Một số giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 33

21

MỞ ĐÀU
Bên cạnh đó, góp1. phần
caotài vai trò GD của nhà trường trong xã hội nói
Lý donâng
chọn đề
riêng và nâng cao vị thế quốc gia trên toàn thê giới nói chung.
Theo các nhà xã hội học, con người là một thực thế bao gồm những
thuộc tính tự nhiên và xã hội, mang bản chất tâm lý xã hội. Trong quá trình
Tuycủa
nhiên,
năm chịu
gần đây,
cửa,
nhập
hoạt động
mình,trong
con những
người luôn
sự táccùng
độngvới
quasựlạimởgiữa
tự hội
nhiên

quốc
tế
về
quan
hệ

tất niên,
yếu,
HS
cấp
THCS
(THCS)
đang

nhiều
biền
đổi
phức
tạp
về
tâm
sinh

chính nó làm cho thế giới thay đổi và không gì có thể thay đổi sự thayđồng
đổi
thờiCon
cũngngười
là thời
chuẩn
nhất
trưởng
đó.
luônkỳsống
với bịsựquan
thay trọng
đổi. Vì

một
cách
đầy
đủ;

khi
do
hoàn
tại, giúp họ tự kiểm soát được hành vi của bản thân và kiểm soát đượccảnh,
môi
một số xung
em sớm
phải Nói
tự mình
đầu sống
với nhiều
đề động
tâm lýhiệu
xã hội
trường
quanh.
cách đương
khác, để
tốt vàvấn
hoạt
quả,phức
con
tạp,
đã
bị

nhiềudụchơn
những
kỹ rèn
năng
cần thiết trong học tập, trong quan hệ giao tiếp,
giáo
(GD),
học tập,
luyện.
trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống.
Trong lịch sử xã hội loài người, sự phát triển của các nền khoa học,
công nghệ
mặttriển
đang
là nay,
sự khẳng
của không
nhân phải
loại,
Trongđến
xu chóng
thế phát
hiện
vấn đềđịnh
GD văn
KNSminh
cho HS
đồng thời cũng là những thử thách lớn về khả năng thích ứng của cá nhân con
là mới.nhất
Tuy lànhiên,để

trường học sẽ giúp thúc đấy những hành vi mang tính xã hội tích cực cho
người
học;
những
đến việc
GDtrang
KNS bị
hiện
nay làkỹ
cấpnăng
bách.cần thiết, các chuẩn mực đạo đức, các giá
trị văn hóa tốt đẹp đồng thời thiết lập và tạo những tác động tốt đối với các
mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa các học sinh (HS), bạn bè với nhau, giữa
tính cấp
của
Bộ trưởng
Bộ GD
và Đào tạo
cá nhân Nhận
các emthức
với người
thânbách
trong
giavấn
đìnhđềvàtrên,
với cộng
đồng ngoài
xã hội.
(BGD&ĐT) ra chỉ thị 40/2008/ CT - BGDĐT ngày 22/7/2008 về việc phát
động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong

5.2. Nghiên cứu thực trạng KNS và QL công tác GD KNS cho HS ở các
trường THCS Quận 2, Tp Hồ Chí Minh.


4

6. Phạm vi nghiên cún
Đề tài tập trung nghiên cứu một số giải pháp QL công tác GD KNS cho
HS ở 04 trên 07 truờng của Quận 2 : Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi,
Trường THCS Lương Định Của, Trường THCS Bình An, Trường THCS
Thạnh Mỹ Lợi.
7. Các phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ, sách, tạp chí, công trình nghiên cứu đê
xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu sản phâm
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Lập bảng biểu, thống kê, phân tích, xử lý các số liệu của đề tài, giúp
đánh giá vấn đề chính xác, khoa học.
8. Đóng góp của luận văn
-

Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng sống, quản lý giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh THCS.

-


lĩnh vực hoạt động khác nhau như kỹ năng lao động gắn vói những tên
tuổi các nhà tâm lý - giáo dục như V.V.Tseburseva, Trần Trọng Thuỷ,
kỹ năng học tập gắn với G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia, Hà Thị Đức, Kỹ
năng hoạt động sự phạm gắn với tên tuổi X.I.Kixegops, Nguyễn Như An,
Nguyễn Vãn Hộ.
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, tố chức UNESCO đã vạch rõ
ba thành tố của học vấn, đó là : kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái
độ và kỹ năng đóng vai trò then chốt. Chính thái độ tích cực, năng động,
dấn thân,... và những kỹ năng cần thiết trong học tập và làm việc, trong
quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách
của cuộc sống đã chủ yếu giúp cho người học tự tin đế vững bước tới một
tương lai có định hướng.
Riêng về GD KNS tuy chỉ mới xuất hiện từ những năm 1990 của thế
kỷ trước song đã nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới. Và có nơi, GD


