và GDKNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm
9
hiểu thực trạng GDKNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông
qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam. Trên cơ sở đó
xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GDKNS ở
Việt Nam trên cơ sở thực tiễn ở Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục
tiêu 6 của Chương trình hành động Dakar (Trong khuôn khổ hợp tác giữa
Viện chiến lược là chương trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội)[43] .
Trên cơ sở phân tích, so sánh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tổng hợp,
khái quát hoá qua nghiên cứu hai chu kỳ đề tài cấp Bộ về Giáo dục KNS cho học
sinh THPT...tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xây dựng được khung lý luận về
GDKNS từ xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương
pháp giáo dục cho đến đánh giá kết quả và tác động của GDKNS.
Một số kết quả nghiên cứu khác có giá trị quan trọng trong việc lập quan
điểm phương pháp luận cũng như định hướng và tiếp cận trong việc nghiên cứu kĩ
năng sống, GDKNS cho học sinh như đề tài “Thực trạng phạm tội của học sinh sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong
nhà trường” của tác giả Vương Thanh Hương và Nguyễn Minh Đức.[27, tr.5]
Trong đề tài nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Xuân (2014) “Quản lý
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn
huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” [18] và tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng
(2015) “Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy
học ở trường THCS thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” [19] đã nghiên cứu
và mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh do Ngành giáo dục thực hiện. Ngành giáo dục đã triển khai
chương trình GDKNS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội
dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu GDKNS.
Theo đó, các nội dung GDKNS được triển khai theo các cấp học như:
Chương trình cải cách của giáo dục mầm non (1994) đã chú ý đến giáo
nhằm nâng cao chất lượng GDKNS cho học sinh THCS.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận của việc quản lý GDKNS cho học sinh Trung học cơ sở.
12
- Khảo sát, đánh giá thực trạng GDKNS và quản lý GDKNS cho học
sinh các trường THCS ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất những biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh các trường
THCS ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục phẩm chất nhân cách cho học sinh trong
trường THCS.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý GDKNS trong các trường THCS huyện Chương Mỹ, thành phố Hà
Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
Số liệu thống kê được tính từ năm 2010 đến năm 2015.
Các biện pháp và quy trình quản lý của nhà trường về GDKNS trong
các trường THCS huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Đối tượng điều tra khảo sát: 10 Cán bộ quản lý (CBQL), 70 giáo
viên,1000 học sinh, 20 phụ huynh học sinh các trường THCS huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học
GDKNS cho học sinh trong các trường THCS có vai trò hết sức quan
trọng, GDKNS được thực hiện tốt góp phần hình thành phát triển nhân cách
con người toàn diện. Hiện nay xã hội đang trong xu thế toàn cầu hóa, có rất
nghiên cứu. Các tài liệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối
tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những
giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn.
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo: dựa trên những
thành quả của hoạt động thực tiễn trong trong các nhà trường chúng tôi rút ra
những kết luận bổ ích cho khoa học và thực tiễn. Tiến hành nghiên cứu, phân
14
tích, phát hiện, tổng kết những kinh nghiệm tiên tiến của bản thân giáo viên,
học sinh hay của một tập thể trường THCS phát hiện các vấn đề cần giải
quyết, nêu lên giả thuyết về những mối liên hệ có tính quy luật giữa các tác
động và kết quả, kiến nghị các biện pháp, giải pháp để bổ khuyết thiếu sót và
hoàn thiện quá trình GDKNS.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: tiến hành thu nhận thông tin thông
qua hỏi và trả lời miệng giữa nhà nghiên cứu và người được hỏi. Phỏng vấn
gián tiếp bằng phiếu hỏi, phiếu điều tra... theo một hệ thống câu hỏi được
chuẩn bị sẵn sàng. Các câu hỏi được sắp xếp theo trình tự khoa học, thể hiện
mối quan hệ với nhau. Có thể sử dụng 1 - 2 câu hỏi cuối cùng để kiểm tra độ
tin cậy, sự trung thực của người trả lời.
5 - Phương pháp trao đổi toạ đàm: tiến hành thu nhận thông tin nhiều chiều,
giữa nhà nghiên cứu với một hoặc một số cá nhân về vấn đề quan tâm.
