MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1.
1.2.
1.3.
Chương 2
2.1.
2.2.
2.3.
2.4
2.5.
Chương 3
Trang
3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI
HỌC
Các khái niệm cơ bản
Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên đại học
Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của sinh viên đại học
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
Khái quát về trường Đại học Hà Nội và cách thức tổ
chức nghiên cứu thực trạng
33
33
36
42
52
56
62
3.1.
62
64
77
86
88
92
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xu thế hội
nhập toàn cầu hiện nay, công tác giáo giáo dục và đào tạo đóng một vai trò
quan trọng. Do đó, công tác giáo giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt quan tâm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta nhấn
mạnh: “Phát triển KH&CN thực sự là động lực then chốt của quá trình phát
triển nhanh và bền vững” [10, tr.132]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát triển và ứng dụng KH&CN là một nội
dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của
các ngành, các cấp” [12, tr.120].
Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, các trường đại học đã khẳng
học chưa được tổ chức thường xuyên. Cơ chế khuyến khích, động viên tạo
động lực để sinh viên tham gia NCKH nâng cao kiến thức chuyên môn chưa
phù hợp. Chính thực trạng này đã làm hạn chế kết quả NCKH của sinh viên,
chất lượng đào tạo của nhà trường.
Thực tế tại trường Đại học Hà Nội đã có các công trình nghiên cứu về
quản lý hoạt động đào tạo, quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, tổ chức các
hoạt động NCKH của sinh viên như: viết luận văn, thi Olympic, nghiên cứu
đề tài khoa học cấp khoa, cấp trường dưới sự hướng dẫn của giảng viên…
nhưng chưa có nghiên cứu nào về quản lý hoạt động NCKH của sinh viên
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Trên cơ sở tầm quan trọng của hoạt động NCKH của sinh viên đối với
công tác GD&ĐT ở trường đại học Hà Nội, cần phải coi trọng công tác quản
lý hoạt động NCKH của sinh viên. Thông qua đó nhằm phát huy tốt nhất năng
lực trí tuệ vốn có của mỗi sinh viên; hình thành kỹ năng, phương pháp NCKH
cho sinh viên; giúp sinh viên có thói quen làm việc độc lập, sáng tạo, nâng
cao chuyên môn, đóng góp những giá trị mới cho xã hội. Chính vì vậy, lựa
chọn vấn đề "Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở
trường Đại học Hà Nội" làm đề tài luận văn có tính thiết thực và cấp bách
4
đối với công tác GD&ĐT và quản lý hoạt động NCKH của sinh viên ở trường
Đại học Hà Nội hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn có thể thâu tóm
trên hai hướng sau:
2.1. Các công trình nghiên cứu, bài viết về hoạt động NCKH
Theo hướng nghiên cứu này có các công trình, bài viết ở ngoài nước và
trong nước sau:
Công trình Tổ chức công việc tự học của sinh viên của tác giả
một cuộc điều tra, thiết kế một bảng hỏi và những kỹ thuật khi sử dụng
phương pháp phỏng vấn.
Ở Việt Nam, nhiều tác giả, các nhà khoa học đã cho ra đời các giáo
trình hướng dẫn sinh viên đại học, cao đẳng NCKH dưới các tiêu đề “Phương
pháp luận NCKH”, “Phương pháp luận NCKH giáo dục” của Phạm Viết
Vượng; “Phương pháp luận nghiên cứu học tập - nghiên cứu” của Nguyễn
Văn Lê; “Phương pháp luận NCKH” của Vũ Cao Đàm; “Phương pháp luận
khoa học giáo dục” của Đặng Vũ Hoạt; Hà Thị Đức; “Phương pháp học tập
nghiên cứu của sinh viên Cao đẳng, Đại học” của Phạm Trung Thành với
mục đích cung cấp cho sinh viên cơ sở phương pháp luận, phương pháp
NCKH, trang bị cho sinh viên những vấn đề lý luận cơ bản về NCKH để họ
rèn luyện, thực hành NCKH có hiệu quả. Các giáo trình mà các nhà khoa học
cho xuất bản ngày càng khai thác, cập nhật bổ sung thông tin khoa học, tăng
cường sự chính xác hoá loại bỏ những thông tin khoa học lạc hậu, đưa vào
giáo trình các thông tin khoa học mới, bên cạnh đó có tính tới trình độ nghiên
cứu của sinh viên. Các tác giả, các nhà khoa học chủ yếu đề cập đến vấn đề
NCKH, còn nội dung quản lý NCKH và đặc biệt là quản lý hoạt động NCKH
của sinh viên chưa được đề cập.
