Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của lưỡng cư, bò sát trong một số sinh cảnh tại xã y tý, huyện bát xát, tỉnh lào cai - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ ĐỨC DŨNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ
CỦA LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT TRONG MỘT SỐ SINH CẢNH
TẠI XÃ Y TÝ, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2016

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ ĐỨC DŨNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ
CỦA LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT TRONG MỘT SỐ SINH CẢNH
TẠI XÃ Y TÝ, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC
Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC


Sư phạm Thái Nguyên; Ban quản lí và cán bộ Chi cục kiểm lâm, Đảng ủy, Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai cũng như
nhân dân địa phương trong quá trình thu thập tài liệu và thực địa. Tôi xin trân
trọng cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Trong quá trình nghiên cứu và phân tích số liệu, tôi cũng nhận được sự
giúp đỡ tận tình về chuyên môn của của TS. Nguyễn Thiên Tạo (Bảo tàng Thiên
nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm KH & CN Việt Nam). Xin được trân trọng cảm
ơn thầy.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, thủ trưởng đơn vị và các
anh chị em đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi vượt qua khó khăn để
hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn

Lê Đức Dũng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ii




MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT........................................................... iv

3.3. Địa điểm nghiên cứu................................................................................... 24
3.4. Thời gian nghiên cứu .................................................................................. 24
3.5. Thiết bị nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu ....................................... 24
3.5.1. Thiết bị nghiên cứu ............................................................................ 24
3.5.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 25
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................... 33
4.1. Thành phần loài LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai .............. 33
4.2. Nhận xét về thành phần loài LCBS ở KVNC............................................. 35
4.2.1. Sự đa dạng về thành phần phân loại học.......................................... 35
4.2.2. So sánh sự tương đồng về thành phần loài LCBS của KVNC
với một số khu vực khác ............................................................................ 37
4.2.3. Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài LCBS bổ
sung cho tỉnh Lào Cai ................................................................................ 38
4.3. Sự phân bố LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ...................... 40
4.3.1. Phân bố theo sinh cảnh..................................................................... 40
4.3.2. Phân bố theo nơi ở............................................................................ 44
4.3.3. Phân bố theo độ cao ......................................................................... 48
4.4. Các loài LCBS quý hiếm ở khu vực nghiên cứu ........................................ 50
4.5. Các nhân tố đe dọa khu hệ LCBS và đề xuất hướng bảo tồn ..................... 51
4.5.1. Các nhân tố đe dọa LCBS ở KVNC................................................. 51
4.5.2. Đề xuất hướng bảo tồn LCB Sở KVNC .......................................... 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 57

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

iv




KVNC

Khu vực nghiên cứu

LC

Lưỡng cư

LCBS

Lưỡng cư, bò sát

SC

Sinh cảnh

SĐVN

Sách Đỏ Việt Nam, 2007. Phần Động vật

VQG

Vườn quốc gia

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

iv





Sự phân bố các bậc phân loại của LCBS theo nơi ở ..................... 44

Bảng 4.7.

Danh sách các loài LCBS quý hiếm ở KVNC .............................. 50

Biểu đồ 4.1. Tỉ lệ số loài LCBS phân bố trong từng sinh cảnh ở KVNC (%) ....... 42
Biểu đồ 4.2. Tỉ lệ số loài LCBS phân bố trong từng nơi ở tại KVNC (%) ..... 45
Biểu đồ 4.3. Tỉ lệ số loài LCBS phân bố theo độ cao tại KVNC (%) ............. 49

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

v




DANH LỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 2.1.

Bản đồ các điểm thu mẫu thuộc xã Y Tý, huyện Bát Xát,
tỉnh Lào Cai ................................................................................. 23

Hình 3.1.

Bàn chân lưỡng cư không đuôi ................................................... 28


Mắt thằn lằn (theo Bourret, 1943) ............................................... 31

Hình 4.1.

Sự tương đồng về đa dạng loài tập hợp theo nhóm giữa
KVNC với các khu vực khác ...................................................... 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

vi




MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lưỡng cư, bò sát (LCBS) là những mắt xích quan trọng trong lưới thức
ăn của các quần xã sinh vật. Với số lượng loài rất phong phú và đa dạng, LCBS
là tài sản vô giá đối với cộng đồng, là nền tảng trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường đồng thời có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
đối với nông nghiệp và góp phần vào việc cân bằng sinh thái trong hệ tự nhiên
và hệ nhân văn.
Ngoài giá trị khoa học, LCBS từ lâu đã được con người sử dụng làm thực
phẩm, dược liệu, vật trang trí - động vật cảnh, trong kỹ nghệ da, và là thiên địch
của rất nhiều loài sâu bọ phá hoại mùa màng, kể cả một số loài gặm nhấm gây
hại cho con người như chuột... Mặt khác, ở một mức độ nhất định, chúng cũng
là động vật gây hại: các loài rắn độc đe dọa sức khỏe, tính mạng con người và
vật nuôi; là những vật chủ trung gian truyền bệnh của nhiều loài kí sinh; hay có
thể xâm hại ngành thủy sản do các loài cá cũng là con mồi tự nhiên của nhiều
LCBS…

