MỞ ĐẦU
Bước vào thời kỳ đổi mới Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế là
nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, trong đó đổi mới và chỉnh
đốn tổ chức cơ sở đảng là khâu đột phá. Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI Đảng ta đề ra chủ đề của đại hội “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Như vậy lại một lần nữa Đảng ta
khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của TCCSĐ đối với sự tồn tại và phát
triển của bản thân Đảng cũng như đối với sự phát triển của toàn xã hội.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây
Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người
đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người căn dặn: Đảng phải luôn nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phải luôn tự chỉnh đốn để hoàn thành
nhiệm vụ vẻ vang. Trong những năm qua, công tác xây dựng Đảng nói chung,
xây dựng tổ chức cơ sở đảng nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng kể,
các tổ chức cơ sở đảng yếu kém đã giảm, hình thức hoạt động khá phong phú,
đa dạng đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, Đảng ta đú nghiêm túc, thẳng thắn chỉ ra
những mặt còn hạn chế, tồn tại. Đó là còn nhiều tổ chức cơ sở đảng chưa thể
hiện rừ chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị đối với chính quyền, đoàn
thể, các tổ chức kinh tế, sự nghiệp. Đó là sự suy thoái về chính trị, tư tưởng,
đạo đức, lối sống, nạn tham nhũng, quan liêu của một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên.
Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay việc “Tiếp tục nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng theo tư tưởng của
chủ tịch Hồ Chí Minh” là vô cùng quan trọng.
1
CHƯƠNG 1:
trị đã đề ra. Năng lực lãnh đạo bao gồm 2 thuộc tính cơ bản: Nănng lực hiểu
biết và năng lực tổ chức thực tiễn:
Năng lục hiểu biết: Thể hiện ở khả năng của mỗi người trong việc nhận
thức và nắm bắt các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy con
người
Trình độ hiểu biết và năng lực vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quy luật khách quan vào thực tiễn. Năng lực hiểu biết
phải được đưa vào thực tiễn, gắn liền với hoạt động thực tiễn thì sự hiểu biết
đó mới có giá trị.
Năng lực thực tiễn: Có vai trò quan trọng nhằm biến sự hiểu biết thành
hành động hiện thực và quyết định sự thành công hay thất bại của hành động
là thước đo nhận thức của mỗi người.
Năng lực thực tiễn bao gồm nhiều yếu tố: Từ việc đề ra chủ trương,
nhiệm vụ đến việc giải quyết những yêu cầu đặt ra trong quá trình thực hiện
các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tiến hành, sơ
kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm sau từng giai đoạn công việc hoặc theo
từng thời gian nhất định. Năng lực tự kiểm tra và kiểm tra việc thực hiện vai
trò lãnh đạo của Đảng, việc thực hiện Điều lệ Đảng, Pháp luật của Nhà nước
của từng đảng viên, từng tổ chức đảng. Khả năng đoàn kết tập hợp quần
chúng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng.
1.3. Sức chiến đấu của Tổ chức cơ sở đảng
Sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là khả năng vượt mọi khó khăn,
gian khổ để giành thắng lợi trong quá trỡnh lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoạt
động đúng định hướng, đạt hiệu quả cao. Sự thống nhất ý chí và hành động
của mỗi đảng viên; Tinh thần đấu tranh thẳng thắn chống lại những biểu hiện
sai trái để bảo vệ cái đúng, phê phán những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động
thực tiễn
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là 2 yếu tố
tạo thành sức mạnh của tổ chức cơ sở đảng, có mối quan hệ hữu cơ tác động
3
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu về V.I.Lênin như sau: "Khi còn
sống, Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay,
Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã
hội" [2, tr.239]
Khi trả lời phỏng vấn của một nhà báo Pháp năm 1969, Người khẳng định:
"Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng
một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi
đã chiến đấu và giành được những thắng lợi đó, trước hết là nhờ cái vũ khí
không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác-Lênin"[3, tr.476]
Ngày nay, khi mà hàng ngày, hàng giờ người cán bộ, đảng viên phải đối
mặt với nhiều vấn đề mới của cơ chế và tác động của những điều kiện trong
và ngoài nước như : Sự cám dỗ về vật chất của cơ chế thị trường, cơ chế mở;
trước sự phá hoại của kẻ thù thông qua chiến lược "Diễn biến hoà bình”…tất
cả những điều đó đang đặt ra vấn đề tiêu chuẩn đạo đức lối sống của cán bộ,
đảng viên lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, trước yêu cầu đó, Nghị
quyết Trung ương 3( khoá VIII) đã khẳng định : Người cán bộ phải có phẩm
chất và năng lực, có đức và tài, trong đó đức là gốc.
