LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý HOẠT ĐỘNG NGHIÊN cứu KHOA học của GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN dân i - Pdf 42

MỞ ĐẦU

3

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.1. Các khái niệm cơ bản

12

12

1.2. Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên trường cao đẳng

21

1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I

31

Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIẾN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO
ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN I

2.1. Khái quát Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I

40
40

K ẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

104
107

PHỤ LỤC

110


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng với giáo dục và đào
tạo, KH&CN được coi là quốc sách hàng đầu. Sự phát triển khoa học và công
nghệ đã và đang trở thành động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội. Trên lĩnh vực giáo dục đại học, bất cứ một trường đại học, cao đẳng nào
cũng đều có hai nhiệm vụ chính và quan trọng nhất đó là đào tạo và NCKH.
Đây là hai hoạt động có mối quan hệ hữu cơ, hai nhiệm vụ cơ bản chiến lược
của mỗi nhà trường, trong đó việc cán bộ, giảng viên và học viên nhà trường
tích cực tham gia các hoạt động NCKH là một trong những biện pháp quan
trọng, cần thiết, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đào tạo của nhà
trường, đồng thời đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của xã hội.
Tại Hội nghị lần thứ 6 khóa XI, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 về “Phát triển
KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó xác định:
“KH&CN là vấn đề đặc biệt quan trọng, là quốc sách hàng đầu, là động lực phát
triển kinh tế -xã hội”; “nhân lực khoa học công nghệ là nhân tố quyết định đối với

sở vật chất phục vụ cho nghiên cứu còn yếu và thiếu đã làm ảnh hưởng, hạn
chế đến hiệu quả, chất lượng hoạt động NCKH của giảng viên.
Để quản lý hoạt động NCKH của giảng viên có hiệu quả, góp phần nâng
cao chất lượng GD&ĐT của nhà trường, trước hết cần được nghiên cứu lý
luận, khảo sát đánh giá đúng thực trạng và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng
quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trong nhà trường hiện nay, trên cơ
sở đó đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp để từng bước đưa công tác
quản lý hoạt động NCKH của nhà trường nói chung quản lý hoạt động NCKH
của giảng viên nói riêng vào nề nếp, tạo nên sự chuyển biến tích cực trong
công tác quản lý hoạt động NCKH.
Từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống cơ sở lý luận,
thực trạng công tác quản lý và đề ra những biện pháp quản lý phù hợp có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc. Do vậy, tôi chọn vấn đề “Quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học của giảng viên ở Trường Cao đẳng An ninh nhân dân
I” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục.
4


2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài
Các thành tựu nghiên cứu của khoa học giáo dục đã thừa nhận quản lý
giáo dục là nhân tố then chốt bảo đảm cho sự thành công của các hoạt động
GD&ĐT trong đó có hoạt động NCKH. Đây là nội dung đã được các nhà
nghiên cứu, các học giả trên thế giới hết sức quan tâm.
Năm 1990 t ác giả Gary Anderson (Hoa Kỳ), biên soạn “Các nguyên tắc
cơ bản của NCKH giáo dục”, nội dung tài liệu tập trung hướng dẫn cho ngư
ời nghiên cứu cách xây dựng kế hoạch, phương pháp cũng như dụng công cụ,
kỹ thuật cần thiết khi nghiên cứu khoa học giáo dục.
Trong cuốn “Quản lý công tác NCKH” (1993), K.Bexle, E.deisen,
Xlasinxki, do Nguyễn Văn Lân dịch từ bản tiếng Nga, Nguyễn Xuân Khoa

* Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài
Năm 1992, giáo trình “Phương pháp luận và các phương pháp nghiên
cứu khoa học giáo dục” của tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức, đã đưa ra
những khái niệm chung về phương pháp luận khoa học giáo dục, những
nguyên tắc phương pháp luận và những giai đoạn nghiên cứu một đề tài khoa
học, những kỹ năng cần thiết về NCKH.
Tác giả Vũ Cao Đàm với công trình “Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học” đã chỉ ra cấu trúc của một công trình NCKH, cách trình bày vấn đề khoa
học theo một mối liên hệ lô gic với ý tưởng khoa học và những hướng dẫn cụ
thể để mọi người bước vào con đường NCKH một cách thuận lợi. Đây thực
sự là những kiến thức lý luận quan trọng giúp cho người nghiên cứu có thể
tiến hành các công trình nghiên cứu khoa học của mình đạt hiệu quả.
Tác giả Phạm Viết Vượng (2001), với giáo trình “Phương pháp luận
nghiên cứu khoa học” đã trình bày những vấn đề chung nhất về khoa học và
NCKH; lý thuyết về phương pháp NCKH; nội dung cơ bản của hoạt động
NCKH, trong đó có những nội dung đề cập đến quản lý tiềm lực khoa học,