Khi bàn về vai trò của NCKH giáo dục, Dương Thiệu Tống khẳng
định: Công cuộc cải tổ giáo dục ở Việt Nam không thể không tiến hành
NCKH nói chung và NCKH giáo dục nói riêng; đồng thời cho rằng, vai trò
của các nhà NCKH giáo dục rất quan trọng.
6
Ngoài ra, còn có các đề tài của Viện Nghiên cứu Phát triển giáo
dục: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt
động khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường” (1991),
mã số B91-38-14, do tác giả Vũ Tiến Thành làm chủ nhiệm; đề tài cấp Bộ của
Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục: “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực
Viết Sự, đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 13, 10-2006; “Đẩy mạnh
NCKH của học viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo chính ủy ở Học
viện Chính trị hiện nay” của tác giả Đỗ Minh Châu, đăng trên Tạp chí Giáo
dục Lý luận Chính trị quân sự, số 1, năm 2009...
2.2. Các công trình nghiên cứu, bài viết về quản lý hoạt động NCKH
Các công trình, bài viết theo hướng nghiên cứu này bào gồm:
Hai tác giả Keith Howard và John A.Sharp đã biên soạn tài liệu The
Management of a Student Research Project (Quản lý NCKH của sinh viên)
nhằm giúp sinh viên biết cách quản lý kế hoạch nghiên cứu. Các tác giả đã
trình bày những vấn đề về chọn lựa đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tập
hợp, phân tích, xử lý và đánh giá kết quả NCKH; “Quản lý công tác NCKH”
(1983), K.Bexle, E.deisen, Xlasinxki, do Nguyễn Văn Lân dịch từ bản tiếng
Nga, Nguyễn Xuân Khoa hiệu đính; “Những vấn đề về quản lý trường học” của
P.V. Zimin, M.I. Kônđakốp đều là các nghiên cứu về vấn đề quản lý NCKH và
quản lý giáo dục nhà trường. Ngoài ra, nhà giáo dục học Xô - viết V.A.
Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai
trò là Hiệu trưởng nhà trường cho rằng “Kết quả hoạt động của nhà trường phụ
thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học”. Công
trình cũng đã nhấn mạnh đến sự phân công, phối hợp, thống nhất quản lý giữa
Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra; công trình của
Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich với “Những vấn đề cốt yếu của
quản lý” đã đề cập đến các yêu cầu về chất lượng của người quản lý; Vương Lạc
Phu và Tưởng Nguyệt Thần với công trình “Khoa học lãnh đạo hiện đại” đã dành
hẳn một chương nêu lên vấn đề về chất lượng và hiệu quả quản lý của cán bộ lãnh
đạo, quản lý.
8
Ở trong nước, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu của các viện và
trường đại học từ lâu đã nhận thức được rằng: Sinh viên NCKH là điều kiện,
Bên cạnh đó, còn có nhiều đề tài luận vặn nghiên cứu về biện pháp quản
lý hoạt động NCKH, như: “Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt
động NCKH ở Trường Cao đẳng Sơn La” (2009) của Lê Thị Lý; “Biện pháp
quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội”
(2010) của Đặng Ngọc Phúc; “Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của học viên
ở Học viện Chính trị” (2010) của Nguyễn Quốc Hưng... Các đề tài luận văn này
hoặc là đề cập vấn đề quản lý hoạt động NCKH của hiệu trưởng hoặc là quản lý
hoạt động NCKH của sinh viên, học viên các trường Đại học, học viện, không
phải vấn đề quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Đại học Hà Nội.
