Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học công nghệ thông tin và truyền thông - Pdf 30


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN NGỌC ANH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA GIẢNG VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên, năm 2014

Thái Nguyên, năm 201

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu
có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là
trung thực và chưa từng được công bố ở trong bất kỳ công trình nghiên cứu
nào trước đây.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

TÁC GIẢ

Trần Ngọc Anh

Trần Ngọc Anh

3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CB Cán bộ
CBQL Cán bộ quản lý
CNTT&TT Công nghệ Thông tin và Truyền thông
ĐH Đại học
ĐHTN Đại học Thái Nguyên
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GV Giảng viên
HĐQL Hoạt động quản lý
KHCN Khoa học công nghệ
NCKH Nghiên cứu khoa học
NXB Nhà xuất bản
PGS Phó giáo sư
PGS.TS Phó giáo sư -Tiến sĩ
QL Quản lý
QLGD Quản lý giáo dục
QLKH Quản lý khoa học

động NCKH của giảng viên
Bảng 3.1: Kết quả đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp
Bảng 3.2: Kết quả đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ số lượng các bài báo khoa học của nhà trường…
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ số lượng các đề tài KHCN các cấp
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ lý do tham gia NCKH……
Biểu đồ 2.4: Mức độ ứng dụng các sản phẩm KHCN

37

37
39
40
40
42
44
48
49

51

55
69
71
38
38
41
50
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Trường
Đại học CNTT&TT
CHƢƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NCKH
CỦA GIẢNG VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC CNTT&TT
3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp quản lý hoạt động NCKH của
Trường Đại học CNTT&TT
1
1
3
3
4
4
4
5
6
6

8
8
11
21

32

35 53

57


7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, giáo dục đóng góp một
vai trò quan trọng đối với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển sự nghiệp
giáo dục và đào tạo luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta dành sự quan tâm đặc
biệt. Trong điều 13 của Luật Giáo dục Ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005 đã
nêu rõ : “ Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” [5].
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và
nền kinh tế tri thức, hoạt động nghiên cứu khoa học đã và đang trở thành động
lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Phó Thủ
tướng Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định “ Nghiên cứu khoa học có tầm quan
trọng đặc biệt trong công tác giáo dục, nhất là đối với các trường đại học vì nó
không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những phát

có thể kết luận rằng một giảng viên được đánh giá là có năng lực chuyên môn
tốt nhưng hàng năm lại không có công trình khoa học nào. Vì năng lực của
giảng viên được thể hiện chủ yếu thông qua giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ góp phần quan trọng để khẳng
định uy tín và vị thế của nhà trường. Mỗi bài viết tham gia hội thảo được đánh
giá cao, mỗi công trình nghiên cứu khoa học ở các cấp, mỗi bài viết đăng trên
tạp chí chuyên ngành với tên cán bộ, giảng viên gắn với tên nhà trường là một
lần thể hiện được thương hiệu và uy tín của nhà trường. Danh tiếng của nhà
trường không phải là cái gì đó chung chung mà nó phải được thể hiện thông
qua thành tích đóng góp của từng cán bộ, giảng viên, sinh viên của nhà trường.
Lênin đã từng nói “ Học, học nữa, học mãi”, trên con đường học tập và lao
động không ngừng, có những định nghĩa, những khái niệm có thể sẽ quên đi
nhưng những phương pháp tư duy, phương pháp suy luận, khả năng nghiên cứu
phân tích mà chúng ta thu lượm, sàng lọc và đúc rút được thông qua hoạt động
nghiên cứu khoa học sẽ tồn tại lâu dài trong bản thân mỗi người.

9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Thực tiễn cho thấy, trong thời gian vừa qua hoạt động học tập và nghiên
cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền
thông đã và đang được lãnh đạo nhà trường quan tâm và tích cực đẩy mạnh.
Giảng viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và thu được nhiều kết quả
tốt đẹp, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định, đặc biệt là trong
cách thức quản lý. Cụ thể như quy trình thực hiện, chế độ hỗ trợ kinh phí, cách
thức đánh giá xếp loại, thủ tục hành chính vẫn còn nhiều vướng mắc, nguồn
lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn hạn chế, chưa tương xứng với nhiệm
vụ và tiềm năng của nhà trường, vẫn tồn tại tình trạng tham gia nghiên cứu
khoa học để lấy thành tích, hoàn thành định mức Nói tóm lại, công tác quản
lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Công nghệ

tổ chức xét duyệt đánh giá minh bạch, công khai, các bộ phận phối hợp nhịp
nhàng, đồng bộ thì sẽ nâng cao được chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa
học cũng như chất lượng đào tạo của nhà trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên trong các trường đại học
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên trong những năm qua tại Trường Đại học Công nghệ Thông tin và
Truyền thông.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
giảng viên Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông và tiến hành
khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp này ở nhà trường.
6. Phạm vi giới hạn nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên được thể hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau như đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả các sản
phẩm nghiên cứu của đề tài, bài báo khoa học, tham dự hội nghị hội thảo Với
phạm vi giới hạn nghiên cứu đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quản lý ứng dụng
kết quả các sản phẩm nghiên cứu đề tài của giảng viên trường Đại học Công
nghệ Thông tin và Truyền thông.