6


quản lý, tổ chức triển khai các đề tài NCKH, đánh giá công trình nghiên cứu
và công bố kết quả NCKH.
Tác giả Trần Kiểm, với “Khoa học quản lý giáo dục-Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” đã trình bày một cách khái quát về khoa học quản lý giáo dục. Trong đó đề
cập đến quản lý các hoạt động nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục, dự báo xu
thế giáo dục và quản lý giáo dục trên thế giới, những thách thức và thời cơ đối với
quản lý giáo dục nói chung, quản lý hoạt động NCKH trong nhà trường nói riêng.
Tác giả Trần Hồ Thảo (2006), với luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục “Một
số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động NCKH ở Trường Đại học Văn hoá
Thành phố Hồ Chí Minh” đã góp phần khẳng định vai trò, tầm quan trọng của

Năm 2015, tác giả Nguyễn Như Duẩn, “Quản lý hoạt động NCKH của sinh
viên Trường Đại học khoa học tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội” [43], luận
văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, đã làm rõ được cơ sở lý luận, thực tiễn để xây dựng
hệ thống biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học khoa
học tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội góp phần thúc đẩy và nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường.
Trong Tạp chí Khoa học và Giáo dục An ninh đã công bố kết quả nghiên
cứu của khá nhiều tác giả về hoạt động NCKH và quản lý hoạt động NCKH
với các góc độ tiếp cận khác nhau như: Bài viết “Đổi mới tổ chức và hoạt
động công tác NCKH lịch sử Công an nhân dân trong tình hình mới” của tác
giả Nguyễn Bình Ban, bài viết “Một số vấn đề về chế độ, chính sách đối với
đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học Công tác khoa học Công an hiện nay”
của tác giả Nguyễn Quang Chữ. “Đổi mới công tác lưu trữ góp phần nâng cao
hiệ quả nghiên cứu khoa học ở Học viện An ninh nhân dân” của tác giả Nguyễn
Hữu Hòa..
Baì viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học Xã
hội nhân văn của giảng viên các trường Đại học hiện nay”, tác giả Mai Văn Hóa,
trên cơ sở nhận định đánh giá khái quát về chất lượng NCKH Xã hội nhân văn
của giảng viên các trường đại học, cũng trong bài viết tác giả đề xuất một số giải
8


pháp nâng cao chất lượng NCKH Xã hội nhân văn bao gồm: Tạo bước chuyển
cơ bản tronh nhận thức của giảng viên về hoạt động NCKH Xã hội nhân văn; Đa
dạng hóa các hình thức bồi dưỡng năng lực NCKH cho đội ngũ giảng viên; Tiếp
tục đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức và điều hành hoạt động NCKH của giảng
viên; Đưa yếu tố khoa học thâm nhập sâu vào hoạt động giảng dạy; Tăng cường
các chính sách đãi ngộ tạo động lực cho giảng vên NCKH.
Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên đã cung cấp những tài liệu hữu ích,
giúp chúng tôi tiếp tục tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động NCKH của giảng

* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý hoạt động
NCKH của giảng viên ở Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I.
Thời gian nghiên cứu từ 2010 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động NCKH của giảng viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu
trong quản lý, thực hiện tốt việc tổ chức giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm
cho giảng viên; hoàn thiện các văn bản quy phạm và tạo môi trường thuận lợi
cho hoạt động NCKH của giảng viên; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban
giám hiệu và sự phối hợp trong các lực lượng trong quản lý; xây dựng kế hoạch
và tổ chức thực hiện tốt các bước quản lý; tổ chức tốt việc lưu trữ, khai thác và
ứng dụng sản phẩm khoa học; thường xuyên kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
về hoạt động NCKH của giảng viên, thì sẽ nâng cao chất lượng nghiên cứu của
giảng viên, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của nhà trường.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác- Lênin, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và quản lý giáo dục, phát triển khoa học
công nghệ, đồng thời tiếp cận nội dung nghiên cứu theo quan điểm hệ thống cấu trúc, quan điểm lịch sử - lô gic và quan điểm thực tiễn.
* Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

