1
B GIO DC V O TO
HC VIN QUN Lí GIO DC
PHM TH PHNG
QUảN Lý GIáO DụC Kỹ NĂNG SốNG
CHO HọC SINH CủA CáC TRƯờNG TRUNG HọC CƠ Sở
TạI QUậN HOàNG MAI - Hà NộI
Chuyờn ngnh: Qun lý Giỏo dc
Mó s: 60140101
LUN VN THC S QUN Lí GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. TRN TH MINH HNG
H NI - 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc nhất tới cô giáo - PGS.TS Trần Thị Minh Hằng đã tận tình trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo Học viện Quản lý giáo dục,
phòng đào tạo và tập thể thầy cô giáo Học viện Quản lý giáo dục đã trực tiếp
giảng dạy, giúp đỡ và cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên
phòng GD&ĐT quận Hoàng Mai; Ban giám hiệu, cán bộ GV, CMHS một số
trường THCS quận Hoàng Mai đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ, cung cấp cho
tôi những số liệu, thông tin, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn sự động viên giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và ban giám
hiệu trường THCS Quốc tế Thăng Long đối với bản thân tôi.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song những thiếu sót của luận văn là khó
tránh khỏi. Tôi rất mong nhận được sự quan tâm góp ý các thầy cô giáo và các
bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Con người ngoài là một thực thể sinh lý còn là một thực thể mang bản
chất tâm lý - xã hội bao gồm những phẩm chất, những thuộc tính tâm lý có ý
nghĩa xã hội được hình thành do kết quả tác động qua lại giữa họ với nhau,
giữa họ với các sự vật, hiện tượng xung quanh trong từng hoạt động. Con
người càng hoạt động thì càng có cơ hội khám phá, hiểu biết và phát triển. Vì
thế, họ cần phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ để có thể giúp họ tự kiểm
soát được hành vi của bản thân và kiểm soát được môi trường xung quanh
một cách thành công. Nói cách khác, để sống tốt và hoạt động hiệu quả, con
người cần phải có những KNS. KNS có thể được hình thành một cách tự
nhiên qua trải nghiệm hoặc có thể thông qua giáo dục - học tập, rèn luyện.
Việc GDKNS ở trường học sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính
xã hội tích cực cho người học; đồng thời tạo những tác động tốt đối với các
mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa các HS, bạn bè với nhau; giúp tạo nên sự
hứng thú học tập cho trẻ đồng thời giúp hoàn thành nhiệm vụ của người GV
một cách đầy đủ hơn và đề cao các chuẩn mực đạo đức, góp phần nâng cao vị
trí của nhà trường trong xã hội. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng
với sự mở cửa, hội nhập quốc tế về quan hệ kinh tế, giao lưu văn hóa,… của
đất nước một số thanh thiếu niên HSTHCS thiếu hiểu biết về thực tế cuộc
sống, chưa được rèn dạy KNS, có khi lại sớm phải tự mình đương đầu với
nhiều vấn đề tâm lý xã hội phức tạp, đã bị lôi cuốn vào lối sống thực dụng,
đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không"với cái xấu.
Trong giai đoạn phát triển của con người thì lứa tuổi thiếu niên tức lứa
tuổi HSTHCS (từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 thậm chí 16, 17 tuổi nếu trẻ học trễ)
là lứa tuổi đang ở thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động nhất
nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành
7
8
sau này của trẻ. Các em cần được quan tâm giáo dục, rèn luyện nhiều hơn
những kỹ năng cần thiết trong học tập, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí,
ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống.
Mai, Hà Nội (THCS Đền Lừ, THCS Tân Mai, THCS Tân Định, THCS Mai
Động, THCS Quốc tế Thăng Long, THCS Yên Sở).
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình giáo dục KNS cho HSTHCS.
4. Giả thuyết khoa học
Việc tổ chức hoạt động GDKNS cho HS các trường THCS tại Quận
Hoàng Mai, Hà Nội đã đạt được những hiệu quả nhất định song vẫn còn bộc
lộ một số hạn chế. Nếu có các biện pháp quản lý phù hợp thì kết quả GDKNS
cho HSTHCS sẽ hiệu quả hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý GDKNS cho HS trường
THCS
5.2. Nghiên cứu thực trạng quản lý GDKNS cho HS trường THCS
Quận Hoàng Mai, Hà Nội
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý GDKNS cho HS trường THCS
Quận Hoàng Mai, Hà Nội
6. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng.
