LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN lực ở các TRƯỜNG PHỔ THÔNG dân tộc nội TRÚ, TỈNH sóc TRĂNG HIỆN NAY - Pdf 42

1

“Phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường PTDTNT
tỉnh Sóc Trăng”
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định phát triển nguồn nhân lực
là một trong ba khâu đột phá để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đây
cũng là một trong những giải pháp quan trọng, có tính chất quyết định để thực
hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong lĩnh vực GD&ĐT
nói chung, ở các trường PTDTNT nói riêng, nguồn nhân lực giữ vai trò đặc
biệt quan trọng, quyết định đến chất lượng dạy học, giáo dục học sinh.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách để phát triển nguồn nhân lực giáo dục với mục tiêu “Xây
dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao
chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng
nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề
nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao
của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước”[1, tr.4].
Thực hiện quan điểm chỉ đạo trên đây, trong thời gian qua ngành
GD&ĐT tỉnh Sóc Trăng đã thường xuyên quan tâm, đầu tư, quy hoạch, đào
tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên đang công tác tại các trường
phổ thông. Đặc biệt là đội ngũ nguồn nhân lực công tác tại các trường
PTDTNT ngày càng chú trọng phát triển. Là một tỉnh có đông đồng bào dân
tộc Khmer sinh sống; vì vậy, hơn bất cứ địa phương nào trong khu vực, đòi
hỏi tỉnh Sóc trăng cần phải có nguồn nhân lực giáo dục bao gồm những con
người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo, được chuẩn bị tốt về
kiến thức văn hóa, được đào tạo có trình độ.




3

Từ những lý do trên tác giả chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực
giáo dục ở các trường PTDTNT tỉnh Sóc Trăng” làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn thạc sĩ.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
* Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đề
xuất các biện pháp phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường PTDTNT
tỉnh Sóc Trăng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực giáo
dục ở các trường PTDTNT.
- Khảo sát, phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở
các trường PTDTNT của tỉnh Sóc Trăng.
- Đề xuất các biện pháp để phát triển nguồn nhân lực giáo dục các
trường PTDTNT của tỉnh Sóc Trăng.
3. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
* Khách thể nghiên cứu.
Nguồn nhân lực giáo dục ở các trường PTDTNT tỉnh Sóc Trăng.
* Đối tượng nghiên cứu.
Phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường PTDTNT tỉnh Sóc
Trăng .
* Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển nguồn
nhân lực chủ yếu là đội ngũ giáo viên ở các trường PTDTNT của tỉnh Sóc
Trăng .
Phạm vi về đối tượng khảo sát: Lãnh đạo Sở GD&ĐT và cán bộ,

Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận về quản lý giáo dục,
các văn kiện Đại hội Đảng các cấp; các văn bản pháp quy về giáo dục và các
tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó, rút ra cơ sở lý luận để


5

đề xuất các giải pháp quản lý phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường
PTDTNT trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Trưng cầu ý kiến của 125 người
bao gồm lãnh đạo Sở và cán bộ, chuyên viên các phòng, ban chuyên môn
thuộc Sở GD&ĐT, CBQL và giáo viên các trường PTDTNT nhằm thu thập
nhiều thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát: Sử dụng các biện pháp khác nhau để quan sát
hoạt động giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh và quản lý phát triển
nguồn nhân lực giáo dục ở các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
các trường để thu thập các thông tin có liên quan để góp phần làm rõ thực
trạng quản lý phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường PTDTNT trên
địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn lãnh đạo Sở và lãnh đạo các
phòng, ban chuyên môn thuộc Sở GD&ĐT; lãnh đạo và giáo viên các trường
PTDTNT về thực trạng công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở
các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nhằm làm căn cứ đề xuất các
giải pháp một cách hiệu quả.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên giá của các nhà khoa
học, nhà giáo có nhiều kinh nghiệm trong quản lý phát triển nguồn nhân lực
giáo dục ở các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
- Phương pháp toán thống kê: Sử dụng các công thức toán để xử lý kết
quả khảo nghiệm, phân tích kết quả nghiên cứu và đánh giá mức độ tin cậy

GD&ĐT trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Tác giả Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu, phân tích “Vấn đề con người
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam’’, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996. Tác giả Nguyễn Hữu Dũng nghiên cứu về “Sử dụng hiệu
quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam”, Nxb Lao động - Xã hội , Hà
Nội, 2003. Tác giả Mai Quốc Chánh nghiên cứu “Các giải pháp nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Tác giả Nguyễn Thanh với công trình
nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002”. Bên cạnh đó, tác giả Mai Quốc
Chánh viết về “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.