10


Các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, văn bản
pháp quy của Nhà nước, của ngành; các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về quản lý
hoạt động NCKH.
Nghiên cứu các tài liệu, sách báo, tạp chí, các báo cáo, văn bản tổng

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
* Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu, được hiểu là “xem xét tìm hiểu kỹ lưỡng để nắm vững vấn
đề, giải quyết vấn đề hay rút ra những hiểu biết mới” [25, tr.680]. Với quan
niệm như vậy, NCKH là lĩnh vực lao động nhằm tạo ra tri thức mới về tự
nhiên, xã hội và tư duy. Nó là quá trình các nhà khoa học sử dụng tri thức,
năng lực, trình độ và kinh nghiệm của mình với sự hợp tác lao động, sự hỗ trợ
của trang bị thực nghiệm, thí nghiệm để nghiên cứu tạo ra hệ thống tri thức
mới phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
NCKH là một quá trình diễn ra phức tạp, không ngừng giải quyết những
mâu thuẫn của sự tìm tòi, phát hiện những tri thức mới, khám phá những
nguyên lý, quy luật, con đường mới của sự phát triển. Quá trình đó luôn xuất
hiện những giả thuyết, những ý tưởng, những xu hướng, dự báo khác nhau,
thậm chí trái ngược nhau. Thành công của NCKH là tìm ra tri thức mới phù
hợp với sự phát triển của hiện thực, đem lại lợi ích cho con người.
NCKH là quá trình nhận thức hướng vào việc khám phá những thuộc tính
bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan nhằm phát triển nhận
thức khoa học về thế giới. Hoạt động NCKH là hoạt động sáng tạo, sản phẩm
của hoạt động NCKH tạo ra là những tri thức mới, kinh nghiệm mới, phương
pháp mới. Chính vì thế nên NCKH là một dạng hoạt động đặc biệt của con
người, diễn ra hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi giải quyết những mâu thuẫn
để tìm tòi, phát hiện ra nguyên lý, quy luật mới cho nhân loại.
12





khoa học và thu hút những người khác tham gia nghiên cứu. Tập thể các nhà
khoa học có vai trò quan trọng trong việc góp ý, phản biện, thẩm định và hợp
tác nghiên cứu theo ý tưởng đề xuất của cá nhân.
Khách thể của NCKH là các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư
duy mà các nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra tri thức khoa học.
Đối tượng của NCKH là tri thức khoa học. Tri thức khoa học có những
điểm khác với tri thức thông thường. Tri thức thông thường là những tri thức
mà “Bằng các giác quan, con người tri giác, cảm nhận về bản thân, về thế giới
và xã hội xung quanh, từ đó có những kinh nghiệm sống, những hiểu biết về
mọi mặt”. Tri thức thông thường được hình thành trong cuộc sống hàng ngày,
được con người sử dụng, trao đổi với nhau, truyền đạt lại cho nhau, chúng dần
được hoàn thiện. Tri thức khoa học là “... kết quả của quá trình nhận thức có
mục đích, có kế họach, có phương pháp và phương tiện đặc biệt, do đội ngũ
các nhà khoa học thực hiện”. Mặc dù tri thức khoa học và tri thức thông
thường có sự khác nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Mục đích của NCKH là tìm tòi, khám phá ra bản chất và các qui luật
vận động của thế giới khách quan, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng vào
sản xuất vật chất hay tạo ra các giá trị tinh thần để thoả mãn nhu cầu cuộc
sống của con người.
Phương pháp tiến hành NCKH thực chất là phương pháp nhận thức thế
giới, bao gồm các quan điểm tiếp cận và các thao tác cụ thể tác động đối
tượng nghiên cứu làm bộc lộ bản chất của đối tượng.
Sản phẩm và giá trị của NCKH được đánh giá bởi cái mới của những tri
thức được khái quát và những giải pháp thực tiễn được đề xuất. Những thông
tin đó phải có tính khách quan, độ tin cậy, tính ứng dụng, đáp ứng với nhu cầu
của thực tiễn.
Quá trình nghiên cứu thường thực hiện trong một cơ quan nghiên cứu
được tổ chức chặt chẽ, có chương trình chiến lược hoạt động.