Xuất phát từ vai trò của đội ngũ đảng viên và đạo đức cách mạng của
đội ngũ đảng viên trong công tác xây dựng ,chỉnh đốn Đảng. Ta biết rằng
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng lên bởi
số lượng và chất lượng của đội ngũ đảng viên của Đảng. Theo Hồ Chí Minh,
sức mạnh của toàn Đảng là sức mạnh tổng hợp của đội ngũ đảng viên tạo nên:
"Đảng mạnh là do chi bộ tốt; chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”.
Tăng cường công tác giáo dục đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên
hiện nay còn xuất phát từ vai trò của giáo dục đạo đức lôí sống cho cán bộ,
đảng viên trong công tác xây dựng Đảng. Hồ Chí Minh căn dặn "Đảng ta là
một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần
đạo đức cách mạng; thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ
tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng
việc. Phụ trách không có cá nhân thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính
phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần
phải luôn luôn đi đôi với nhau” [6, tr.505]
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình được xem là
nguyên tắc, quy luật phát triển Đảng, là biện pháp tốt nhất để củng cố sự đoàn
kết, thống nhất trong Đảng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để làm
7
cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, làm cho mỗi một
tổ chức tốt lên, phần xấu bị mất dần đi.
Trong từng hoàn cảnh cụ thể, Hồ Chí Minh có cách nói khác nhau để
đạt được mục đích song Người thường đặt lên trước tự phê bình, sau đó mới
đến phê bình. Người cho rằng mỗi cán bộ, đảng viên trước hết tự mình phải
thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, cũng như phải tự
soi gương, rửa mặt hằng ngày. Hơn nữa, nếu biết tự phê bình tốt thì mới phê
bình người khác tốt được. Người luôn nhắc nhở, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng
viên phải "Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói,
những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết
điểm của mình". Người coi tự phê bình và phê bình là công cụ đắc lực để rèn
luyện cán bộ, đảng viên nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng
cường đoàn kết nội bộ hơn. Người thẳng thắn chỉ rõ "Một Đảng mà giấu
giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa
nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết
điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để
sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc
chắn, chân chính".
Người cũng lưu ý để làm được việc đó thì không dễ, "vì người ta hay
Để quản lý công tác cán bộ, Đảng có sự phân cấp, có đồng chí thuộc
diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có đồng chí thuộc diện tỉnh, thành ủy
quản lý. Nhưng phân cấp không có nghĩa là các đồng chí thuộc diện cấp trên
quản lý chỉ “sinh hoạt hờ” ở chi bộ, hoặc ỷ vào “bận công tác” mà không
tham gia sinh hoạt chi bộ một cách nghiêm túc, tự mình tách ra khỏi sự giám
sát, kiểm tra, phê bình của chi bộ về tư tưởng, đạo đức, nhân cách, quan hệ
công tác. Một thực tế cần chấn chỉnh là không ít ban chi ủy và chi bộ còn tự
ti, e dè, né tránh, không thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình đối với đảng
viên thuộc diện cấp trên quản lý. Nếu có thì cũng chỉ là hình thức, nặng về ca
ngợi chứ ít khi dám phê bình những sai lầm, khuyết điểm của họ, cho rằng
“đó là việc của cấp trên”. Còn cấp trên thì thường chỉ đặt vấn đề kiểm điểm
phê bình cán bộ, đảng viên thuộc diện quản lý khi “câu chuyện đã vỡ lở”, khi
quần chúng tố cáo và báo chí đã vào cuộc.