8

Về phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD&ĐT:
Hai tác giả Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Loan đã biên soạn cuốn
sách “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam” Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách làm rõ quan điểm, định hướng chiến lược
và giải pháp chủ yếu cho việc phát triển năng lực giáo dục bậc cao ở nước ta
trong thời kỳ mới.
Cũng về vấn đề này, tác giả Bùi Thị Ngọc Lan đã viết tài liệu “Nguồn
lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002. Cuốn sách tập trung làm rõ trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, vai trò, đặc
điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển của nguồn lực trí tuệ Việt

Dưới góc độ kinh tế học, nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người
trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao
động (trừ những người tàn tật mất sức lao động loại nặng) và những người
ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế đang làm việc.
Nguồn nhân lực của một tổ chức hình thành trên cơ sở của các cá nhân
có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục đích nhất
định.
Khác với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực là nguồn lực con người.
Nếu xét về vai trò của nguồn lực này trong quá trình sản xuất, nguồn nhân lực
không chỉ là yếu tố đầu vào của sản xuất (nguồn cung), mà ở khía cạnh với tới
cách là một thực thể sống, nguồn nhân lực lại là yếu tố tạo nên cầu. Các
nguồn lực khác của doanh nghiệp đều do con người sử dụng để phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của chính bản thân doanh nghiệp. Mỗi nhân
viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển và
có khả năng đoàn kết làm việc theo nhóm, tổ, đội tạo lên hiệu quả cao trong
công việc mà họ đảm nhận, đồng thời họ liên kết lại để hình thành nên các tổ
chức, để bảo vệ quyền lợi của bản thân trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Hiểu theo góc độ rộng hơn thì nguồn nhân lực chính là nguồn lực của
con người bao gồm hai yếu tố chính là thể lực và trí lực.
Xét theo phạm vi hẹp hơn trong phạm vi một tổ chức thì nguồn nhân
lực thể hiện ở số lượng và chất lượng người lao động đang làm việc trong tổ
chức đó bất kể công việc họ đảm nhiệm là gì.


12

Theo đó, Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người
với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh
thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy
động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.

định hiện hành, trình độ nguồn nhân lực giáo dục từ trung cấp chuyên nghiệp
đến đại học, sau đại học cho các cơ sở giáo dục khác nhau.
Ở phạm vi vi mô, nguồn nhân lực giáo dục của nhà trường; đó là một
bộ phận của nguồn nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân; làm nhiệm vụ
GD&ĐT, quản lý và phục vụ nhiệm vụ GD&ĐT của cơ sở giáo dục.
Theo cách tiếp cận trên đây, Nguồn nhân lực giáo dục ở các trường
PTDTNT là tổng thể số lượng, chất lượng và cơ cấu con người với các tiêu
chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo thành lực
lượng nòng cốt để thực hiện mục tiêu, yêu cầu hoạt động GD&ĐT của nhà
trường.
Nguồn nhân lực giáo dục trong nhà trường PTDTNT là một lực lượng
đông đảo bao gồm nhiều bộ phận; trong đó, đội ngũ giáo viên, học sinh và
cán bộ làm công tác quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt. Mỗi bộ phận có
chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động khác nhau, song giữa các lực
lượng này có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau và luôn biến
động thay đổi. Do vậy, quản lý nguồn nhân lực giáo dục là một quá trình vận
động, phát triển không ngừng.
Nguồn nhân lực giáo dục trong trường PTDTNT được biểu hiện ở các
yếu tố cấu thành về lực lượng (số lượng), tri thức, khả năng nhận thức và tiếp
thu kiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo, cũng như truyền thống
lịch sử và nền văn hoá mà con người được thụ hưởng. Trong bất cứ nhà
trường nào, nguồn nhân lực đều giữ vai trò quyết định đối với các hoạt động
dạy học, giáo dục trong nhà trường. Thậm chí trong một nhà trường dù còn có
nhiều khó khăn, con người tuy trình độ hiểu biết về mọi mặt còn rất hạn chế,


