LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục QUẢN lý HOẠT ĐỘNG dạy học ở các TRƯỜNG PHỔ THÔNG dân tộc nội TRÚ, TỈNH sóc TRĂNG - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong bối cảnh giáo dục phải được đổi mới mẽ, phải không
ngừng nâng cao chất lượng đào tạo ở các cấp học, bậc học. Trong đó, có các
trường phổ thông dân tộc nội trú. Việc nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ
phụ thuộc vào chương trình giảng dạy, sách giáo khoa, các điều kiện vật chất của
nhà trường mà còn phụ thuộc lớn vào hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên
của nhà trường. Dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường, đội ngũ giáo
viên là lực lượng quyết định chất lượng dạy học. Nhiệm vụ của giáo viên là giáo
dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục để giúp học sinh
phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, vận dụng kiến thức đã học vào thực
tiễn cuộc sống và hình thành những tình cảm đạo đức tốt đẹp.
Quản lý giáo dục là khâu then chốt đảm bảo sự thắng lợi của mọi hoạt
động giáo dục. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo
dục, phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục là khâu then chốt” [7].
Nói đến hoạt động quản lý của nhà trường thì quản lý hoạt động dạy
học là vô cùng quan trọng và hàng đầu trong công tác quản lý. Quản lý
HĐDH tác động trực tiếp đến chất lượng của giáo viên và học tập của học
sinh. Chính vì vậy, CBQL phải là hạt nhân chủ yếu trong việc ứng dụng các
khoa học quản lý để vận dụng linh hoạt, năng động các biện pháp quản lý
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Trong thời gian qua, các trường PTDTNT ở tỉnh Sóc Trăng đã tích cực
đổi mới HĐDH, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng dần lên. Tổ chức
HĐDH đã bám sát chuẩn kiến thức và kỹ năng theo chương trình giáo dục
phổ thông cấp THCS, THPT của Bộ GD&ĐT. Ngoài việc dạy học văn hóa
còn tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường chuyên biệt: Tổ chức nội


trú, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe học sinh, tổ chức các hoạt động văn hóa,

Quản lý HĐDH trong nhà trường đã được nhiều tác giả ở các quốc gia
khác nhau thế giới quan tâm nghiên cứu. Nhà quản lý giáo dục Chikondi
Mpokosa (2008), đã có công trình nghiên cứu về quản lý HĐDH của giáo viên
trong các trường phổ thông. Nghiên cứu này đã thu hút được sự quan tâm rất
lớn của cộng đồng giáo dục, nó có ảnh hưởng lớn đến chương trình giáo dục
của UNESCO. Tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của quản lý HĐDH
đối với việc nâng cao chất lượng dạy học.
Ở phương Tây, đáng chú ý có Xôcrat (469 - 339 trước CN). Trong dạy
học, ông đã sáng tạo phương pháp đàm thoại gợi mở, ông chỉ nêu câu hỏi, yêu
cầu học trò trả lời, qua đó mà lĩnh hội tri thức [12].
Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 trước CN) - một triết gia, nhà
giáo dục lừng danh của Trung Quốc cho rằng trong dạy học, giữa người dạy
và người học có sự tương tác lẫn nhau, giúp nhau cùng trưởng thành (giáo học
tương trưởng); người dạy và người học cùng hoạt động tích cực mới có hiệu
quả. Người dạy thì phải biết: Dụ (ví von, so sánh) - Trợ (giúp đỡ) - Đạo (dẫn
dắt) - Khải (gợi ý) - Phát (khích thích); còn người học thì phải: Lập chí (đặt
chí) - Bác học (học rộng) - Thâm vấn (hỏi sâu) - Thận tư (suy nghĩ) - Minh
biện (phân biệt) - Thời tập (tập ngay) - Đốc hành (ứng dụng). Ông còn nói:
“Kẻ nào không bực tức về sự dốt nát, ta không bảo cho mà biết; không hậm
hực vì không nói ra được, ta không bày cho cách nói; bảo một góc, không suy
ra ba góc kia, ta không bảo lại”[ 12].
Một nghiên cứu khác được thực hiện vào năm 2011, tại Hoa Kỳ, thảo
luận về vai trò của hiệu trưởng trong các trường học. Vai trò quản lý dạy học
trong định hướng nâng cao chất lượng dạy học đã thu hút được sự chú ý của
cộng đồng ở tiểu bang này. Nhóm nghiên cứu gồm 30 nhà giáo dục cao cấp
của Hoa Kỳ đưa ra các giải pháp về quản lý các HĐDH và đề ra các phương