10
Bản thân nhiều đồng chí đảng viên thuộc diện cấp trên quản lý đã coi
thường sinh hoạt chi bộ, tự coi mình như loại đảng viên “đặc biệt”, “siêu
hạng”, đứng trên, đứng ngoài tầm kiểm soát của chi bộ. Không ít người đã
không tham gia đầy đủ các kỳ sinh hoạt chi bộ theo Điều lệ Đảng, thậm chí
quên cả nghĩa vụ tự mình đóng đảng phí mà thường là do thư ký nộp hộ. Có
lẽ cũng cần nhắc lại rằng việc đóng đảng phí không chỉ có ý nghĩa về tài
chính đối với Đảng mà quan trọng hơn là để thường xuyên nhắc nhở ý thức
của từng đảng viên đối với Đảng, để thấy rằng dù ở cương vị, cấp bậc nào thì
thực chất mình vẫn chỉ là một chiến sĩ cộng sản, một đảng viên của một chi
bộ. Chi bộ là nơi sinh thành, dưỡng dục người đảng viên và người đảng viên
phải có trách nhiệm xây dựng chi bộ, phải gương mẫu, làm gương sáng cho
các đảng viên khác và quần chúng noi theo.
Hầu hết các vụ việc tiêu cực trong những năm qua đều xảy ra ở các chi
các cô, các chú phải quan tâm đến việc xây dựng chi bộ… phải làm thiết
thực, đừng hình thức, đừng báo cáo sai”[8, 506]. Người còn nói đại ý rằng:
Mỗi đảng viên chỉ là một giọt nước, một phần tử nhỏ bé của Đảng. Nhưng
từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối,
thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả.
Chủ tịch Hồ chí Mình đòi hỏi mỗi đảng viên cộng sản cùng với phẩm
chất cách mạng cao quý còn phải có năng lực, vì có năng lực mới hoàn thành
tốt được nhiệm vụ của Đảng giao cho. Người dạy rằng, "Đảng yêu cầu cán
bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải giỏi về chuyên
môn, không thể lãnh đạo chung chung” [8, tr.366]. Muốn vừa thạo về chính
trị, vừa giỏi về chuyên môn, mỗi đảng viên phải ra sức "học tập chủ nghĩa
Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập văn hoá, kỹ thuật
và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và năng
lực công tác của mình”[9, tr.368]. Bởi vì, có học tập lý luận Mác - Lênin
mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu
biết và trình độ chính trị, mới làm tốt được công tác Đảng giao cho mình; “có
nắm vững đường lối cách mạng mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo
phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách
12
mạng hiện nay”. Người cũng chỉ rõ rằng, muốn học tập có kết quả tốt, phải
có thái độ đúng và phương pháp đúng, lý luận phải liên hệ với thực tế, phải
“biến những điều đã học thành hành động cách mạng thực tế. Học phải đi
đôi với hành, chứ không phải học để nói suông”. [9, tr.488].
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách đảng viên cộng sản luôn nhấn
mạnh vấn đề xây dựng ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ
luật của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Bởi lẽ, sức mạnh
vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm. Người
chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người.
3.1. Thực trạng tổ chức cơ sở đảng ở nước ta hiện nay
14
3.1.1 Những ưu điểm và nguyên nhân
3.1.1.1 Ưu điểm
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hầu hết các tổ chức đảng
và đội ngũ cán bộ, đảng viên đã thể hiện tốt vai trò lãnh đạo, vững vàng trước
những khó khăn, thử thách. Nhiều tổ chức cơ sở đảng đã giữ vững và phát
huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cán bộ, đảng viên và
nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên; thực hiện có kết quả nhiệm vụ
chính trị, công tác chuyên môn của địa phương, cơ quan, đơn vị.
Việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được triển khai và
bước đầu đem lại kết quả tích cực, dân chủ trong Đảng và trong xã hội bước
đầu được mở rộng hơn. Nhiều cấp uỷ cơ sở đã coi trọng xây dựng quy chế
làm việc và thực hiện quy chế; duy trì chế độ giao ban định kỳ giữa thường
trực cấp uỷ với chính quyền, các tổ chức chính trị- xã hội ở cơ sở.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch đội ngũ cán bộ cơ sở được
quan tâm, chú ý hơn. Đội ngũ cấp ủy và cán bộ, đảng viên ở cơ sở được tăng
thêm về số lượng và chất lượng; trình độ, kiến thức các mặt được nâng lên.