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ, sách, tạp chí, công trình nghiên cứu để
hình thành cơ sở lý luận cho đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp điều tra thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu: Xây dựng mẫu phiếu điều tra dành cho
9
10
CBQL, GV về thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động GDKNS ở các trường.
Phương pháp phỏng vấn: trò chuyện với CBQL, GV, CMHS , HS.
Phương pháp quan sát: Tiến hành tham quan, dự hoạt động ngoài giờ
lên lớp, sinh hoạt lớp, dự giờ đạo đức.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
kỹ năng đóng vai trò then chốt. Chính thái độ tích cực, năng động, dấn thân,
và những kỹ năng cần thiết trong học tập và làm việc, trong quan hệ giao tiếp,
trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống đã chủ yếu
giúp cho người học tự tin để vững bước tới một tương lai có định hướng.
Riêng về GDKNS tuy chỉ mới xuất hiện từ những năm 1990 của thế kỷ trước
song đã nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới. Và có nơi, GDKNS không chỉ
là một sinh hoạt ngoại khóa mà còn là một môn học chính qui ở nhà trường.
Ở Việt Nam, dù GDKNS được du nhập vào ngay sau đó nhưng triết lý
và phương pháp GDKNS ít nhiều hãy còn lạ lẫm đối với xã hội ta nên chưa
được sự quan tâm đúng mức. Hơn nữa, giáo dục tại Việt Nam nhìn chung còn
kém phát triển. Ngoại trừ một số rất ít các trung tâm giáo dục phi chính quy
như Trung tâm ABS Training, Công ty Tâm Việt, Công ty bảo hiểm nhân thọ
Dai - ichi Việt Nam phối hợp với Báo Người lao động,, Trung tâm học tập
cộng đồng ở một số địa phương hay một số trường giáo dục trẻ khuyết tật,
một số ít trường tiểu học trọng điểm ở Hà Nội, có các chương GDKNS. Còn
lại, các trường phổ thông nhất là các trường từ bậc THCS trở lên chưa quan
tâm nhiều cũng như chưa tạo ra được môi trường học tập trang bị đầy đủ KNS
cho thanh thiếu niên HS. Cho nên giới trẻ Việt Nam nhìn chung còn kém so
với thanh thiếu niên tại các nước phát triển. Trong khi đó, bản lĩnh sống của
thanh thiếu niên trong xã hội ngày càng chuyên môn hoá cao như xã hội Việt
11
12
Nam hiện nay không thể thiếu được và cần phải được nâng cao hơn ở hai
mảng kỹ năng đó là kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm mà có thể gọi
chung là những kỹ năng cuộc sống.
Kể từ năm học 2008 - 2009, Bộ GD - ĐT nước ta đã phát động trong
các trường phổ thông trên toàn quốc phong trào "Xây dựng trường học thân
thiện, HS tích cực"nhằm mang lại cho HS cả nước một "môi trường giáo dục
an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu
cầu xã hội". Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và
chức”. [19,trang 34 ].
Còn theo Nguyễn Ngọc Quang (1989), nhà sư phạm, người góp phần
đổi mới lý luận dạy học, đã nêu về khái niệm quản lý trong tập bài giảng
“Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục"như sau: “Quản lý là sự tác
động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người
lao động gọi chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện các hoạt động để đạt
được mục tiêu dự kiến”. [24, trang 24 ].
Trần Kiểm (1997), trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường
học"dùng cho học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học đã viết: “Quản lý
là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân
biến thành những thành tựu của xã hội”. [18, trang 15 ].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989), trong tác phẩm của mình đã nêu:
“Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý
đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục
đích nhất định”. [24, trang 125].
Tác giả Nguyễn Bá Sơn (2000), trong tác phẩm “Một số vấn đề cơ bản
về khoa học quản lý" đã viết: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể
những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình
13
14
lao động”. [25, trang 245].
Như vậy, có thể nói: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý
trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các
nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội
lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.
Tóm lại, quản lý là một khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích về công
việc quản lý, các quan hệ quản lý trong các tổ chức. Nó tổng quát hóa các
kinh nghiệm tốt thành các nguyên tắc và lý thuyết áp dụng cho mọi hình thức
quản lý tương tự. Nó cung cấp khái niệm cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên
cứu các môn học về quản lý.
xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên
tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều
kiện cho sự phát triển của đối tượng”. [20, trang 85].