7

KNS

không

chỉ



một

sinh


ơ Campuchia, GD KNS được xem xét dưới góc độ năng lực sống của con
người, kỹ năng làm việc vỉ vậy GD KNS được triển khai theo hướng là GD các
kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng nghề
nghiệp.
Ở Malaysia, GD KNS được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ
năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, KN
gia đình.

s

trong đời sống

ơ Bangladesh, GDKNS được khai thác dưới góc độ các kỹ năng hoạt
động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuấn bị cho tương lai.
Ở Án Độ, GD KNS cho HS được xem xét dưới góc độ giúp cho con
người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển
năng lực người. Các KNS được khai thác GD là các kỹ năng: Giải quyết vấn
đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ
liên nhân cách vv...
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến nhiều từ chương trình
của ƯNICEF (1996) “GD KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống


8

HIV/AIDS

cho

thanh niên trong và ngoài nhà trường”. Khái niệm KNS được

trên địa bàn Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh thì chưa có đề tài nào nghiên
cứu.
Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Kỹ năng

Kỹ năng là một vấn đề đa dạng và phức tạp. Do vậy, có nhiều quan
diêm khác nhau, cụ thể như sau:
Theo nhà tâm lý học Liên Xô L. Đ. Lê vi tô

V

cho rằng: “Kỹ năng là

sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp
hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến
những điều kiện nhất định”. Theo ông, người có kỹ năng hành động là
người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động
nhằm thực hiện hành động có kết quả. Con người có kỹ năng không chỉ
nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế.
Theo A.Ư.Pêtrôpxki, “Kĩ năng là sự vận dụng tri thức đã có để lựa
chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích
đặt ra”.
Theo P.ARuđic: “Kỹ năng là động tác mà cơ sở của nó là sự vận
dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt kết quả trong một hình
thức vận động cụ thể”.
Theo K.K.Platônôp: “Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện
một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh


10

đạt được mục đích đề ra.
1.2.2.

Kỹ năng sống

KNS là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua
giảng dạy hoặc kinh nghiêm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề,
tình huống thường gặp trong cuộc sống hằng ngày của con người. Quan
niệm về KNS, các tổ chức và các nhà nghiên cứu có rất nhiều quan niệm khác
nhau, một số tổ chức quốc tế đã định nghĩa khái niệm KNS như sau:
- Theo WHO, “Năng lực tâm lý xã hội là khả năng ímg phó một cách có
hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng là khả


11

năng của một cá nhân đế duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần,
biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác,
với nền văn hóa và môi trường xung quanh. KNS là khả năng thể hiện, thực
thi năng lực tâm lý xã hội này” [38, 17]
- Theo ƯNICEF, KNS là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp
cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một
cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và QL bản thân nhằm giúp
họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Từ KNS có thể thể hiện
thành những hành động cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến
hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm
thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh.
-Theo một số tác giả phản biện giữa những kỹ năng đê sống còn thì KNS là
năng lực tâm lý xã hội đê đáp ứng và đối phó những yêu cầu thách thức của
cuộc sống hàng ngày, mà đặc biệt tuổi trẻ rất cần để vào đời.

cách thích hợp, chắc chắn với từng điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa khác
nhau.

1.2.3.

Giáo dục ky năng sống ( GD KNS)

Theo nội dung cuộc hợp liên ngành của LHQ, Geneve, 7-4-1998, “GD KNS
được thiết kế nhằm hỗ trợ và củng cố việc thực thi các kỹ năng tâm lý xã hội
một cách phù hợp với nền văn hóa và sự phát triên của cá nhân và xã hội,
việc phòng chống các vấn đề xã hội và sức khỏe, và sự phát triển của quyền
con người.” [38, 17]
1.2.4.

Quản lý, quản lý giáo dục

1.2.4.1.

Quản lý

QL là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đên đối
tượng QLnhằm đạt được mục tiêu đề ra. [38, 17]
Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, QL đã nêu ra: "QL là một quá
trình công tác gây ảnh hưởng của chủ thế QLđến khách thê QLnhằm đạt được
mục tiêu chung... QL là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua


13

việc

Theo nghĩa trên, giải pháp được hiểu là những cách thức tác động
nhằm thay đối chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất
định đế đạt được mục đích hoạt động.
Giải pháp phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn. Khi các giải
pháp đưa ra càng khoa học, càng phù hợp với thực tiễn và khả thi thì càng
giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra một cách hiệu
quả.
1.2.5.2.