Nhiều cấp ủy viên và cán bộ, đảng viên ở cơ sở đã được rèn luyện, thử
thách, trưởng thành qua thực tiễn công tác; kiên định lập trường giai cấp công
nhân, trung thành với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường
lối đổi mới của Đảng, thể hiện vai trò tiền phong gương mẫu, có tinh thần
trách nhiệm; có quan hệ mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
3.1.1.2 Nguyên nhân của ưu điểm
Những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư
đã có nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị và giải pháp lớn về xây dựng tổ
phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở, có tổ chức đảng bị
mất sức chiến đấu.
Trong sinh hoạt đảng ở cơ sở còn tồn tại những yếu kém sau: Nhiều cấp
uỷ, chi bộ, đảng bộ chưa thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ
16
trong Đảng. Chưa thực hiện có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng, nội dung sinh
hoạt chi bộ chậm đổi mới. Chưa coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo và
phong cách, lề lối làm việc; bệnh thành tích còn năng và khá phổ biến.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn chế, yếu kém. Một
bộ phận đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu; hiện tượng nể
nang, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh đang phổ
biến trong Đảng. Tình thương yêu đồng chí bị giảm sút. Bệnh cơ hội, thực
dụng và tình trạng mê tín dị đoan trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có xu
hướng ngày càng tăng.
Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán
bộ, đảng viên ở cơ sở bị buông lỏng. Cấp ủy và chi bộ không nắm chắc tình
hình tư tưởng và phẩm chất của cán bộ, đảng viên; chưa chủ động dự báo và
chuẩn bị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trước những vấn đề mới; chưa có
biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa, phát hiện, đấu tranh và xử lý kịp thời những
đảng viên vi phạm. Công tác kết nạp đảng viên còn chạy theo thành tích, số
lượng theo kế hoạch; chưa quan tâm đúng mức việc giáo dục, bồi dưỡng động
cơ, lý tưởng cách mạng và rèn luyện thủ thách đối với quần chúng phấn đấu
vào Đảng.
3.1.2.2 Nguyên nhân của khuyết điểm
Do những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới; sự
chống phá, tiến công thâm độc của bọn phản động và các thế lực thù địch,
nhất là trên lĩnh vực tư tưởng chính trị; những mặt trái của kinh tế thị
trường…đã tác động nhiều mặt đến công tác xây dựng Đảng và đội ngũ cán
phải kết hợp chặt chẽ với thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh"; với xây dựng chính quyền, các tổ chức chính
trị - xã hội ở cơ sở vững mạnh; với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng
viên, trước hết là bí thư đảng bộ, chi bộ,người đứng đầu và các cấp uỷ viên.
3.2.2.Những giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng hiện
nay.
3.2.2.1 Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng
đội ngũ cán bộ, Đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, có
18
phẩm chất đạo đức cách mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiền
phong gương mẫu, có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lượng sinh
hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật, tăng cường đoàn
kết, thống nhất trong Đảng. Thường xuyên giáo dục, rèn luyện , nâng cao
phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trình độ, kiến thức và năng lực công
tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Các cấp ủy phải chủ động hơn trong công tác chính trị tư tưởng, chủ
động dự báo để trang bị kịp thời những thông tin chính thống, có định hướng
của Đảng cho cán bộ, đảng viên; đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, biện
pháp giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền sâu
rộng đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
thường xuyên bồi dưỡng lý tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng
cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Chủ động khắc phục những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, cơ hội, thực
dụng, vụ lợi, cá nhân, trung bình chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh với những
luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động, góp phần làm thất bại âm mưu
“diễn biến hòa bình”, chống phá, bạo loạn, lật đổ của bọn phản động và các
thế lực thù địch.
hoặc đảng bộ cơ sở khối doanh nghiệp tư nhân trực thuộc quận, huyện ủy.
Những địa phương còn nhiều thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, trường
học, doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên thì cấp uỷ cấp
trên trực tiếp của cơ sở phân công cấp uỷ viên và các ban, nghành, đoàn thể
phụ trách từng đơn vị cụ thể để chỉ đạo công tác kết nạp đảng viên, xây dựng
tổ chức đảng và các tổ chức chính trị- xã hội.