thù của Việt Nam. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, nhanh chóng đưa thành
quả nghiên cứu vào thực tiễn cuộc sống góp phần đẩy nhanh tiến trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
15


* Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường cao đẳng
Không chỉ các trường đại học, cao đẳng trên thế giới mà hiện nay ở Việt
Nam các trường đại học, cao đẳng xem NCKH là sức sống của nhà trường.
Bởi lẽ, mục đích của NCKH là nâng cao trình độ giảng dạy trong mỗi giảng
viên. Qua NCKH, mỗi giảng viên đều nhanh chóng tiếp cận được những kiến
thức mới về khoa học công nghệ, làm quen với việc tổ chức thực hiện các đề
tài khoa học có cơ hội được vận dụng các kiến thức được trang bị để giải
quyết các vấn đề cụ thể đặt ra từ khoa học và thực tiễn.
Hoạt động NCKH là con đường ngắn và hiệu quả nhất để nâng cao trình
độ chuyên môn và khả năng sư phạm của giảng viên, qua hoạt động NCKH
mới có khả năng đưa các kết quả NCKH ứng dụng vào thực tiễn, vào giảng
dạy. Đồng thời khi tham gia NCKH, giảng viên phải tuân thủ các nguyên tắc
phương pháp luận, huy động kiến thức đã lĩnh hội và tìm tòi phương pháp
khoa học để giải quyết các vấn đề lý luận, thực tiễn, do đó họ sẽ củng cố, mở
rộng và phát triển những kiến thức, kỹ năng đã được tích luỹ trong quá trình
giảng dạy. Theo logic đó hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên
không ngừng được củng cố, hoàn thiện và phát triển thâm nhập vào nhau,
chuyển hóa lẫn nhau cùng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giảng dạy, là con
đường giúp giảng viên tiếp tục rèn luyện các kỹ năng phân tích, tổng hợp, hệ
thống hóa, khái quát hóa những sự kiện khoa học và nâng cao nhận thức.
Hoạt động NCKH của giảng viên trường cao đẳng cũng nằm trong sự chỉ
đạo chung của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh việc tuân thủ các chủ trương,
chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, các trường đại học, cao đẳng
còn có nhiệm vụ quan trọng là tùy theo yêu cầu của ngành mà có trách nhiệm

Phương thức hoạt động NCKH thực chất là phương pháp nhận thức, tìm
tòi, khám phá, phát hiện cái mới trong hiện thực khách quan, bao gồm các
quan điểm tiếp cận và các thao tác cụ thể tác động tới đối tượng nghiên cứu
làm bộc lộ bản chất của đối tượng.
17


Đối với trường đại học, cao đẳng sẽ không thể có chất lượng cao trong
đào tạo nếu không tăng cường hoạt động NCKH, đó là một đòi hỏi khách
quan của quá trình đào tạo. Bởi vì, NCKH trước hết là phương thức tự đào tạo
của giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, tự tạo ra tiềm lực để nâng cao trình
độ, nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn, trên cơ sở đó nâng cao chất
lượng GD&ĐT. Thực tiễn luôn đặt ra cho khoa học những vấn đề cần nghiên
cứu để thúc đẩy quá trình nghiên cứu chung, đồng thời cũng là nơi thử thách,
kiểm nghiệm và chứng minh những thành quả NCKH. Công việc giảng dạy,
quản lý chỉ có thể thực sự hấp dẫn và hứng thú khi mỗi giảng viên tham gia
vào các hoạt động NCKH cụ thể.
1.1.2. Quản lý và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
trường cao đẳng
* Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành,
xã hội càng phát triển thì trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên, phát
triển theo. Sự phát triển của xã hội loài người dựa vào nhiều yếu tố, trong đó
có 3 yếu tố cơ bản là lao động, tri thức và quản lý. Khái niệm quản lý đã được
các nhà khoa học định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau:
Theo C.Mác, quản lý là chức năng đặc biệt được sinh ra từ tính chất
xã hội hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của
xã hội đều thông qua hoạt động của con người và như vậy quản lý tức là
hoạt động của con người điều khiển con người.
Theo các nhà khoa học: Harold Koontz, Cyril Odonell và Heinz