Như vậy, quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác
động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động
sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu
quả nhất. Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có sự tác
động của người đến người. Đó là sự tác động qua lại tạo thành một loại quan
hệ xã hội đặc biệt là quan hệ quản lý.
Tóm lại, quản lý giáo dục là một loại lao động điều khiển lao động.
Quản lý giáo dục trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục là quản lý sự hình thành và phát
triển nhân cách.
Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý.
Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã
15
16
đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 5 chức năng cơ bản của quản
lý, đó là:
* Kế hoạch hóa tức là lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch hoạt động.
* Tổ chức gồm tổ chức triển khai hoạt động, tổ chức nhân sự, phân
công trách nhiệm trong thực hiện kế hoạch hoạt động.
* Kích thích nghĩa là khuyến khích, tạo động cơ hoạt động.
* Kiểm tra gồm theo dõi thực hiện, kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân
tích quá trình thực hiện.
* Và Điều phối nghĩa là phối hợp, điều chỉnh công tác.
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý nêu trên tạo nên nội dung của quá
trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và
là cơ sở để phân công lao động quản lý. Vậy: “Quản lý giáo dục là quá trình
của bản thân. Kỹ năng chính là công cụ để gia tăng giá trị cho kiến thức của
bản thân.
1.2.6. Kỹ năng sống
Theo nhóm biên soạn tài liệu GDKNS của Vụ giáo dục thể chất mà chủ
biên là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì: “Kỹ năng sống là khả năng có được những
hành vi thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả
các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày"[9, trang 67].
Định nghĩa vừa nêu trên cũng trùng lặp với định nghĩa về kỹ năng sống
của Tổ chức Y tế thế giới WHO: “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và
những hành vi tích cực để cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả những yêu cầu và
thách thức của cuộc sống hàng ngày”. [8, trang 97]
Như vậy, KNS khuyến khích thái độ tích cực, phòng ngừa và giảm
thiểu các hành vi nguy cơ. Nó giúp con người phát huy sức mạnh nội lực để
có thể làm chủ được cuộc sống của mình và sống khỏe mạnh, hạnh phúc, có
17
18
mục đích, có ý nghĩa.
Còn theo UNICEF: “Kỹ năng sống là tập hợp nhiều kỹ năng tâm lý xã
hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ
sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý
bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Từ kỹ
năng sống có thể được thể hiện thành những hành động cá nhân và những
hành động đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn
đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên
lành mạnh”. [6, trang 186].
Tóm lại :KNS là năng lực cá nhân mà con người có được thông qua
giáo dục hoặc kinh nghiệm trực tiếp, nó giúp cho con người có cách ứng xử
tích cực và có hiệu quả đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống khỏe
mạnh, an toàn hơn.
Trong luận văn này, kĩ năng sống được hiểu là các kĩ năng mang tính
UNICEF, UNESCO cũng quan niệm rằng GD KNS không phải lĩnh vực hay
môn học nhưng đuợc áp dụng lồng vào những kiến thức, giá trị và kĩ năng
quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời.
Ở một số quốc gia, GD KNS được lồng ghép vào các môn học, các chủ
đề. Chẳng hạn:
- Chủ đề: Phòng tránh ma tuý, phòng tránh và ứng phó với tình huống
căng thăng, phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em, bệnh lây qua đường tình
dục, phòng chống thuốc lá, rượu bia vv…
Tóm lại: Giáo dục kĩ năng sống là quá trình hình thành, rèn luyện hoặc
thay đổi các hành vi của học sinh theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu
phát triển toàn diện nhân cách người học, dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri
thức,giá trị,thái độ kỹ năng phù hợp đáp ứng được những yêu cầu của cuộc
sống hiện đại.
19
20
1.3. Trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí, vai trò của trường THCS
Điều lệ trường THCS đã quy định tại điều 2 chương 1 về vị trí của
trường THCS như sau: “Trường THCS là cơ sở giáo dục của bậc THCS, bậc
học tiếp theo của bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường
THCS có tư cách pháp nhân và có con đấu riêng”[ Luật giáo dục].
Đây là bậc học bắt buộc với mọi trẻ em bằng phương pháp nhà trường
(bao gồm cả nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục). Nơi tổ chức một cách
tự giác hoạt động học tập với tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em; nơi
diễn ra cuộc sống thực của trẻ em và nơi tạo cho trẻ em có nhiều hạnh phúc.