Ngoài các công trình, đề tài luận văn còn có các bài viết của Đỗ Xuân
Thao về Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn tại trường trung học cơ sở
huyện Mê Linh, Hà Nội; Nguyễn Như Sơn với bài Quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh bán trú trường Trung học phổ thông huyện Chiêm
Hóa, tỉnh Tuyên Quang; Đỗ Anh Văn với Quản lý hoàn thiện chương trình
đào tạo Đại học ngành Y đa khoa theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Y
Dược Thái Bình; Nguyễn Thị Loan với Tổng quan nghiên cứu quản lý đánh
giá kết quả học tập của sinh viên ngành quản lý giáo dục trong các cơ sở
giáo dục Đại học theo tiếp cận quá trình; Trần Văn Cát với Quản lý quá trình
đào tạo theo định hướng đảm bảo chất lượng tại Học viện Phật giáo Hà Nội
đăng trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 124, tháng 12/ 2015... Các bài viết
này dù có đề cập đến góc độ NCKH quản lý giáo dục, nhưng lại phản ánh
những vấn đề quản lý cụ thể của các trưởng trung học cơ sở, trung học phổ
thông, Đại học Y Dược, Học viện Phật giáo; hay quản lý kết quả học tập của
sinh viên các trường Đại học nói chung, mà chưa bàn đến quản lý hoạt động
NCKH của giảng viên trường Đại học Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu và bài viết về hoạt động NCKH và quản lý
hoạt động NCKH nhìn chung đã làm rõ được một số khía cạnh về lý luận và
thực tiễn, giúp đề tài luận văn có thể tham khảo, kế thừa trong quá trình triển
10
11
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung và biện pháp quản lý hoạt
động NCKH của sinh viên ở trường Đại học Hà Nội.
- Tiến hành điều tra, khảo sát đối với cán bộ, giảng viên và sinh viên
trường Đại học Hà Nội.
- Các số liệu sử dụng từ năm học 2012 -2013 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Hà Nội phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó phụ thuộc rất lớn vào yếu tố quản lý. Nếu
trong quản lý các chủ thể thực hiện tốt các vấn đề như: Nâng cao nhận thức
cho sinh viên, sinh viên về tầm quan trọng của hoạt động NCKH; Kế hoạch
hóa, tổ chức, chỉ đạo khoa học, chặt chẽ hoạt động NCKH; Kết hợp chặt chẽ
hoạt động NCKH với hoạt động học tập; Quản lý có hiệu quả các điều kiện hỗ
trợ cho hoạt động NCKH và kiểm tra, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm về
hoạt động NCKH của sinh viên thì sẽ nâng cao được chất lượng NCKH của
sinh viên, góp phần thiết thực nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường,
đáp ứng yêu cầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài luận văn được tổ chức nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
khoa học, khoá luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên.
* Nhóm phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phép toán thống kê tính điểm trung bình, số lượng/ phần
trăm, hệ số tương quan Specman để xử lý số liệu thu được, góp phần làm cho
kết quả nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy.
13
7. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về hoạt động NCKH,
quản lý hoạt động NCKH trên một đối tương cụ thể là sinh viên đại học.
- Cung cấp luận chứng khoa học về thực trạng hoạt động NCKH của
sinh viên và các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này ở
trường Đại học Hà Nội.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh
viên, cán bộ quản lý và sinh viên của nhà trường trong tổ chức và thực hiện
các hoạt động NCKH.
8. Kết cấu của đề tài
Gồm 3 chương, 11 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Nghiên cứu khoa học
Khoa học là những tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư
duy. Hay nói cách khác khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát
Tác giả Lưu Xuân Mới quan niệm: “Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận
thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương
pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có
mục đích những điều mà con người chưa biết đến (hoặc biết chưa đầy đủ)
tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới có giá trị mới về nhận thức
hoặc phương pháp” [27, tr25].
Từ các quan niệm trên, có thể hiểu NCKH là hoạt động có kế hoạch, có
tổ chức của tập thể hoặc cá nhân nhà khoa học phát hiện, tìm hiểu các hiện
tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp
nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
Bản chất của NCKH
NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm tạo ra giá trị
nhận thức mới chưa ai biết về đối tượng trong thế giới hiện thực. Mục đích
của NCKH là nâng cao năng lực nhận thức của loài người, tạo ra hệ thống tri
thức mới góp phần cải tạo thực tiễn cuộc sống và sản xuất. Chủ thể của
NCKH là các nhà khoa học với những phẩm chất trí tuệ và tài năng vượt trội.