Chủ thể hoạt động quản lý khoa học là cơ quan quản lý và đội ngũ cán
bộ quản lý khoa học, được tổ chức thành hệ thống quản lý thống nhất. Trong
hệ thống quản lý thường bao gồm các bộ phận chuyên môn thực hiện các
chức năng cụ thể như kế hoạch, tổ chức, phối hợp, điều khiển, kiểm tra… Để
chủ thể quản lý phát huy tốt vai trò trong hệ thống quản lý khoa học đòi hỏi
phải xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý có đủ phẩm chất và năng lực,
19


hoàn thành được chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, đảm bảo sự vận
hành của bộ máy đạt hiệu quả cao.
Đối tượng hoạt động quản lý khoa học, được hiểu rộng ra đó là các nguồn
lực: nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin. Việc sử dụng và phát huy các nguồn
lực đó sao cho có hiệu quả là tùy thuộc vào năng lực của chủ thể quản lý.
Phương thức hoạt động quản lý khoa học là cách thức mà chủ thể quản lý
sử dụng các công cụ quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được
các mục tiêu xác định. Việc sử dụng phương pháp sao cho có hiệu quả còn
tùy thuộc vào năng lực của chủ thể quản lý.
* Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường cao đẳng
Quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trường cao đẳng là những tác
động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến toàn bộ hoạt động
NCKH của giảng viên, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng NCKH, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường.
Theo quan niệm đó quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trường cao
đẳng bao gồm:
Mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của giảng viên là phát huy tối đa
tiềm năng, trí tuệ, sự năng động, sáng tạo, tính tích cực của đối tượng quản lý
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của giảng viên; góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường.
Chủ thể quản lý hoạt động NCKH của giảng viên là Đảng ủy, Ban giám

Khoa, Bộ môn phải cụ thể hóa thành chỉ tiêu thực hiện nhiệm vụ NCKH cho
từng giảng viên sao cho phù hợp. Những chỉ tiêu này phải phù hợp với
chương trình đào tạo chung của nhà trường và tiềm lực thực hiện của từng
giảng viên, đồng thời có thể kiểm soát được bằng các sản phẩm khoa học như:
Các đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Cơ sở; các sáng kiến cải tiến; các chuyên đề,
tham luận khoa học; bài báo khoa học...
Để điều hành quá trình thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu đã xác định, bộ máy
quản lý giáo dục nói chung, quản lý khoa học nói riêng của nhà trường phải
21


xây dựng kế hoạch hoạt động NCKH của giảng viên. Đây là khâu có vai trò
đặc biệt quan trọng trong nội dung quản lý hoạt động NCKH của giảng viên.
Kế hoạch này thực chất là sự cụ thể hóa các chủ trương, nhiệm vụ, chỉ tiêu
NCKH của giảng viên thành hệ thống các công việc, phương thức, thời gian,
địa điểm, lực lượng tiến hành và sự phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng
trong nhà trường. Để kế hoạch hoạt động NCKH của giảng viên có căn cứ pháp
lý, tính thực tiễn, tính khả thi cao, các chủ thể quản lý phải tập hợp các tài liệu
làm căn cứ xây dựng kế hoạch, trước hết là các văn bản pháp quy, các quy định,
hướng dẫn của các cơ quan quản lý cấp trên về hoạt động NCKH; các chương
trình, kế hoạch, ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của nhà trường về công tác nghiên
cứu khoa học của giảng viên. Đồng thời từng cấp quản lý phải nắm vững nhu
cầu, nguyện vọng và khả năng thực hiện các nhiệm vụ NCKH của từng đơn vị
giáo dục, từng giảng viên. Từ đó đề xuất kế hoạch hoạt động NCKH của giảng
viên, chỉ rõ các phần việc, lực lượng thực hiện, có quy định cụ thể về mốc thời
gian, nội dung và phương thức triển khai và điều kiện hiệp đồng, đảm bảo.
Xây dựng kế hoạch là hành động đầu tiên của nhà quản lý nhằm đạt được
các mục tiêu của hoạt động quản lý. Xây dựng kế hoạch hoạt động bao gồm
xác định mục tiêu, thời gian, lộ trình thực hiện, điều kiện con người và các điều
kiện đảm bảo khác để đạt được mục tiêu đề ra. Việc xây dựng kế hoạch giúp