Giải pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Giải pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động của chủ thể quản
lý đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý đẻ đạt được các mục tiêu đã
đặt ra.
Giải pháp QL công tác GD KNS cho học sinh THCS là cách thức tác
động của chủ thể quản lý đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường để đạt được mục tiêu GD KNS, góp phần nâng cao hiệu quả GD toàn
diện cho học sinh THCS.
1.3. Một số vấn đề về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
1.3.1.

Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung

hoc

GD KNS là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến HS
nhằm giúp các em có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác,
hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá
nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người
chung quanh và cúa cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi HS

chung và lứa tuổi dậy thì nói riêng, khi các em bước vào giai đoạn khủng
hoảng lứa tuổi quan trọng của cuộc đời. Các em càng cần được trang bị KNS
đế định hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất.


lố

Hiện nay, cả nước ta có khoảng 18 triệu HS, GD KNS trong trường
học góp phần rèn luyện, hình thành cho HS sống có trách nhiệm hon và biết
lựa chọn cách ứng xử phù họp, ứng phó các sức ép, thách thức trong cuộc
sống; thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt tỷ lệ phạm pháp. GD KNS
còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy, trò, sự hứng thú tự tin, chủ
động sáng tạo trong học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả GD. HS được GD
KNS xác định được bốn phận và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình
và xã hội.

1.3.2.

Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở

Với ý nghĩa KNS là những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội
cần thiết đối với thanh thiếu niên giúp họ có khả năng học tập tốt hơn,
ứng xử một cách tự tin đồng thời là một phương sách để hoàn thiện bản
thân mình trước mọi người và cộng đồng thì KNS cần thiết cho HS THCS.
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng GD KNS ở Việt
Nam những năm qua, nội dung GD KNS cho HS THCS gồm các nhóm kỹ
năng chính sau đây cần được giảng dạy và tổ chức cho các em thực hành :
1.3.2.1.

Nhóm kỹ năng nhận biết và sống vói chính mình:

sàng đón nhận những tình huống căng thăng như là một phần tất yếu của cuộc
sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả
của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực
khi bị căng thắng.
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng rất quan trọng, giúp cho con người:
-

Biết suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi căng thẳng.

-

Duy trì được trạng thái cân bằng, không làm tốn hại sức khoẻ thê chất
và tinh thần của bản thân.


18

- Xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp, không làm ảnh hưởng đến
người xung quanh.
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng có được nhờ sự kết hợp của các KNS
khác như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xử lí cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, tư
duy sáng tạo, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ và kỹ năng giải quyết vấn đề.
* Kỹ năng quản lí thời gian:
Kỹ năng quản lí thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công
việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm
trong một thời gian nhất định.
Quản lí thời gian là một trong những kỹ năng quan trọng trong nhóm
kỹ năng làm chủ bản thân. Quản lí thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào
sự thành công của cá nhân và của nhóm.
1.3.2.2.

Người có kỹ năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôn trọng
và quan tâm đến ý kiến của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp,
thương lượng và hợp tác của họ hiệu quả hơn. Lắng nghe tích cực cũng góp
phần giải quyết mâu thuẫn một cách hài hoà và xây dựng.
Kỹ năng lắng nghe tích cực có quan hệ mật thiết với các kỹ năng giao
tiếp, thương lượng, hợp tác, kiềm chế cảm xúc và giải quyết mâu thuẫn. [8,18]
* Kỹ năng thể hiện sự cảm thông:
Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả
giao tiếp và ứng xử với người khác; cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã
hội, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đa văn hoá, đa sắc tộc. Kỹ năng thể hiện sự
cảm thông cũng giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện,
gần gũi với những người cần sự giúp đỡ.
Kỹ năng thế hiện sự cảm thông được dựa trên kỹ năng tự nhận thức và
kỹ năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kỹ năng giao tiếp,
giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế
cảm xúc. [8,18]
* Kỹ năng thương lượng
Kỹ năng thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của kỹ năng giao tiếp như
lắng nghe, bày tỏ suy nghĩ và một phần quan trọng của giải quyết vấn đề và
giải quyết mâu thuẫn. Một người có kỹ năng thương lượng tốt sẽ giúp giải