hướng quản lý HĐDH trong tương lai. Nghiên cứu đã đề xuất chuẩn nghề
nghiệp dạy học (National teachinh standards). Ngoài ra, trong các nghiên cứu

đã và đang đẩy nhanh tiến độ đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ
phát triển giáo dục so với các nước trong khu vực và thế giới. Yêu cầu của
việc đổi mới nội dung, PPDH trở thành vấn đề cần thiết và khách quan, các
nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này. Tiêu biểu
là các tác giả có nhiều đóng góp về lý luận và thực tiễn như: Phạm Minh Hạc,
Bùi Minh Hiền, Đặng Quốc Bảo, Vũ Ngọc Hải, Trần Kiểm, Nguyễn Ngọc
Quang, Hà Sỹ Hồ,...
Trong các nhà trường phổ thông, HĐDH là hoạt động trọng tâm. Chính
vì vậy, đã có rất nhiều CBQL nghiên cứu các biện pháp quản lý nhà trường,
trong đó có quản lý HĐDH, như các luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Văn
Khảo với đề tài “Thực trạng và giải pháp quản lý HĐDH ở các trường THPT
huyện Cần Đước, tỉnh Long An” (2008); tác giả Phan Ngọc Huỳnh với đề tài
“Thực trạng quản lý HĐDH ở các trường THPT thành phố Vũng Tàu, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu”; tác giả Nguyễn Ánh với đề tài “Biện pháp quản lý của
hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện
Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk” (2011).
Các tác giả luận văn này đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực
tiễn và đề ra các biện pháp quản lý HĐDH ở địa phương mình. Từ các nghiên
cứu của các tác giả nêu trên cho thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
giáo dục về quá trình quản lý HĐDH trong giai đoạn hiện nay của đất nước ta
là hết sức quan trọng.
Về quản lý HĐDH ở các trường PTDTNT trong thời gian qua đã được
nhiều nhà lãnh đạo, CBQL giáo dục rất quan tâm nghiên cứu, đã có một số
công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu
Châu “Những giải pháp tăng cường hiệu quả HĐDH của hiệu trưởng trường
THPT”; Luận văn Thạc sĩ của Trần Vũ Minh Hằng “Quản lý HĐDH ở Trung
tâm giáo dục thường xuyên huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc”,… Vì,


HĐDH là một hoạt động trung tâm chi phối các hoạt động giáo dục khác

- Khảo sát, đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động dạy học ở các
trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường
PTDTNT tỉnh Sóc Trăng và khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các
biện pháp đã đề xuất.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học ở các trường PTDTNT tỉnh Sóc Trăng.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý HĐDH ở các
trường PTDTNT tỉnh Sóc Trăng.
Phạm vi về đối tượng khảo sát: Lãnh đạo Sở GD&ĐT và cán bộ,
chuyên viên các phòng, ban chuyên môn thuộc Sở GD&ĐT; CBQL và GV
các trường PTDTNT tỉnh Sóc Trăng.
Các số liệu sử dụng để nghiên cứu từ năm 2010 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Đổi mới quản lý giáo dục nói chung, quản lý HĐDH trong nhà trường
nói riêng là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học ở các trường
PTDTNT tỉnh Sóc Trăng. Trong công tác quản lý nếu các chủ thể thường
xuyên giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các lực lượng liên quan;
tăng cường quản lý thực hiện chương trình, nội dung dạy học; đồng thời,
quan tâm tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên;
phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chuyên môn trong quản lý HĐDH; kết
hợp chặt chẽ công tác kiểm tra chuyên môn của giáo viên với quản lý hoạt
động học tập của học sinh và coi trọng quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị
dạy học thì chất lượng giáo dục ở các trường PTDTNT tỉnh Sóc Trăng sẽ nâng
cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.



- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên giá của các nhà khoa
học, nhà giáo có nhiều kinh nghiệm trong quản lý hoạt động dạy học ở các
trường PTDTNT.
- Phương pháp toán thống kê: Sử dụng các công thức toán để xử lý kết
quả khảo nghiệm, phân tích kết quả nghiên cứu và đánh giá mức độ tin cậy
của phương pháp điều tra.
7. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài này đã xây dựng các khái niệm công cụ, đặc điểm, nội dung và
những nhân tố tác động đến công tác quản lý HĐDH ở các trường PTDTNT
trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và làm sáng tỏ thực trạng vấn đề nghiên cứu.
Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp mang tính khả thi cao nhằm áp
dụng cho công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường PTDTNT tỉnh Sóc
Trăng trong thời gian tới đạt kết quả và hiệu quả cao nhất.
Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp quản
lý giáo dục ở các trường PTDTNT và các trường phổ thông trong toàn
tỉnh Sóc Trăng.
8. Kết cấu của đề tài
Luận văn có cấu trúc bao gồm: Phần mở đầu; phần nội dung: 3 chương
(8 tiết); kết luận và kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ
1.1. Các khái niệm công cụ của luận văn
1.1.1. Khái niệm hoạt động dạy học ở trường phổ thông dân tộc nội trú
HĐDH là hoạt động trung tâm chi phối các hoạt động giáo dục khác
trong nhà trường, là con đường thuận lợi nhất để học sinh lĩnh hội được tri
thức một cách có hệ thống; giúp học sinh phát triển tư duy, hình thành những

viên và hoạt động học của học sinh. Trong đó, hoạt động dạy của giáo viên
giữ vai trò chủ đạo, định hướng cho hoạt động học, hoạt động dạy thúc đẩy
học và làm cho hoạt động học thành công; hoạt động học giữ vai trò chủ
động, tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo.
Hoạt động dạy được hiểu, “đó là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế
hệ sau những kinh nghiệm mà xã hội đã sáng tạo và tích lũy được qua các thế
hệ”. “Hoạt động dạy là sự truyền thụ những tri thức khoa học, những kỹ năng
và phương pháp hành động” [34].
Mục đích của hoạt động dạy là giúp người học lĩnh hội nền văn hóa xã
hội, phát triển tâm lý, hình thành nhân cách. Bản thân người học không thể
biến năng lực của loài người thành năng lực của bản thân và nhất thiết người
học ở những mức độ khác nhau phải dựa vào sự giúp đỡ của người dạy. Như
vậy, người học lĩnh hội nền văn hóa xã hội một cách gián tiếp thông qua
người dạy. Sự giúp đỡ của người dạy để người học lĩnh hội nền văn hóa xã
hội, thúc đẩy sự phát triển tâm lý, tạo ra những cơ sở trọng yếu để hình thành
nhân cách của người học là mục đích của dạy học.
Thực chất, hoạt động dạy là quá trình người giáo viên truyền thụ tri thức,
kinh nghiệm cho người học, là hoạt động tổ chức điều khiển của GV đối với
hoạt động nhận thức của học sinh nhằm hình thành trong mỗi học sinh tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi. Đồng thời, hoạt động dạy của giáo viên còn
giữ vai trò tổ chức, lãnh đạo, điều khiển HĐDH, mọi hoạt động giảng dạy, tổ
chức, điều khiển của giáo viên đều nhằm mục đích duy nhất là thúc đẩy sự