Chúng tôi thu nhận thông tin bằng cách đưa ra những tình huống có vấn đề,
nhằm thu hút các đối tượng nghiên cứu vào các cuộc tranh luận bổ ích, để mọi
người tự bộc lộ được quan điểm, tư tưởng, suy nghĩ. Điều quan trọng nhất
trong kỹ thuật tổ chức trao đổi, tọa đàm hay hội thảo biết khéo léo đặt câu
hỏi, tạo hình huống “xung đột” thu hút sự quan tâm chú ý của mọi người và
xây dựng bầu không khí sôi nổi một cách tự nhiên, vì chúng ảnh hưởng lớn
đến chất lượng vấn đề nghiên cứu.
1.1. Các khái niệm công cụ của đề tài
1.1.1. Kỹ năng sống
Kỹ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào
mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội. Ngay những năm đầu của thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hiệp
Quốc (LHQ) như WHO (Tổ chức Y tế thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi
đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học và Giáo dục của LHQ) đã
chung sức xây dựng chương trình Giáo dục Kỹ năng sống cho thanh thiếu
niên. Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có
một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ.
Các quan niệm khác nhau về KNS:
- Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO- 1993): Kỹ năng sống là năng lực
tâm lý xã hội, là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và
thách thức của cuộc sống. Đó là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng
thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực
khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Theo
đó, WHO định nghĩa “KNS là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những
hành vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và
thách thức của cuộc sống hàng ngày”.
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF Thái Lan- 1995): Kỹ
năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích
cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống. Các Kỹ năng sống
nhằm giúp chúng ta dịch chuyển kiến thức “cái chúng ta đã biết” và thái độ,
giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế
“Làm gì và làm như thế nào” là tích cực nhất và mang tính xây dựng.
17
UNICEF đã nêu rõ “KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến
tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi
nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại..”
Ngoài ra, trong bài viết “Khái niệm kỹ năng sống nhìn từ góc độ tâm lý
học”, PGS. Nguyễn Quang Uẩn đăng trên Tạp chí Tâm lý học số 6 (6-2008),
ĐH Sư phạm Hà Nội đã xem xét khái niệm KNS dưới góc độ tâm lý học, tác giả
đã phân tích: cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống, với sự đan
xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và “mối quan hệ giao tiếp - ứng xử” giữa
con người với con người, đó là hai mặt có mối quan hệ tác động lẫn nhau, tạo
nên cuộc sống đích thực của mỗi con người. Trong hệ thống các kỹ năng cơ bản
có tính tổng hợp và phức tạp của hoạt động sống của con người có các KNS. Do
đó, tác giả Nguyễn Quang Uẩn đưa ra khái niệm về KNS như sau: “KNS là một
tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con
người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia và cuộc sống hàng ngày
có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”.
Như vậy, có thể quan niệm: “Kỹ năng sống là năng lực ứng dụng tri
thức khoa học vào thực tiễn để con người tồn tại và phát triển”.
* Phân loại kỹ năng sống
Gồm 3 nhóm:
- Kỹ năng nhận thức, gồm các kỹ năng: tư duy phê phán, tư duy phân
tích, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, tự nhận thức, ra quyết định, đặt
mục tiêu, xác định giá trị…
- Kỹ năng đương đầu với xúc cảm, gồm các kỹ năng: ý thức trách nhiệm, cam
kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lý, tự giám sát…
- Kỹ năng xã hội gồm: kỹ năng giao tiếp, tính quyết đoán, thương
thuyết, từ chối, hợp tác, sự cảm thông, sự chia sẻ, khả năng nhận thấy sự thiện
cảm của người khác…
* Ý nghĩa của kỹ năng sống
- KNS giúp biến kiến thức thành những hành động cụ thể, những thói
quen lành mạnh.
19
20
lớn” của mình. Sự phát dục đem lại một điều gì đó mới mẻ, bỡ ngỡ trong đời
sống của các em, khiến các em khiến các em có những cảm xúc và ý nghĩ
mới…mà thường chính các em cũng chưa ý thức được. Sự phát dục kích thích
các em quan tâm tới người khác giới, làm xuất hiện những cảm giác, những
rung cảm mới, nhất là những rung cảm giới tính.
* Đặc điểm giao tiếp
Ở lứa tuổi này, hoạt động giao tiếp có một ý nghĩa lớn đối với sự phát
triển nhân cách ở thiếu niên. Bằng hoạt động giao tiếp, các em lĩnh hội được
các chuẩn mực đạo đức, lối sống, đồng thời các em nhận thức được người
khác và bản thân mình. Nhờ vậy mà đời sống tình cảm của học sinh THCS
ngày càng phong phú và tinh tế hơn.