14

song vẫn là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển giáo dục của nhà
trường.

ngoài hoạt động chủ đạo theo chuyên môn nghề nghiệp, còn phải thực hiện
các nhiệm vụ khác theo chức trách của người công dân; theo các yêu cầu đặc
thù của giáo dục, dạy học ở trường PTDTNT được thể hiện trong Quy chế tổ
chức và hoạt động của trường PTDTNT. Các hoạt động trên luôn đan xen,
gắn bó mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.
Nguồn nhân lực ở các trường PTDTNT bao gồm: CBQL; giáo viên;
học sinh; nhân viên hành chính;… như các trường phổ thông khác. Ngoài ra
còn có nhân viên của tổ Giáo vụ và Quản lý học sinh, nhân viên của tổ Quản
trị và Đời sống; đối với trường PTDTNT cấp huyện còn có nhân viên của tổ
Quản lý nội trú để phục vụ cho các hoạt động giáo dục của trường.
1.2.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường
phổ thông dân tộc nội trú
1.2.2.1. Khái niệm phát triển:
Theo Phép biện chứng duy vật, Phát triển là sự vận động theo hướng đi
lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn
thiện của sự vật. Như vậy, phát triển là sự biến đổi nói chung của sự vật, hiện
tượng trong không gian và thời gian, theo chiều hướng từ ít đến nhiều, từ thấp
đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Từ điển Tiếng Việt quan niệm: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho
biến đổi từ từ đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, đơn giản đến phức
tạp” [47, tr.769].
1.2.2.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực:
Về phát triển nguồn nhân lực, theo nghĩa rộng, Liên Hợp quốc sử dụng
khái niệm “phát triển nguồn lực con người bao gồm GD&ĐT, sử dụng tiềm
năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất
lượng cuộc sống”. Theo nghĩa hẹp, đó là làm cho toàn bộ sự lành nghề của
dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với phát triển của đất nước. Theo


16


17

liên hệ giữa phát triển GD&ĐT với mức tăng thu nhập bình quân đầu người
và mức tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia cho thấy, giáo dục phổ thông có
vai trò rất quan trọng đối với mức tăng thu nhập và tăng trưởng kinh tế.
Trường PTDTNT là trường chuyên biệt dành cho học sinh các dân tộc
thiểu số, bản thân và gia đình thường trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng
biên giới, hải đảo. Trường là nơi hội tụ thanh niên ưu tú các dân tộc trên khắp
mọi miền của đất nước. Hiện nay, cả nước có 3 trường Trung ương, 50 trường
tỉnh, 241 trường huyện và cụm xã, trên 80 nghìn học sinh. Chất lượng đào tạo
ngày càng được nâng lên. Hệ thống trường PTDTNT đã đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo nguồn đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số trình độ cao,
góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc
và miền núi. Biện pháp phát triển của trường PTDTNT là tạo nguồn đào tạo
cán bộ cho miền núi, vùng dân tộc, Luật Giáo dục ghi: “Nhà nước thành lập
trường PTDTNT, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường Dự bị đại học cho
con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào
tạo cán bộ cho các vùng này”.
Trường PTDTNT có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội, ổn định chính trị và củng cố an ninh, quốc phòng ở vùng có đông
đồng bào dân tộc ít người; góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn
phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở trường PTDTNT.
Phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường PTDTNT là tổng thể
những tác động của chủ thể quản lý tạo ra sự thay đổi về số lượng, cơ cấu,
chất lượng của nguồn lực nhân lực theo hướng tiến bộ, được biểu hiện ở việc
nâng cao năng lực, động cơ, thái độ trách nhiệm của nguồn nhân lực để đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của các nhiệm vụ dạy học, giáo dục theo mục
tiêu, yêu cầu của nhà trường.