20

quyết vấn đề hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn một cách xây dựng và có lợi cho
tất cả các bên.
Kỹ năng thirơng lượng có liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự
cảm thông, tư duy sáng tạo, kỹ năng hợp tác và khả năng thoả hiệp những vấn
đề không có tính nguyên tắc của bản thân. [8,18]
* Kỹ năng giải quyầ mâu thuẫn:

bản thân, đồng thời phải kết hợp tốt với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng thế
hiện sự tự tin và kỹ năng giao tiếp. [8,24]
* Kỹ năng đảm nhận trảcli nhiệm:
Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ
động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm.
Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của
bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết đế hoàn thành nhiệm
vụ.
Khi các thành viên trong nhóm có kỹ năng đảm nhận trách nhiệm sẽ
tạo được một không khí hợp tác tích cực và xây dựng trong nhóm, giúp giải
quyết vấn đề, đạt được mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo sự thoả
mãn và thăng tiến cho mỗi thành viên.
Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm có hên quan đến kỹ năng tự nhận thức,
kỹ năng thể hiện sự cảm thông, kỹ năng hợp tác và kỹ năng giải quyết vấn

1.3.2.3.
*

Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả :

Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ:

Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thẻ nhận được
những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề,
tình huống của mình; đồng thời là cơ hội để chúng ta chia sẻ, giãi bày khó
khăn, giảm bứt được căng thắng tâm lí do bị dồn nén cảm xúc; biết tìm kiếm


22


và khả năng suy nghĩ rộng; tư duy minh mẫn và khác biệt.
Khi một người biết kết hợp tốt giữa kỹ năng tư duy phê phán và tư duy
sáng tạo thì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và sẽ giúp
ích rất nhiêu cho bản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và
phù hợp nhất. [8,22]
* Kỹ năng ra quyết định:


23

Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa
chọn phương án tối ưu đê giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong
cuộc sống một cách kịp thời.
Kỹ nãng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp cho con
người có được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong
cuộc sống. Ngược lại, nếu không có kỹ năng ra quyết định, con người ta có
thể có những quyết định sai lầm hoặc chậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến
các mối quan hệ, đến công việc và tương lai cuộc sống của bản thân; đồng
thời còn có thể làm ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có hên
quan.
Để ra được quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp với những KNS
khác như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định giá trị, kỹ' năng thu thập
thông tin, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tư duy sáng tạo,...
Kỹ năng ra quyết định là phần rất quan trọng của kỹ năng giải quyết
vấn đề. [8,22]
* Kỹ năng giải quyầ vẩn đề:
Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa
chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết
vấn để hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống; giúp con người có thể ứng
phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống của cuộc sống. Giải

tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.
Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin cần kết hợp với kỹ năng tư duy
phê phán và kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ.
Một số lưu ỷ:
Nội dung GD KNS cho HS trong nhà trường phố thông tập trung vào
các kỹ năng tâm lí - xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình
huống hàng ngày đế tương tác với người khác và giải quyết có hiệu quả
những vấn đề, những tình huống của cuộc sống. Việc hình thành những kỹ
năng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình
thành các kỹ năng học tập (Study skills) như: đọc, viết, tính toán, máy tính
Nội dung GD KNS cần được vận dụng linh hoạt tuỳ theo từng lứa tuổi,
cấp học, môn học, hoạt động GD và điều kiện cụ thể. Ngoài các KNS cơ bản
trên, tuỳ theo đặc diêm vùng, miền, địa phương, GV có thể lựa chọn thêm
một số KNS khác để GD cho HS của trường, lớp mình cho phù họp.[8,26]
1.3.3.

Các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học

co

Thực tế đã cho thấy, phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học có ưu
thế phát huy tính tích cực học tập của HS có thể sử dụng để GD KNS cho HS
phổ thông trong quá trình dạy học các môn học và tổ chức các HĐ GD NGLL


25

1.3.3.1.
Phư ơng pháp thảo luận nhóm
* Bản chất:


-

Tuy nhiên, nếu GV không nắm vững cách tiến hành sẽ biến thành phương
pháp thảo luận hoặc hỏi đáp.
1.3.3.3.
Phương pháp đóng vai
* Bản chất:
Là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, "làm thử" một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp nhằm


26

giúp người học suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một
cách ứng xử cụ thể mà họ quan sát được. Việc "diễn" không phải là phần
chính của phương pháp này, mà điều quan trọng hơn là sự thảo luận sau phần
“diễn” ấy.
* ưu, nhược điểm:
-

-Tuy

nhiên

Người học được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn; gây hứng
thú, chú ý cho người học; khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của người học
theo hướng tích cực, có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc
việc làm của các vai diễn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status