nhận thức của người học. Vì vậy, người giáo viên phải nắm vững kiến thức một
cách khoa học và hệ thống, phải am hiểu và tinh thông kiến thức thực tiễn cùng
với việc sử dụng phương pháp giảng dạy hợp lý, khoa học.
Cùng với hoạt động học tập, hoạt động dạy là hoạt động trung tâm và
đặc trưng nhất ở trường phổ thông. Hoạt động dạy được tiến hành với mục
đích tổ chức - điều khiển nhằm tối ưu hóa hoạt động học, giúp người học

trong tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Hoạt động học có những
đặc điểm sau:
Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kỹ năng kỹ xảo tương
ứng với nó. Có thể nói cái đích mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân. Việc tái tạo
này sẽ không thể thực hiện được nếu người học chỉ là khách thể bị động của
những tác động sư phạm, nếu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ được truyền
cho người học theo cơ chế “máy phát” (người dạy), “máy bận” (người học).
Muốn học có kết quả người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập
bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình.
Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình. Thông
thường các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể (đối tượng của
hoạt động), trong khi đó hoạt động học lại làm cho chính chủ thể hoạt động
này thay đổi và phát triển. Như vậy, tri thức mà loài người đã tích lũy được là
đối tượng của hoạt động học. Nội dung của đối tượng này không hề thay đổi
sau khi nó bị chủ thể hoạt động học chiếm lĩnh. Chính nhờ có sự chiếm lĩnh
này mà tâm lý của chủ thể mới được thay đổi và phát triển. Người học càng
được giác ngộ sâu sắc mục đích này bao nhiêu thì sức mạnh vật chất và tinh
thần của họ ngày càng được huy động bấy nhiêu trong học tập và như vậy sự
thay đổi và phát triển tâm lý của chính họ ngày càng lớn lao và mạnh mẽ. Dĩ
nhiên, hoạt động học cũng có thể làm thay đổi khách thể. Tuy nhiên, việc làm
thay đổi khách thể như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học
mà chính là phương tiện không thể thiếu của hoạt động này nhằm đạt được
mục đích làm thay đổi chính chủ thể hoạt động. Chỉ có thông qua đó người
học mới dành được điều kiện khách quan để ngày càng tự hoàn thiện mình.


Quá trình học tập là quá trình nhận thức đặc biệt để tiến tới nắm vững
tri thức, bảo lưu trong trí nhỡ những chân lý sơ đẳng (sự kiện, quy tắc, số liệu,
những đặc trưng, những mối phụ thuộc, mối tương quan, những định nghĩa

bó mật thiết với nhau, phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của trường
PTDTNT, nhằm thực hiện mục tiêu, yêu cầu dạy học đã xác định.
Về vị trí, HĐDH ở Trường PTDTNT có vai trò quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi,
vùng dân tộc thiểu số.
Về nội dung dạy học, dạy học ở trường PTDTNT được thực hiện theo
mục tiêu, chương trình của các cấp học phổ thông tương ứng, có bổ sung kiến
thức về lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, văn hoá dân tộc thiểu số và địa phương.
Thực hiện giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông: dạy nghề ngắn
hạn, nghề truyền thống phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội góp
phần đào tạo cán bộ ở địa phương.
Về tổ chức hoạt động giáo dục học sinh, Trường PTDTNT thực hiện
các hoạt động lao động, văn hoá, thể thao như: lao động công ích; sinh hoạt
văn nghệ, thể dục thể thao; các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm; tham quan
du lịch; lễ hội, tết dân tộc; giao lưu văn hoá và các hoạt động xã hội khác
nhằm bảo tồn và phát huy bẳn sắc văn hoá các dân tộc, xoá bỏ các tập tục lạc
hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh.
Về chính sách, Trường PTDTNT được ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất,
thiết bị và ngân sách, lựa chọn bố trí cán bộ, GV, nhân viên để đảm bảo việc
nuôi, dạy học sinh.
Trường PTDTNT tổ chức bếp ăn tập thể đảm bảo dinh dưỡng theo
đúng chế độ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ học
sinh. Tổ chức các hoạt động tự học sau giờ lên lớp, lao động cải thiện điều
kiện sống; giáo dục học sinh tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, xây
dựng nếp sống văn minh cho học sinh.