luận nói chung và phù hợp với yêu cầu phát triển lý luận, bám sát thực tiễn
theo nội dung từng Khoa, Bộ môn đang giảng dạy trong nhà trường. Trên cơ
sở đăng ký chỉ tiêu NCKH từ đầu năm học của các giảng viên và các Khoa,
Bộ môn để Phòng Quản lý NCKH tập hợp đưa vào kế hoạch NCKH chung
của nhà trường theo từng năm học cụ thể cho phù hợp với kế hoạch giáo dục
và đào tạo của nhà trường.
Các hoạt động NCKH trong các trường cao đẳng được tổ chức, tiến
hành đồng thời với các hoạt động giảng dạy, dưới các hình thức tổ chức thực
hiện các công trình NCKH, tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, nghiên
cứu sáng kiến kinh nghiệm, biên soạn đề cương bài giảng, viết bài cho Đặc
23


san Khoa học An ninh của trường và các tạp chí chuyên ngành, hướng dẫn
sinh viên NCKH và tham gia các cuộc thi tìm hiểu chuyên đề...
Nội dung nghiên cứu của đề tài thường tập trung vào các hướng cơ bản
sau: đề tài nghiên cứu về nghiệp vụ chuyên ngành của trường, nghiên cứu về
tâm lý và khoa học giáo dục, quản lý và các lĩnh vực khoa học khác có liên
quan đến các chuyên ngành đào tạo của nhà trường... Ngoài ra còn một số
nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo của nhà trường, của ngành trong tình hình hiện nay.
Quản lý nội dung hoạt động NCKH của giảng viên bao gồm các bước:
Lựa chọn vấn đề nghiên cứu, giao quyết định nghiên cứu, xây dựng kế hoạch
nghiên cứu, thu thập tài liệu, dự thảo, hội thảo, nghiệm thu sản phẩm khoa
học, ban hành sử dụng.
Nội dung chương trình NCKH của nhà trường phải đảm bảo thực hiện
được nội dung, chương trình NCKH do Bộ GD&ĐT ban hành, Bộ Công an
quy định, trong đó lưu ý đến trọng tâm nghiên cứu của nhà trường trên cơ sở
cân đối giữa đề tài mang nội dung khoa học chung và khoa học chuyên ngành...
Nội dung chương trình NCKH của giảng viên phải đảm bảo tính phù hợp

viên cần có sự đúc kết lại xem hình thức nào đạt hiệu quả cao nhất để phát
huy đồng thời cũng điều chỉnh bổ sung các hình thức cho phù hợp tình hình
thực tiễn.
1.2.3. Quản lý các điều kiện bảo đảm cho hoạt động hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên
Các yếu tố bảo đảm phục vụ cho hoạt động NCKH của giảng viên bao
gồm: Con người (nhân lực), nguồn lực về vật chất (vật lực), tài chính (tài lực)
và nguồn thông tin (tin lực). Các yếu tố đó thực sự là điều kiện thiết yếu đảm
bảo cho việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và khả năng
NCKH của giảng viên.
Nguồn nhân lực NCKH là chủ thể của hoạt động NCKH, đó là những
người có đủ phẩm chất, năng lực và trí tuệ để trực tiếp tham gia NCKH,
25


thường là những người có tài năng, được đào tạo cơ bản.
Nguồn tài lực NCKH là nguồn tài chính chi phí cho hoạt động NCKH
bao gồm: Ngân sách nhà nước chi cho hoạt động NCKH, kinh phí của tổ chức
dành cho NCKH và sự đầu tư của các giảng viên phục vụ cho NCKH. Quản
lý nguồn tài lực cho hoạt động NCKH tuân theo một quy trình chặt chẽ bao
gồm: Lập dự toán cho hoạt động NCKH hàng năm theo tài chính, duyệt dự
án, cấp phát (chi), thanh quyết toán, kiểm tra.
Nguồn vật lực NCKH là toàn bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư
chuyên dùng cho NCKH bao gồm: Cơ sở hạ tầng (như trụ sở làm việc, phòng
thí nghiệm,phòng thực hành,...); máy móc thiết bị dùng cho NCKH; hệ thống
mạng, máy tính, trang thiết bị phục vụ dạy học, văn phòng phẩm...
Quản lý hoạt động NCKH của giảng viên phải quan tâm đến thông tin, tư
liệu khoa học. Đây được coi là nguồn vật chất không thể thiếu được của quá
trình nghiên cứu vì thông tin, tư liệu đối với nhà khoa học như là “cơm ăn,
nước uống, không khí ” hàng ngày đối với con người. Làm khoa học mà thiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status