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những dẫn
liệu khoa học cập nhật về hiện trạng khu hệ LCBS của vùng nghiên cứu. Mô tả
được sự đa dạng về thành phần loài và các loài quý hiếm, đồng thời xác định
được sự phân bố của LCBS theo sinh cảnh, nơi ở và độ cao. Mô tả được đặc điểm
hình thái, sinh thái của những loài quý hiếm.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung số liệu góp
phần xây dựng cơ sở khoa học cho công tác quản lý, xây dựng KBTTT Bát Xát
theo Quyết định số 3049/QĐ-UBND, ngày 05/01/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Lào Cai. Đồng thời bổ sung mẫu LCBS cho phòng Bảo tàng khoa Sinh học
trường ĐHSP Thái Nguyên.
2


4. Nội dung nghiên cứu
- Phân chia các môi trường sống của LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh
Lào Cai.
- Điều tra thành phần loài. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học
của các loài LCBS ở KVNC.
- Nghiên cứu sự phân bố theo độ cao, SC và nơi ở của các loài LCBS
ở KVNC.
- So sánh sự đa dạng của LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
với một số KVNC khác ở Tây Bắc Việt Nam.
- Đánh giá tầm quan trọng, hiện trạng và các mối đe doạ đến các loài
LCBS. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý và bảo tồn các loài LCBS ở
xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
5. Đóng góp của đề tài
- Xây dựng danh sách thành phần loài LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát,
tỉnh Lào Cai.
- Lập danh sách các loài quý hiếm theo các mức độ ở KVNC.

về LCBS ở giai đoạn trước 1954 của Đông Dương. Địa điểm khảo sát trong các
nghiên cứu của ông tập trung ở miền Nam, trong khi vùng Đông Bắc chủ yếu ở
các khu nghỉ mát (Mẫu Sơn, Tam Đảo...), các khu đồn trú của lính Pháp (Ngân
Sơn...). Các nghiên cứu LCBS ngay sau đó bị đình trệ khi cuộc kháng chiến
chống Pháp nổ ra ở Việt Nam.

4


Năm 1962, Đào Văn Tiến đã có những ghi nhận đầu tiên về loài trăn đất
(Python molurus) và ba ba gai (Palea steindachneri) ở Đình Cả (Võ Nhai, Thái
Nguyên)[12]. Tiếp theo đó là các đợt khảo sát và thu mẫu của Nguyễn Văn Sáng
(1967), Nguyễn Quốc Thắng (1968), Đỗ Tước (1969), Kim Ngọc Sơn (1970), và
một số chuyến hướng dẫn thực địa sinh viên của trường ĐH Tổng hợp Hà Nội
Theo Trần Kiên (1981), xác định tổng cộng 34 loài LC và 74 loài BS ở Bắc Thái
cũ (nay gồm Thái Nguyên và Bắc Kạn)[12].
Từ năm 1977 đến 1982, Đào Văn Tiến đã liên tiếp công bố 5 bài báo tổng
hợp và xây dựng khóa định loại cho 87 loài LC(1977) [45], 32 loài rùa và 2 loài
cá sấu (1978) [46], 77 loài thằn lằn (1979) [47], 165 loài rắn (1981 [48],1982[49])
ở Việt Nam. Khóa định loại này đã góp phần đáng kể vào việc xác định tên loài
LCBS sau đó.
Cuối thế kỷ XX, một loạt những công bố của các nhà khoa học đã thống kê
và bổ sung rất nhiều loài mới cho danh lục LCBS Việt Nam. Trước tiên phải kể đến
công bố về thành phần loài rắn ở miền Bắc Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và đtg
(1981). Đến năm 1995, Lê Nguyên Ngật và đtg đã thống kê có 32 loài ếch nhái ở
rừng Tam Đảo [16]. Năm 1998, Lathrop và đtg mô tả loài mới phát hiện ở Tam
Đảo(Lepolalax sungi) và ở Tuyên Quang (Leptolalax nahangensis) [68]. Tiếp theo
đó, Nguyễn Văn Sáng (2000) đã thống kê được: Ở vùng núi Yên Tử (Bắc Giang)
có 19 loài LC và 36 loài BS trong đó có 3 loài LC và 2 loài BS đặc hữu Việt Nam,
2 loài LC và 12 loài BS quý hiếm [37]; ở Hữu Liên (Lạng Sơn) có 20 loài LC và 28