11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đê thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã
vận dụng, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể:
7.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích và tổng hợp, mô hình hóa và hệ thống hóa lý
thuyết
Trên cơ sở nghiên cứu và khái quát các tài liệu, văn kiện chính sách của

kinh nghiệm trong việc quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học để đề xuất xây
dựng và kiểm nghiệm các biện pháp quản lý phù hợp, đạt hiệu quả cao.
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Trên cơ sở nghiên cứu các sản phẩm khoa học, công trình nghiên cứu của
tập thể cán bộ giảng viên trong trường và việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu
trong giảng dạy và học tập để hỗ trợ giải quyết mục đích nghiên cứu.
7.3. Nhóm phƣơng pháp xử lý số liệu
Chúng tôi sủ dụng phương pháp thống kê toán học, tổng hợp số liệu để làm
rõ thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường
Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông nhằm xử lý, phân tích và xây
dựng các biện pháp quản lý có tính khả thi.
8. Đóng góp mới của Luận văn
- Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về các biện pháp quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học.
- Đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trong
những năm vừa qua nhằm tìm ra những điểm tích cực và hạn chế trong công tác
quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Công nghệ Thông tin
và Truyền thông.
- Bước đầu tiếp cận và xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên phù hợp, hiện đại và hiệu quả để nâng cao chất
lượng đào tạo của nhà trường.
9. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương.

13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng
viên trong trường đại học
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRONG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong thời đại ngày nay, con người đang bước vào một thế giới mới, thế
giới của nền kinh tế tri thức với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật.
Những phát minh của khoa học công nghệ đã và đang được áp dụng hiệu quả
trong đời sống vật chất và tinh thần của con người trong xã hội.
Những thành tựu của khoa học kỹ thuật không chỉ làm thay đổi đời sống
kinh tế, vật chất, tinh thần của xã hội mà còn làm thay đổi cả phương pháp,
hình thức, nội dung và quá trình giảng dạy, học tập ở các cấp học trong nền
giáo dục đào tạo nước nhà, đặc biệt là các trường Đại học nơi trực tiếp diễn ra
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, biến nhà trường thành trung tâm
nghiên cứu, phát minh, sáng chế đồng thời ứng dụng những thành tựu khoa học
công nghệ vào thực tiễn phục vụ cho đời sống con người.
Nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp
giáo dục đào tạo tại các trường đại học, nhiêm vụ chính của một giảng viên đại
học là nghiên cứu, tìm hiểu và giảng dạy, truyền đạt tri thức. Nếu không có
nghiên cứu khoa học, nội dung bài giảng sẽ chỉ là những tri thức nhàm chán,

đến hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học còn gặp nhiều khó khăn nên chúng
tôi chưa thể nghiên cứu vấn đề này ở các nước trên thế giới một cách đầy đủ và
hệ thống. Sau đây là một số tài liệu mà chúng tôi đã nghiên cứu tìm hiểu:
Social research methods: Quanlitative and quanlitative approaches
(2000), Fourth Edition, W. Lawrence Newman University of Wisconsin at
Whitewater, Publisher: Alyn and Bacon, nêu đặc điểm và phân tích bản chất
đặc trưng của khoa học xã hội, đưa ra những gợi ý, chỉ dẫn về quy trình các
bước nghiên cứu của khoa học xã hội, trong đó có khoa học quản lý.
Scientific study methods: Improve your study habits and score higher with
less effort, compiled with commentary by Acarya Abhidevanan Da Avadhuta,

16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

First Edition 1985, Second Edition 2009 là một cuốn sách hữu ích cung cấp
thông tin về các phương pháp nghiên cứu, đúng hơn, mục đích của nó là để
giúp mọi người nâng cao năng lực nghiên cứu của mình, kiểm tra đánh giá và
đưa những kiến thức tìm hiểu vào thực tế.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn
đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục đặc biệt là hoạt động nghiên cứu khoa học, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã ban hành rất nhiều quy định, quy chế về hoạt động
nghiên cứu khoa học, tại mục 2 điều 2 trong Quy định về hoạt động khoa học
và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học được ban hành kèm theo thông
tư số 22/2011/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 05 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT có ghi rõ “ Hoạt động khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao ở trường
đại học, góp phần thức đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước ” [9]. Trong
mục 1 điều 18 của Luật giáo dục quy định “Nhà nước tạo điều kiện cho nhà
trường và cơ sở giáo dục khác tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa
học, công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm

được thực hiện một cách có hệ thống, chặt chẽ và quy củ. Hơn nữa, đối với một
người giảng viên năng lực chuyên môn và nghiên cứu khoa học là hai hoạt
động không thể tách rời nhau, chính là thước đo đánh giá và xếp loại giảng
viên. Vì vậy, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên sao cho có
hiệu quả, chất lượng là một việc làm cấp bách và cần thiết đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của xã hội.
Trong đề tài này, chúng tôi tiếp tục đi sâu, tìm hiểu và nghiên cứu nhằm
phát hiện những biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng
viên ở trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học trong thời kỳ mới.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học

18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

a) Khái niệm Khoa học
Khoa học (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây
dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có
thể kiểm tra được về vũ trụ. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa
học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất
thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân tích thông tin để giải thích
cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng. Một trong những cách thức
đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều
kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn
bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định nghĩa về khoa học
được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống
hóa.
Theo Từ điển tiếng Việt có viết “ Khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ

xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên
cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ” [6].
Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa
học nhằm nhận thức thế giới khách quan, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để
sử dụng vào cải tạo thế giới.
Chủ thể của nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học với những phẩm
chất trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo ở trình độ cao.
Khách thể của nghiên cứu khoa học là các sự vật, hiện tượng của tự nhiên,
xã hội và tư duy mà các nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra tri
thức khoa học.
Đối tượng nghiên cứu khoa học là thế giới phức tạp, mỗi bộ môn khoa học
chọn riêng cho mình một đối tượng.
Quá trình nghiên cứu khoa học được thực hiện trong một cơ quan nghiên
cứu được tổ chức chặt chẽ, có chương trình chiến lược hoạt động.
Mục đích nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và các quy
luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới nhằm áp dụng vào sản xuất vật

20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

chất hay tạo ra các giá trị tinh thần để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của con
người.
c) Hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới để
tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người. Hoạt động là một
phương thức cơ bản của sự tồn tại con người.
Thực chất hoạt động nghiên cứu khoa học chính là các quá trình nghiên
cứu khoa học. Đó là hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó là hệ
thống tri thức khoa học tham gia ngày càng sâu sắc và đầy đủ vào quá trình sản
xuất vật chất và mọi mặt của đời sống xã hội.

các nỗ lực cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác
của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra”.
Stephan Robbins quan niệm: “ Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử
dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đạt ra”.
Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học cũng đã đưa ra những ý kiến khác nhau
về quản lý nhưng đều nhấn mạnh rằng: Quản lý là một hoạt động mà trong đó
con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý.
Theo tác giả Trần Quốc Thành : “ Quản lý là những hoạt động có phối hợp
nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu” [28].
Trong cuốn Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý (2000 – NXB
Chính trị quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Bá Sơn) thì “ Quản lý là sự tác
động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ
thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ
thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ mục đích của con người ” [26].
Như vậy có thể nói rằng: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lý tới đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu
quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong
điều kiện môi trường luôn biến động ”.

22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Quản lý có những đặc điểm cơ bản sau:
- Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến;
- Hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ con người với con người;
- Quản lý là tác động có ý thức
- Quản lý là tác động bằng quyền lực;
- Quản lý là tác động theo quy trình;
- Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực;

năng cơ bản sau:
 Chức năng hoạch định (lập kế hoạch)
Hoạch định có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu
tương lai của bộ máy cũng như việc xác định các con đường, biện pháp, cách
thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Nội dung cơ bản của chức năng hoạch định là:
- Đặt ra mục tiêu cho bộ máy, hệ thống.
- Xây dựng các bước đi để đạt được mục tiêu.
- Xác định nguồn lực và các biện pháp để đạt tới mục tiêu.
 Chức năng tổ chức
Tổ chức bộ máy: Sắp xếp bộ máy đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu và
các nhiệm vụ phải đảm nhận. Nói cách khác phải tổ chức bộ máy phù hợp về
cấu trúc, cơ chế hoạt động để đủ khả năng đạt được mục tiêu, phân chia thành
các bộ phận sau đó ràng buộc các bộ phận bằng các mối quan hệ.
Tổ chức công việc: Sắp xếp công việc hợp lý, phân công nhiệm vụ rõ ràng
để mọi người hướng vào mục tiêu chung.
 Chức năng điều hành(chỉ đạo)
Chức năng hoạch định và tổ chức dù đã được thực hiện tốt nhưng nếu
không được đưa vào vận hành thực tiễn thì cũng không có giá trị gì cả. Việc
điều hành cơ cấu tổ chức quản lý để thực hiện lập kế hoạch tổ chức vì thế trở
thành vấn đề hết sức cần thiết. Người thực hiện việc điều hành tổ chức là người
phải thực sự nắm được quyền lực quản lý, có tri thức và kỹ năng lãnh đạo nhất
định.
Chức năng này tác động đến con người bằng các mệnh lệnh, làm cho
người dưới quyền phục tùng và làm đúng với kế hoạch, đúng với nhiệm vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status