các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả
trong công việc chuyên môn của mỗi người. Cần phải phát triển năng lực


19

giảng dạy, giáo dục của giáo viên; phát triển năng lực, trình độ quản lý của
người CBQL giáo dục đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện tại và mục tiêu chiến
lược trong tương lai của nhà trường.
Về kiến thức: Phát triển kiến thức chính là nâng cao trình độ chuyên
môn và các kiến thức khác như: ngoại ngữ, tin học, chính tri, làm cho đội ngũ
CBQL và giáo viên có trình độ đáp ứng nhu cầu hiện tại và chiến lược trong
tương lai của nhà trường. Người có kiến thức dễ dàng hoàn thành công việc
thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình. Để phát triển nguồn nhân lực cần phải
nâng cao kiến thức của nguồn nhân lực, trang bị cho người lao ñộng những
kiến thức mới.
Về kỹ năng: Phát triển kỹ năng là nâng cao khả năng của nguồn nhân
lực trên nhiều lĩnh vực để đáp ứng nhu cầu cao hơn trong nghề nghiệp ở hiện
tại hoặc trang bị kỹ năng mới cho tương lai, nhất là kỹ năng dạy học, giáo
dục, quản lý giáo dục ở nhà trường phù hợp với đặc điểm hoạt động của nhà
trường và học sinh ở trường PTDTNT.
Về hành vi, thái độ: Trình độ nhận thức của người lao động ñược biểu
hiện qua thái độ, hành vi và cách ứng xử trong công việc của họ. Nhận thức
của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai trò, trách
nhiệm, mức độ nhiệt tình đối với công việc, điều này sẽ ñược thể hiện qua các
hành vi của họ. Nhận thức của người lao động được coi là tiêu chí đánh giá
trình độ phát triển nguồn nhân lực.
Chủ thể trực tiếp phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường
PTDTNT là cấp ủy đảng, CBQL các trường PTDTNT. Ngoài ra còn có các chủ
thể khác tham gia vào phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở trường PTDTNT

Tuyển chọn, sàng lọc; đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo, bồi dưỡng của
đội ngũ CBQL giáo dục các nhà trường. Căn cứ vào những yêu cầu của chu
trình phát triển nguồn nhân lực để tiến hành công tác chuẩn bị nhân sự. Để
bảo đảm chất lượng và tính đồng bộ của nhân sự, chủ thể quản lý phải xem
xét toàn diện hoạt động trước đó của từng cá nhân hoặc bộ phận.


21

Quá trình phát triển đội ngũ CBQL giáo dục các trường PTDTNT có sự
tham gia của nhiều lực lượng, nhiều tổ chức với chức trách, nhiệm vụ, quyền
hạn khác nhau và có các cách thức, biện pháp khác nhau.
1.3. Nội dung phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở các trường phổ
thông dân tộc nội trú
1.3.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực các
trường phổ thông dân tộc nội trú
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực các nhà
trường PTDTNT là một trong những hoạt động quan trọng đầu tiên của người
quản lý và các cơ quan quản lý giúp cho các chủ thể quản lý biết được số
lượng, cơ cấu tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn... của nguồn nhân lực thực
tế ở các nhà trường từ đó có những tác động quản lý phù hợp để phát triển về
số lượng, chất lượng và cơ cấu. Quan trọng hơn việc quy hoạch làm cơ sở chủ
yếu mang tính định hướng cho việc vận dụng và thực hiện các chức năng cơ
bản của quản lý vào phát triển nguồn nhân lực các trường PTDTNT của Tỉnh.
Để hoàn thiện quy hoạch phát triển nguồn nhân lực các trường
PTDTNT, thì cấp quản lý phải lập kế hoạch cho sự cân đối trong tương lai
bằng cách so sánh số lượng nhân lực cần thiết với số lượng nhân lực hiện có,
phân tích độ tuổi, trình độ, năng lực, khả năng làm việc, thời gian công tác
của từng người trong đội ngũ, để ấn định số lượng cần thiết đưa vào quy
hoạch. Mặt khác cấp quản lý còn phải căn cứ vào nhu cầu, quy hoạch mạng