1.1.2. Khái niệm quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông dân
tộc nội
Quản lý là một hiện tượng xã hội. Nó xuất hiện từ khi con người bắt

cao. Hoạt động quản lý tất yếu nảy sinh khi con người lao động tập thể và
cùng hướng tới mục tiêu chung.
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều
khiển, chỉ huy) một cách có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý trong một hệ thống, nhằm làm cho hệ thống này vận hành
đến mục tiêu mong muốn.
Chất lượng dạy học ở nhà trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
quản lý HĐDH có vai trò rất quan trọng. Quản lý HĐDH được phân thành các
hoạt động cơ bản, cụ thể là: quản lý HĐDH trên lớp và quản lý HĐDH ngoài
giờ lên lớp.
Cùng với hoạt động học tập, hoạt động dạy là hoạt động trung tâm và
đặc trưng nhất ở trường phổ thông. Hoạt động giảng dạy được tiến hành với
mục đích tổ chức - điều khiển nhằm tối ưu hóa hoạt động học, giúp người học
chiếm lĩnh tri thức khoa học và qua đó hình thành nhân cách.
Quản lý HĐDH ở nhà trường PTDTNT là loại hình quản lý xã hội
mang tính đặc thù; đó là những tác động của chủ thể quản lý vào HĐDH
(được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của
các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân
cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của trường PTDTNT.
Trường PTDTNT được tổ chức và hoạt động quy định của Điều lệ
trường trung học và các nhiệm vụ:
Tuyển sinh đúng đối tượng theo chỉ tiêu kế hoạch được giao hằng năm.


Giáo dục học sinh về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số và đường lối, chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước.
Giáo dục lao động và hướng nghiệp, giúp học sinh định hướng nghề
phù hợp với khả năng của bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương, giáo dục học sinh ý thức phục vụ quê hương sau khi tốt nghiệp.

tổ trưởng chuyên môn ở các trường PTDTNT. Đó là tổng thể những tác động
của chủ thể quản lý thông qua hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra đánh giá hoạt động giảng dạy của giáo viên nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
đã đề ra.
Ngoài ra, chủ thể gián tiếp quản lý HĐDH ở các trường PTDTNT là
CBQL các cơ quan chức năng thuộc Sở GD&ĐT.
Quản lý HĐDH chiếm phần lớn thời gian và công sức của các chủ thể
quản lý. Trong quá trình đó, các chủ thể quản lý chủ yếu tập trung vào quản lý
hoạt động dạy của GV và quản lý hoạt động học tập của học sinh.
Phương thức quản lý HĐDH ở trường PTDTNT được thực hiện bằng
nhiều cách thức, biện pháp khác nhau của các chủ thể quản lý nhằm tác động
đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm
cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp
với quy luật khách quan. Trong nhà trường, quản lý HĐDH được thực hiện
bằng những cách thức tổ chức, điều hành kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và
học của cán bộ, GV và học sinh nhằm đạt được kết quả cao nhất đề ra.
Trong giảng dạy và học tập, GV và học sinh tham gia vào rất nhiều mối
quan hệ xã hội. Do đó, quản lý HĐDH trong nhà trường phải đặt trong mối quan
hệ xã hội, thiết lập một sự liên kết tối ưu giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và
lợi ích xã hội. Để giáo viên thực hiện tốt vai trò dạy học của mình, CBQL các
nhà trường phải chú ý đến năng lực, phẩm chất, nhu cầu của giáo viên, tạo điều
kiện cho giáo viên phát huy khả năng bản thân với hiệu quả cao nhất.
1.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông dân
tộc nội trú
1.2.1. Quản lý thực hiện chương trình, nội dung dạy học