này có 80 loài [19]. Năm 2007, Lê Nguyên Ngật và đtg thống kê được ở 3 huyện
Chiêm Hóa, Na Hang, Sơn Dương (Tuyên Quang) có 97 loài LCBS (gồm 43 loài
LC thuộc 8 họ, 3 bộ và 54 loài BS thuộc 14 họ, 2 bộ) với 22 loài quý hiếm; và đã
bổ sung 48 loài so với danh lục 2005 [21]; thống kê ở Hà Giang có 86 loài (gồm
49 loài LC, 37 loài BS), bổ sung 8 loài LC, 23 loài BS cho Hà Giang so với danh
lục 2005 [22]. Năm 2008, tác giả này tiếp tục bổ sung ghi nhận khu phân bố của
thằn lằn cá sấu Shinisaurus crocodilusus ở vùng núi Tây Yên Tử- Sơn Động (Bắc
Giang) [25]; thống kê ở KBTTN Xuân Nha có 25 loài LC và 48 loài BS, trong đó
6


ghi nhận bổ sung cho khu hệ LCBS tỉnh Sơn La 71 loài [24]. Đến năm 2009, Lê
Nguyên Ngật và đtg đã tổng kết được số loài LCBS ở vùng Đông Bắc là 278 loài
(chiếm 51,01% số loài LCBS ở Việt Nam), trong đó có 109 loài LC thuộc 36
giống, 10 họ, 3 bộ và 169 loài BS thuộc 86 giống, 22 họ, 3 bộ. Vùng Đông Bắc có
đủ 6 bộ LCBS và đặc biệt có đủ 5 loài thuộc bộ LC Có đuôi (Urodela) của Việt
Nam [26]. Năm 2011, Lê Nguyên Ngật và đtg đã tổng hợp và lập danh sách các
loài LCBS ở 4 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình, đã thống kê được
59 loài LC và 98 loài BS [27].
Cùng thời gian đó, Böhme và đtg (2005) đã mô tả một loài cá cóc mới
cho khoa học Tylototritonvietnamensis ở vùng đất thấp Lục Nam (Bắc Giang),
Cao Bằng, Nghệ An [62].Cũng tại Bắc Giang, Trần Thanh Tùng và đtg (2006)
thống kê ở vùng núi Yên Tửcó 101 loài LCBS (41 loài LC, 60 loài BS) [54];
sau đó tác giả này đã lần lượt đưa ra các danh sách loài LCBS khác nhau ở
khu vực núi Yên Tử theo các năm: 2007 với 123 loài, kèm sự phân bố theo
sinh cảnh và độ cao [23]; 2008 với 133 loài, trong đó có 37 loài đặc hữu và
quý hiếm [55].
Tiếp đến là những công bố mới của Nguyễn Quảng Trường và đtg đã ghi
nhận 67 loài LCBS (trong đó có 35 loài LC thuộc 7 họ, 2 bộ và 32 loài BS thuộc
10 họ, 2 bộ), bổ sung 4 loài LC, 6 loài BS so với trước đó; trong đó có 15 loài

loài LC và 23 loài BS [51].
Orlov và đtg (2009) đã ghi nhận sự phân bố loài Protobothrops
trungkhanhensis, mẫu thu ở KBTTN Trùng Khánh (Cao Bằng)[83].
Kể từ năm 2009 đến nay, nhiều đề tài được thực hiện theo những hướng
nghiên cứu mới tại nhiều khu vực đã bổ sung những ghi nhận mới về thành phần
loài cho Danh lục LCBS Việt Nam.
Năm 2010, Nguyễn Văn Sáng và đtg thống kê ở KBTTN Xuân Nha có 50
loài BS và 28 loài LC, trong đó ghi nhận bổ sung cho danh sách LCBS Sơn La 4
loài [42].