cho nguồn nhân lực có cơ hội tiếp cận những vấn đề mới, bù đắp những thiếu
hụt tránh được sự lạc hậu trong xu thế phát triển như vũ bão của tri thức khoa
học hiện đại. Các cấp quản lý phải chọn hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ của
mình sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương cũng như điều
kiện công tác của mỗi cá nhân.
Kiểm tra, đánh giá: Đây là một trong các chức năng của nhà quản lý.
Kiểm tra chính là xem xét tình hình thực hiện công việc của nhà quản lý đối
với đối tượng quản lý. Thông qua kiểm tra giúp chủ thể quản lý điều khiển tối
ưu hệ thống quản lý của mình. Đánh giá là đối chiếu với tiêu chuẩn quy định


23

để phân loại thành tựu hiện thời của những đối tượng cần đánh giá, xác định
xem họ có xứng đáng được khen thưởng, cân nhắc hoặc tiếp tục được giữ
chức hay họ cần phải đi đào tạo, huấn luyện thêm, hoặc bị sa thải. Kiểm tra,
đánh giá là hai hoạt động liên quan mật thiết với nhau, góp phần nâng cao
chất lượng quản lý.
Bổ nhiệm cán bộ: Theo quy định về thời hạn bổ nhiệm nhân lực là
CBQL giữ chức Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường PTDTNT có nhiệm
kỳ là 5 năm, hết nhiệm kỳ cấp quản lý căn cứ vào quy định thực hiện quy
trình bổ nhiệm lại cho các chức danh.
Luân chuyển: Là sự chuyển đổi vị trí, địa điểm công tác, có thể vẫn giữ
chức vụ đó nhưng sang đơn vị khác làm việc, cũng có thể thôi giữ chức vụ
hiện tại chuyển sang đơn vị mới giữ chức vụ khác. Theo quy định nhân lực là
CBQL giữ chức Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường PTDTNT ở một
trường học không quá 2 nhiệm kỳ, như vậy sau 2 nhiệm kỳ buộc tổ chức phải
thực hiện luân chuyển. Cũng có khi người CBQL khả năng phát triển đi lên,
hoặc giữ trọng trách ở đơn vị đó không phát huy được vai trò của mình thì cấp
quản lý phải xem xét thực hiện luân chuyển. Đối với giáo viên các trường

người CBQL giáo dục, giáo viên ở trường PTDTNT: Hoàn thành nhiệm vụ
được giao và tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên, nhân viên thực hiện và hoàn
thành nhiệm vụ; chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của nhà trường. Hiểu
được phong tục tập quán của đồng bào dân tộc, nắm được đặc điểm tâm, sinh
lý của học sinh là người dân tộc, có kỹ năng giao tiếp trong sinh hoạt và quản
lý ở trường PTDTNT. Không lợi dụng chức quyền vì mục đích vụ lợi. Giải
quyết hài hòa các mối quan hệ cả trong và ngoài nhà trường. Được tập thể cán
bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và cộng đồng tín nhiệm, là tấm gương sáng
trong tập thể sư phạm nhà trường.
Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc
và môi trường giáo dục; sống trung thực, giản dị, nhân ái, độ lượng, bao dung;
Có tác phong làm việc khoa học, sư phạm; thân thiện, thương yêu, tôn trọng
và đối xử công bằng với học sinh; gần gũi, tôn trọng, đối xử công bằng, bình


25

đẳng và giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nhân viên; hợp tác và tôn trọng cha mẹ học
sinh; hợp tác với chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội trong giáo dục
học sinh.
* Đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Đào tạo, bồi dưỡng để phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho
nhân lực các trường PTDTNT tập trung vào bồi dưỡng để đạt trình độ chuẩn
đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục; Điều lệ trường trung học cơ sở,
trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp; Quy chế tổ chức, hoạt
động của trường PTDTNT, có hiểu biết chương trình và kế hoạch giáo dục ở
bậc phổ thông; có năng lực chỉ đạo, tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục có
hiệu quả phù hợp đối tượng và điều kiện thực tế của nhà trường, của địa
phương. Có kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội liên
quan đến giáo dục phổ thông.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status