Chương trình dạy học là văn bản pháp lý do Bộ GD&ĐT ban hành,
là cơ sở để CBQL và giáo viên thực hiện trong năm. Ban Giám hiệu nhà
trường phải nắm vững quan điểm chỉ đạo của Bộ GD&ĐT trong việc thực
hiện chương trình, nội dung, tổ chức cho giáo viên thực hiện nghiêm túc,

tập của học sinh; sau khi xây dựng xong kế hoạch dạy học, tổ chuyên môn
góp ý, Ban Giám hiệu nhà trường nghiên cứu phê duyệt để thực hiện.
- Quản lý thời gian dạy học: Thời gian dạy học đã được Bộ GD&ĐT và
Sở GD&ĐT quy định trong tổng số thời gian của năm học, nhà trường không
được sử dụng thời gian dạy học của giáo viên vào những hoạt động khác, tạo
điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện dạy đúng, dạy đủ thời gian quy định.
- Quản lý thực hiện nội dung dạy học: Tập trung quản lý hệ thống hồ sơ
giáo án, sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài, sổ điểm, sổ dự giờ, thời khóa biểu; tăng
cường dự giờ thăm lớp, góp ý giờ dạy, kịp thời ngăn chặn những hiện tượng
cắt xén chương trình, nội dung; tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện;
phân tích góp ý giờ dạy theo hướng tiếp cận hệ thống, chú ý ưu điểm nhược
điểm và tìm hướng giải quyết cho từng bài cụ thể trong chương trình; khắc
phục tình trạng dự giờ hình thức, đánh giá giờ dạy chung chung thiếu tính
khách quan. Thông qua các hoạt động quản lý xem xét điều chỉnh những vấn
đề liên quan ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình, nội dung.
1.2.2. Quản lý việc phân công giảng dạy đối với giáo viên
Phân công giảng dạy cho giáo viên thực chất là công tác tổ chức và
công tác cán bộ, đồng thời là nội dung quản lý HĐDH ở các trường PTDTNT.
Do cơ cấu tổ chức ở trường PTDTNT có tính chất đặc thù, ngoài các tổ
chức theo quy định của Điều lệ trường trung học, trường PTDTNT cấp tỉnh
được thành lập thêm tổ Giáo vụ và Quản lý học sinh, tổ Quản trị và Đời sống;
trường PTDTNT cấp huyện được thành lập thêm tổ Quản lý nội trú để phục
vụ cho các hoạt động giáo dục của trường; vì vậy, phân công giảng dạy cho
giáo viên hợp lý là một việc rất quan trọng, sẽ mang lại kết quả to lớn, ngược
lại sẽ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp về tư tưởng, tình cảm và sẽ ảnh hưởng
không tốt đến các mặt hoạt động của nhà trường.
Trong quản lý phân công giảng dạy đối với giáo viên, CBQL cần quán
triệt quan điểm phân công giáo viên theo đúng khả năng, chuyên môn được