1.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS
Điều 58: Luật giáo dục 2009 quy định nhà trường có nhiệm vụ và
quyền hạn sau đây
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo
mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ
7. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật;
Theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ trường THCS nói trên, có
thể phân định các nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS thành 2 nhóm
chủ yếu sau:
Nhóm 1: Tổ chức các hoạt động giáo dục và đăc biệt là hoạt động dạy học
theo đúng nội dung, chương trình GDTHCS đã được Bộ GD&ĐT quy định.
Nhóm 2: Thực hiện các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiện
cho hoạt động giáo dục và dạy học nói trên. Cụ thể:
21
22
- Thực hiện đúng các quy định của luật pháp, chính sách, cơ chế quản
lý, các điều lệ và quy chế của ngành trong việc thực hiện các hoạt động giáo
dục và dạy học.
- Thiết lập bộ máy tổ chức của nhà trường và điều hành đội ngũ CBQL,
GV, nhân viên và HSTHCS thực hiện có hiệu quả các hoạt động giáo dục và
dạy học theo tinh thần đổi mới nột dung, chương trình và sách giáo khoa mới.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả kinh phí, cơ sở vật chất và thiết bị
giáo dục để phục vụ cho hoạt động giáo dục và dạy học.
- Xây dựng môi trường giáo dục thuận lợi và giảm thiểu tối đa các tác
động bất thuận của môi trường tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng tới hoạt động
giáo dục và dạy học.
Qua phân tích trên, năng lực của CBQL trường THCS phải được thể
hiện qua việc quản lý có hiệu quả các nhiệm vụ và thực hiện đúng các quyền
hạn nêu trên.
1.4. Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi của HSTHCS
Lứa tuổi THCS từ lớp 6 đến lớp 9 (còn gọi là lứa tuổi thiếu niên) là giai
đoạn phát triển của trẻ từ 11 đến 15, 16 tuổi. Lứa tuổi này có một vị trí đặc
biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em vì nó là thời kỳ
chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những
tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”,
thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như:
dũng cảm, tự chủ, độc lập, e ấp, dịu dàng, … không còn quan hệ với bạn khác
phái như trẻ con.
Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở,
phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của
nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi
thanh niên.
23
24
Hiểu rõ vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên sẽ giúp
ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện.
1.5. Nội dung quản lý hoạt động GDKNS cho HSTHCS
1.5.1. Xây dựng kế hoạch GDKNS cho HSTHCS
Việc xây dựng kế hoạch GDKNS cho HS là việc làm quan trọng, cần
thiết trong công tác quản lý giáo dục. Đây là một quá trình xác định những
mục tiêu và các biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó.
Việc xây dựng kế hoạch GDKNS cho HS giúp người quản lý tư duy
một cách có hệ thống để tiên liệu các tình huống có thể xảy ra, phối hợp mọi
nguồn lực trong và ngoài nhà trường để tổ chức việc GDKNS cho HS có hiệu
quả hơn, tập trung vào các mục tiêu và chính sách của Đảng, Nhà nước và của
nghành giáo dục trong việc GDKNS cho HS, nắm vững các nhiệm vụ cơ bản
của nhà trường trong việc GDKNS cho HS để phối hợp với các cán bộ, GV,
nhân viên khác, sẵn sàng ứng phó với những thay đổi của môi trường, phát
triển hữu hiệu các tiêu chuẩn kiểm tra.
Khi lập kế hoạch quản lý GDKNS cho HS, người CBQL cần lưu ý:
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GDKNS với mục tiêu giáo dục
đạo đức trong nhà trường.
- Nắm vững thực trạng KNS của HS và công tác giáo dục đạo đức trong
nhà trường.
- Phối hợp chặt chẽ, hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp và hoạt động
quản lý của Ban đức dục, kiểm tra qua các bài thi, kiểm tra qua quan sát, tự
kiểm tra đánh giá của đội sao đỏ, đội tự quản của HS, kiểm tra qua các tiêu
chuẩn, tiêu chí cụ thể của từng hoạt động, kiểm tra qua các tình huống.
Đánh giá: Đánh giá thi đua, khen thưởng theo nhiều mức độ khác nhau,
xếp loại đạo đức.
Rút kinh nghiệm, tìm ra phương pháp quản lý tốt, chưa tốt, bổ sung,
điều chỉnh kế hoạch quản lý GDKNS cho HS ở những năm sau.
25