3.2.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở,
nhất là các cấp uỷ viên. Từng bước nhất thể hoá chức danh cán bộ; tạo
bằng được bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức ở cơ sở.
20
Đội ngũ cấp ủy viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của
tổ chức cơ sở đảng, bởi họ là hạt nhân lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Vì
vậy, cần phải lựa chọn những người tiêu biểu nhất, những người có đủ phẩm
chất, năng lực, kiến thức thực tiễn, bám sát đơn vị cơ sở và am hiểu về công
tác xây dựng Đảng để bầu vào cấp ủy.
Cần có chế độ chính sách phù hợp với đội ngũ cán bộ, đảng viên cấp cơ
sở để tạo điều kiện thuận lợi cho họ hoạt động. Nghị quyết Trung ương 6 khóa
X của Đảng đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng hệ thống chính sách
phù hợp và đồng bộ đối với đội ngũ cán bộ công chức cơ sở cấp xã theo
hướng: một số chức danh cán bộ chuyên trách ở cấp xã nếu cần và có đủ điều
kiện thì xem xét chuyển thành công chức nhà nước; các chức danh cán bộ
chuyên trách khác không đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì thực hiện theo chế độ
hiện hành, khi được giữ chức vụ do bầu cử thì hưởng chế độ phụ cấp trách
nhiệm và thực hiện chế độ bảo hiểm
Thực hiện thí điểm chủ trương nhất thể hoá hai chức danh cán bộ chủ
chốt ở cơ sở. Thực hiện thí điểm từng bước đại hội đảng bộ cơ sở bầu cấp uỷ,
Các chi bộ phải thực hiện tốt việc phân công công tác cho đảng viên,
bảo đảm mọi đảng viên trong chi bộ đều được phân công công tác đảng phù
hợp với trình độ, năng lực, sức khỏe. Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ
sở đảng phải chỉ đạo các ban, ngành có liên quan tiến hành kiểm tra, thẩm
định chặt chẽ kết quả đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên của cấp
ủy cơ sở; thông báo rộng rãi, công khai để cán bộ, đảng viên và nhân dân biết,
tham gia ý kiến trước khi cấp ủy quyết định công nhận và chịu trách nhiệm
trước cấp trên về quyết định công nhận đó. Biểu dương, khen thưởng kịp thời
những điển hình tiên tiến, những tổ chức cơ sở đảng, đảng viên có thành tích
xuất sắc và tuyên truyền, phổ biến kinh nghiệm trên các phương tiện thông tin
đại chúng.
22
KẾT LUẬN
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
không chỉ là sự khẳng định về vị trí vai trò nền tảng, hạt nhân chính trị ở cơ
sở của tổ chức cơ sở đảng mà còn cho thấy rõ được vai trò trách nhiệm của
mỗi cán bộ đảng viên, đặc biệt là ở cơ sở trong việc phát huy tính tiên phong
gương mẫu trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như các hoạt động
xây dựng Đảng ở địa phương đơn vị mình, để không ngừng tăng cường vai
trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.
Thực tiễn hơn 81 năm qua đó khẳng định ý nghĩa to lớn của việc nâng cao
năng lực lónh đạo, sức chiến đấu, góp phần quan trọng xây dựng Đảng ta luôn
trong sạch, vững mạnh, thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hầu hết các tổ chức đảng và
đội ngũ cán bộ, đảng viên đó thể hiện tốt vai trũ lónh đạo, vững vàng trước
những khó khăn, thử thách. Kết quả của Cuộc vận động “Học tập và làm theo
13. Giáo trình Xây dựng Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, NXB.CTQG,
H.2004
14. Tổ chức cơ sở Đảng với cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng,
PGS.TS Nguyễn Cúc, NXB. CTQG, H.2004.
15. 360 câu hỏi và trả lời về tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên, NXB. CTQG,
H.2004
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng, NXB. CTQG, H. 2005
17. Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở Đảng hiện nay, Nguyễn Đức Hà,
NXB. CTQG, H.2010
MỤC LỤC
Trang
Mở
đầu
1
Chương 1: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở
đảng
–
một
số
khái
tổ
chức
cơ
sở
đảng
sở
đảng
2
1.3.
Năng
lực
lãnh
đạo
của
3
25