Sự sáng tạo khoa học thường được bắt đầu từ ý tưởng cá nhân sau đó được sự
hỗ trợ, hợp tác nghiên cứu của tập thể, theo định hướng của người chủ trì. Vì
vậy có thể nói chủ thể của NCKH vừa có tính cá nhân vừa có tính tập thể.
Khách thể của NCKH là các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy
mà nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra tri thức khoa học. Đối
tượng của NCKH là tri thức khoa học. Tri tức khoa học là “kết quả của quá
trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện
16
đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện” [13, tr.16]. Chức năng của
NCKH là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng, đánh
giá một sự vật, giải thích nguồn gốc, trạng thái cấu trúc, quy luật chung chi
phối quá trình vận động của sự vật. Đưa ra các giải pháp, các nhận dạng trạng
1.1.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Hoạt động NCKH của sinh viên đóng một vai trò quan trọng trong việc
hình thành kỹ năng nghiên cứu, tư duy khoa học cho mỗi nhà khoa học tương
lai. Mục đích của các trường đại học là đào tạo các nhà chuyên môn có phẩm
chất và năng lực, có khả năng tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh
tế, văn hoá, khoa học, công nghệ quốc gia. Trong thời đại ngày nay, trên con
đường phát triển của mỗi quốc gia, hội nhập toàn cầu, vấn đề nghiên cứu trở
nên yêu cầu hàng đầu đối với mỗi chuyên gia. Nghiên cứu không chỉ làm cho
công việc đạt chất lượng, hiệu quả cao mà còn làm cho các chuyên gia đứng
vững và làm chủ tốc độ phát triển của khoa học công nghệ.
Sinh viên hôm nay chưa phải là nhà khoa học nhưng trong tương lai
gần họ sẽ có khả năng trở thành những chuyên gia năng động và sáng tạo.
Họ có thể là những cán bộ công tác trong các viện NCKH, hoặc làm các
ngành nghề liên quan đến nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
thực tế cuộc sống. Do đó, hoạt động NCKH đối với mỗi sinh viên đang
ngồi trên ghế nhà trường hiện nay được coi là một hình thức học tập
nhưng vô cùng cần thiết cho tương lai. Hoạt động NCKH là loại hình lao
động đặc biệt, được tiến hành bởi các nhà khoa học, thông qua hệ thống
các phương pháp, các phương tiện kỹ thuật phù hợp nhằm phát hiện những
hiểu biết mới mang tính quy luật, tạo ra sản phẩm mới phục vụ mục tiêu hoạt
động động của con người.
Vì vậy, hoạt động NCKH của sinh viên đại học là hoạt động nghiên cứu
của sinh viên trong quá trình học tập bao gồm tất cả các hoạt động phát hiện,
tổng hợp các kiến thức có thể đóng góp cho kho tàng kiến thức của nhân loại
hoặc cho chính bản thân sinh viên, giúp sinh viên hiểu biết sâu hơn, rộng hơn
về kiến thức, chuyên môn được đào tạo hoặc tìm ra kiến thức tổng hợp liên
ngành. NCKH của sinh viên cũng giống như NCKH nói chung nhằm thỏa
18
lý thuyết. Vấn đề cốt lõi ở đây là để cho sinh viên hứng thú và có ý tưởng
mới, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tạo phong cách của cá nhân trong quá
trình học tập tiếp theo.
Bài tập lớn
Đây là loại bài tập chính thức được quy định trong chương trình đào
tạo, sau khi sinh viên đã học kiến thức cơ sở ngành và kiến thức chuyên môn.