Nguồn đào tạo: Đội ngũ giáo viên khá đông và nguồn đào tạo rất đa
dạng, công tác bồi dưỡng thường xuyên chưa thật có hiệu quả. Vì vậy, nhiều
giáo viên còn lúng túng khi dạy theo chương trình mới. Trong việc phân công
giảng dạy cho giáo viên, CBQL cần thấy rõ điều này để tạo một bước chuẩn
bị cho giáo viên, giúp họ tiếp cận chương trình và giảng dạy tự tin hơn.
Hoàn cảnh gia đình và nguyện vọng cá nhân: Đây là nội dung cuối
cùng mà CBQL cần lưu ý. Tuy chuẩn này không lấn át các chuẩn trước,
nhưng CBQL cần xem xét từng trường hợp cụ thể để giải quyết hợp lý sao
cho tình nghĩa càng thêm ấm áp để từ đó bản thân người giáo viên được quan
tâm sẽ cố gắng nhiều hơn đối với công việc chung. Tất nhiên không được
quên việc thuyết phục, giải thích, động viên họ cùng chia sẻ khó khăn với mọi
người trong hoàn cảnh chung của nhà trường.
1.2.3. Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên
Trên cơ sở lý luận về quản lý và yêu cầu nhiệm vụ của trường
PTDTNT, quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên gồm các nội dung:
Quản lý soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp: Soạn bài là khâu quan trọng
chuẩn bị cho giờ lên lớp, là lao động sáng tạo thể hiện sự lựa chọn của giáo
viên về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; lựa chọn thiết bị dạy học
phù hợp nội dung bài dạy, đúng yêu cầu, sát đối tượng học sinh và phù hợp
điều kiện thực tế của nhà trường. Quản lý soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của
giáo viên cần tập trung:
Hướng dẫn giáo viên kế hoạch soạn bài, dựa trên những yêu cầu, quy
định chung, đảm bảo sự thống nhất về nội dung, hình thức với tính chất chỉ
dẫn, không khuôn mẫu.
Tổ chức thảo luận, thống nhất nội dung và hình thức, trao đổi kinh
nghiệm soạn bài. Hiệu trưởng cùng phó hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra,
theo dõi việc soạn bài của giáo viên thông qua nghiên cứu kiểm tra hồ sơ,
giáo án, phiếu báo giảng.
Để đảm bảo các điều kiện phục vụ cho giờ dạy trên lớp của giáo viên,

nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương tiện tiên
tiến và các phương tiện hiện đại vào HĐDH” [6].


Định hướng trên được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục: “Phương
pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo
của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê
học tập và ý chí vươn lên” [10, Điều 5.2]. Xu hướng dạy học ngày nay là đề
cao vai trò người học: “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “phát huy
tính tích cực của học sinh”. PPDH tích cực là dạy học phát huy tính chủ động
sáng tạo, là cách dạy hướng tới việc học chủ động, dạy tích cực chống thói
quen thụ động trong quá trình học tập của học sinh.
PPDH tích cực, giáo viên dạy cho học sinh biết cách tự học, không chỉ
là biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu của HĐDH. Xã
hội hiện đại với sự phát triển công nghệ thông tin nhanh, giáo viên không thể
truyền thụ cho học sinh toàn bộ khối lượng kiến thức hiện có, mà phải dạy
cho học sinh cách học, rèn luyện cho học sinh kỹ năng, ý chí tự học, tạo cho
học sinh lòng ham học, phát huy khả năng vốn có trong mỗi học sinh.
Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học: Trên cơ sở quy
định của Bộ GD&ĐT, Ban Giám hiệu nhà trường định hướng cho tổ chuyên
môn và giáo viên xác định nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới
PPDH, phù hợp với từng bài học, môn học trong chương trình.
Có kế hoạch đầu tư mua sắm các thiết bị công nghệ thông tin phục vụ
HĐDH, chú trọng những thiết bị hiện đại, tránh lãng phí trong mua sắm. Ban
Giám hiệu lựa chọn cử những giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ tiếp thu
chuyển giao công nghệ, tham dự lớp tập huấn về ứng dụng công nghệ thông tin;
tổ chức hội nghị, hội thảo lấy ý kiến đội ngũ CBQL và giáo viên về tính hiệu quả
của công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý dạy học. Thường xuyên kiểm
tra, đánh giá việc sử dụng và khai thác thế mạnh của công nghệ thông tin cũng
như phần mềm hỗ trợ quản lý; đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status