Đặc biệt, ở lứa tuổi học sinh THCS, hoạt động giao tiếp giữa bạn bè
cùng lứa tuổi phát triển mạnh. Bởi qua giao tiếp với bạn bè, thiếu niên tìm
thấy sự bình đẳng, tôn trọng nhau. Đó cũng là cơ sở để hình thành tình bạn. Ở
lứa tuổi này tình bạn là sự trung thực, hồn nhiên, trong sáng. Từ quan hệ rộng
rãi, thiếu bền vững, càng lên lớp trên học sinh THCS càng có ý thức về tình
bạn, có sự lựa chọn bạn bè theo nhận thức và tình cảm riêng của mình, đó
cũng chính là cơ sở của tình bạn lâu dài bền vững.
Một nét tâm lý đáng chú ý ở lứa tuổi này là quan hệ giao tiếp giữa nam
và nữ đã thể hiện màu sắc của giới tính, giữa bạn nam và bạn nữ không còn
hồn nhiên như ở tiểu học mà đã xuất hiện rào cản tâm lý nhất định.
* Đặc điểm nhận thức và hoạt động học tập
Nếu ở tiểu học, nhận thức của học sinh là nhận thức cảm tình, bước đầu
có tư duy khoa học (tư duy lý luận) thì ở THCS, các em hình thành nhận thức
lý tính ( dựa trên tư duy khoa học hay còn gọi là tư duy lý luận) theo logic của
đối tượng từng môn học.
Bên cạnh hoạt động giao lưu bè bạn, hoạt động học tập vẫn giữ vai trò
trí, có lý trí chi phối. Trong đời sống tình cảm của các em thì tình cảm đạo đức,
tình cảm bạn bè phát triển mạnh. KNS của các em tăng lên, tính bột phát trong
tình cảm giảm dần và nhường chỗ cho tình cảm có ý thức phát triển.
22
Từ khái niệm KNS được nêu ở trên, ta thấy KNS bao gồm một loạt các
kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Khi đã có
KNS cơ bản cần thiết, nhất là năng lực hành động, năng lực thực tiễn các em
sẽ bình tĩnh, chủ động, sáng tạo, tích cực hơn khi tham gia các hoạt động
trong học tập, lao động, sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống.
Như vậy, kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở là tổng hợp các
năng lực vận dụng tri thức của bậc trung học phổ thông vào cuộc sống thực
tiễn một cách thành thạo phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi.
Từ đặc điểm tâm lý lứa tuổi, có thể thấy kỹ năng sống của học sinh
THCS bao gồm 21 KNS cơ bản, cần thiết sau:
* Kỹ năng tự nhận thức :
Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân
mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn
nhận đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh,
điểm yếu,… của bản thân mình; quan tâm và luôn có ý thức được mình đang
làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.
Kỹ năng xác định giá trị:
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với
bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống
của bản thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức,
những chính kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…
Giá trị phụ thuộc vào giáo dục vào nền văn hoá, vào môi trường sống, học tập
và làm việc cá nhân.
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc:
quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử
chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không
vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp.
Kỹ năng thể hiện sự cảm thông:
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong
hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là
24
những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình
cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.
Kỹ năng thương lượng:
Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích,
đồng thời có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách
suy nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó.
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn:
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được
nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái
độ tích cực, không dùng bạo lực, thoả mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên
và giải quyết mối quan hệ giữa các bên một cách hoà bình.
Kỹ năng hợp tác:
Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiêm, biết cam
kết và cùng làm việc hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
Kỹ năng tư duy phê phán:
Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và
toàn diện các vấn đề sự vật, hiện tượng… xảy ra.
Kỹ năng tư duy sáng tạo:
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một
cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức
mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý
Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin:
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lí
thông tin là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông
tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.
Nhìn chung, nội dung GDKNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông
tập trung vào các kỹ năng tâm lý - xã hội là những kỹ năng được vận dụng
trong những tình huống hàng ngày để tương tác và giải hiệu quả những vấn
đề, những tình huống trong cuộc sống. Việc hình thành những kỹ năng này
không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với các kỹ năng học
tập như: đọc, viết, tính toán…
26