Với hình thức bài tập này, tất cả sinh viên đều phải làm dưới sự hướng dẫn
của giảng viên. Đây là loại hình nghiên cứu yêu cầu cao hơn bài tập nhỏ, thời
gian nghiên cứu dài hơn và có quy định cụ thể về nội dung, thời gian hoàn
thành, hình thức đánh giá. Việc tiến hành làm bài tập lớn thường gắn với việc
học tập chuyên đề từ năm thứ hai. Những chuyên đề hỗ trợ rất tốt về chất
lượng cho việc làm bài tập lớn của sinh viên. Mục đích chủ yếu của hình thức
nghiên cứu này là cho sinh viên thực hành với các thủ pháp NCKH, tìm hiểu,
tra cứu tài liệu, phát hiện ứng dụng, liên hệ thực tế chứ chưa làm giàu cho
khoa học bằng kết quả của các công trình nghiên cứu. Bài tập lớn được hoàn
thành có thể được bảo vệ trước bộ môn hoặc do hội đồng đặc biệt được bộ
môn thành lập. Kết quả được đánh giá bằng điểm số của môn học. Việc hoàn
thành bài tập lớn có ý nghĩa quan trọng đặt tiền cho các hình thức nghiên cứu
cao hơn như: làm khoá luận, đồ án tốt nghiệp.
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận là hình thức nghiên cứu cao hơn làm bài tập lớn. Đây là bài
tập NCKH cuối khoá chỉ dành riêng cho những sinh viên có kết quả học tập
đạt từ loại khá trở lên đối với mọi sinh viên Đại học thuộc khoa học xã hội.
Giá trị của khoá luận được tính từ 3 đến 4 đơn vị học trình. Nếu sinh viên
chọn đề tài khoá luận thuộc học phần thi tốt nghiệp nào thì họ được miễn thi
học phần đó để làm khoá luận. Khi làm khoá luận, sinh viên phải đọc nhiều
tài liệu có liên quan nhất là những sách chuyên khảo và phải được một giảng
viên chính hướng dẫn trên cơ sở tinh thần chủ động, độc lập nghiên cứu của
chủ động sáng tạo trong công việc. Sinh viên làm đồ án tốt nghiệp tự chọn đề
21
tài hoặc giảng viên hướng dẫn gợi ý đề tài nghiên cứu. Quá trình thực hiện đề
tài sinh viên phải tra cứu tài liệu, tìm hiểu sâu phần kiến thức chuyên ngành,
có ý tưởng, mô hình cụ thể để ứng dụng các nghiên cứu. Đồ án tốt nghiệp
gồm thuyết minh, số liệu tính toán, so sánh tính kinh tế kỹ thuật lựa chọn
phương án, bản vẽ, mô hình và sản phẩm ứng dụng. Đồ án tốt nghiệp được
bảo vệ trước hội đồng do hiệu trưởng ra quyết định thành lập, kết quả được
tính là điểm tốt nghiệp của sinh viên.
Ngoài các hình thức NCKH thuộc chương trình đào tạo trên, các sinh
viên còn tham gia nhiều hình thức NCKH khác như: thi Olympic, thực tập tốt
nghiệp tại doanh nghiệp, viết các bài báo khoa học đăng trên các báo và tạp
chí, tham gia đề tài NCKH cấp khoa, cấp trường,… do giảng viên hướng dẫn.
1.1.3. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học
Mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường đại học nhằm
góp phần giải quyết các nhiệm vụ cơ bản: Nâng cao chất lượng đào tạo đại
học, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho CNH HĐH của đất nước; kết hợp thực hiện các nhiệm vụ khoa học với các nhiệm
vụ đào tạo của nhà trường, ứng dụng các thành tựu khoa học, các tiến bộ kỹ
thuật phục vụ việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển sự nghiệp GD&ĐT,
phát triển kinh tế xã hội. Xây dựng và phát triển tiềm lực NCKH của trường,
từng bước hội nhập với nền KHCN hiện đại của khu vực và trên thế giới.
Khi nói đến quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường đại học,
chúng ta có thể nói đến một quy trình tác động mang tính pháp lý, tính khoa
học, có mục tiêu rõ ràng của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý nhằm
chỉ huy và điều hành đối tượng bị quản lý và hoạt động NCKH của họ theo
đúng mục tiêu của hoạt động NCKH đã đề ra, nhằm nâng cao chất lượng của
hoạt động NCKH trong nhà trường nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung.
Quản lý hoạt động NCKH sinh viên mang tính pháp lý được thực hiện dựa
Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý.
Trong các trường đại học công lập thường áp dụng mô hình quản lý chính
quy. Xây dựng kế hoạch NCKH cho sinh viên là quá trình bao gồm: xây
23
dựng mục tiêu cho hoạt động NCKH (với số lượng đề tài các cấp, nội dung
thực hiện); nguồn lực, biện pháp tổ chức; tiến độ thực hiện, thời gian hoàn
thành; tiêu chí đánh giá nghiệm thu theo một quy trình thống nhất và được
phê duyệt.
Hoạt động NCKH của sinh viên được tiến hành theo kế hoạch phù hợp
với kế hoạch năm học. Tính kế hoạch trong hoạt động NCKH của sinh viên
được thể hiện qua các khâu trong tổ chức xét duyệt đề tài, tổ chức nghiên cứu
và đánh giá kết quả nghiên cứu.
1.2.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa
học của sinh viên
Trong quản lý hoạt động NCKH của sinh viên chức năng tổ chức là xây
dựng vai trò nhiệm vụ, cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận liên
quan đến hoạt động NCKH. Sắp xếp phân bổ nguồn lực cho từng bộ phận,
từng thành viên đảm bảo cho họ thực hiện nhiệm vụ của mình, qua đó thực
hiện thành công mục tiêu NCKH. Thông qua đó, chủ thể quản lý tác động đến
đối tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng cách điều phối nguồn lực của
đơn vị như: nhân lực, vật lực, tài lực. Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu
tổ chức phải đảm bảo các yêu cầu về tính tối ưu, tính linh hoạt, tính kinh tế và
độ linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ.
Hoạt động NCKH của sinh viên được tổ chức theo mục tiêu định trước
với những quy định chặt chẽ, được tiến hành theo định hướng NCKH của nhà
Trường, của Khoa và giảng viên hướng dẫn.
1.2.3. Chỉ đạo việc ứng dụng kết quả nghiên cứu
khoa học của sinh viên
các tiêu chí và yêu cầu đặt ra. Kiểm tra được thực hiện bởi hội đồng khoa học
cấp khoa, đối với đề tài NCKH cấp trường có sự tham gia của thành viên hội
đồng khoa học trường. Các thông tin trong quá trình kiểm tra được sử dụng để
ra quyết định điều chỉnh phù hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Trong kiểm tra, đánh giá cần chú ý đánh giá chính xác số lượng các sản
phẩm, công trình khoa học của sinh viên. Bao gồm: số lượng sản phẩm, công
trình khoa học mà sinh viên đã đăng ký tham gia; số lượng sản phẩm, công trình
khoa học đang triển khai thực hiện; số lượng sản phẩm, công trình khoa học đã
25
hoàn thành, được nghiệm thu, công bố.... Đồng thời, đánh giá chất lượng các sản
phẩm, công trình khoa học của sinh viên, hiệu quả khoa học và hiệu quả xã hội
của các sản phẩm, công trình khoa học, trên cả hai phương diện lý luận và thực
tiễn. Về lý thuyết, chất lượng các sản phẩm, công trình khoa học của sinh viên
được đánh giá, thẩm định thông qua các hội đồng đánh giá và được xếp loại theo
thứ bậc. Trên phương diện thực tiễn, chất lượng các sản phẩm, công trình khoa
học của sinh viên được đánh giá thông qua kết quả quá trình triển khai ứng dụng
các sản phẩm, công trình khoa học đó vào các lĩnh vực hoạt động thực tiễn của
Nhà trường. Như vậy, đánh giá chất lượng các sản phẩm, công trình khoa học
của sinh viên vừa phải làm tốt việc thẩm định, kiểm chứng chất lượng các sản
phẩm, công trình khoa học, vừa phải tính đến các khả năng tối ưu để sử dụng các
sản phẩm, công trình khoa học của sinh viên vào thực tiễn, nhằm đạt được mục
đích nghiên cứu đề ra.
Đánh giá việc ứng dụng kết quả NCKH của sinh viên bao gồm quá
trình triển khai các hoạt động ứng dụng; quản lý việc tổ chức thực hiện ứng
dụng và quản lý kết quả ứng dụng. Quá trình này bao gồm hệ thống các hoạt
động: công bố, giới thiệu, định hướng sử dụng các sản phẩm, công trình khoa
học; xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chức