8


Herbert và đtg (2010)mô tả loài mới Gekko canhi ở Hữu Liên (Lạng
Sơn)[66]; ghi nhận vùng phân bố mới của loài Scincella monticola ở Mẫu Sơn
(Lạng Sơn); công bố loài Scincella apraefrontalis được thu thập tại vườn quốc
gia Hữu Liên - Hữu Lũng (Lạng Sơn) [73]; công bố loài thằn lằn mới Scincella
darevskii dựa trên mẫu vật thu được tại huyện Tuần Giáo (Điện Biên) [72]. Sau
đó, David và đtg (2012)công bố loài mới Oligodon nagao ở Lạng Sơn, Cao Bằng,
Quảng Tây (Trung Quốc) và Trung Lào [63]; Nguyễn Quảng Trường và đtg
(2013) công bố 1 loài mới thuộc nhóm Gekko japonicus ở Cao Bằng và Quảng
Tây (Trung Quốc)[78]; công bố loài thằn lằn mới Hemiphyllodactylus zugi
(Reptilia: Gekkonidae) ở Hạ Lang (Cao Bằng) dựa trên kết quả phân tích phân
tử và so sánh hình thái (2013) [76].
Năm 2013, Lê Xuân Cảnh đã thu thập cơ sở dữ liệu các loài động vật có
nguy cơ bị đe dọa ở Việt Nam, trong đó có 169 loài BS (gấp 3,84 lần so với 44
loài năm 2007) và 72 loài LC (gấp 5,54 lần so với 13 loài năm 2007), báo động về
đa dạng sinh học LCBS ở nước ta nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng [4].
Nguyễn Lân Hùng Sơn và đtg (2013) tiếp tục thu thập mẫu của 32 loài
LCBS để cung cấp cho Bảo tàng thiên nhiên VQG Xuân Sơn, trong đó có 19 loài

Tại Thái Nguyên, Hoàng Văn Ngọc, Phạm Đình Khánh (2015) đã bổ sung
16 loài LCBS(thuộc 5 họ, 2 bộ) cho danh lục LCBS tỉnh Thái Nguyên, nghiên
cứu này được ghi nhận ở KBTTN Thần Sa-Phượng Hoàng [31].
Cùng năm 2015, theo nghiên cứu của Ma Ngọc Linh, Hoàng Văn Ngọc
[15] cũng đã ghi nhận bổ sung 7 loài cho danh lục LCBS ở tỉnh Bắc Kạn; trong
đó 2 loài thuộc họ Thằn lằn bóng (Scincidae), 3 loài thuộc họ Rắn nước
(Colubridae) và 2 loài thuộc họ Rắn lục (Viperidae).
Năm 2016, Pham Văn Anh và đtg đã công bố một loài mới thuộc họ
Odorrana (Odorrana mutchmanni) tại Hạ Lang (Cao Bằng) [86].
Nói chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước tại vùng Đông Bắc Việt Nam chủ yếu tập trung vào vấn đề định loại, phân
loại để phát hiện ra những loài mới, bổ sung cho danh lục LCBS Việt Nam, đồng
thời đưa ra phương án quản lí và bảo tồn những giống loài quý hiếm.
10


1.2. Lịch sử nghiên cứu LCBS ở tỉnh Lào Cai
Từ thời kì Pháp thuộc đến nay, Sa Pa (Lào Cai) được biết đến là một địa
danh du lịch nổi tiếng. Ngoài những công trình kiến trúc lớn như nhà nghỉ, đường
xá… do thực dân Pháp xây dựng trong thế kỷ trước, thì những công bố khoa học
tại đây cũng đã được biết đến như là những cột mốc lịch sử. Đặc biệt là trong
lĩnh vực phân loại và định loại LCBS. Về thành phần loài LCBS ở vùng núi Sa
Pa từ năm 1934-1943, Bourret đã lập danh sách gồm 25 loài LC, 7 loài thằn lằn,
49 loài rắn và 2 loài rùa [94].Nghiên cứu của Ohler và đtg (2000) ghi nhận ở
VQG Hoàng Liên có 42 loài LC trong đó có 6 loài đặc hữu [79].
Bước sang thế kỷ XXI, những vấn đề về LCBS tại Sa Pa tiếp tục được
nghiên cứu, đồng thời mở rộng thêm toàn tỉnh Lào Cai.
Năm 2001, Lê Nguyên Ngật và đtg ghi nhận 112 loài trong đó có 44 loài
LC và 68 loài BS ở vùng núi Sa Pa [17]. Grosjean và đtg (2001) đã mô tả chi tiết
đặc điểm hình thái nòng nọc của loài Leptobrachium echinatum [96].

Năm 2009, Nguyễn Quảng Trường và đtg đã bổ sung các ghi nhận mới về
vùng phân bố cũng như thông tin về sinh cảnh sống và sinh sản của các loài thuộc họ
Cá cóc Salamandridae ở Lào Cai. Theo ông, loài cá cóc bụng hoa Paramesotriton
deloustali thường sống ở các suối đá trong rừng thường xanh có độ cao từ 250-1.200
m; loài cá cóc sần Tylototriton asperrimus được tìm thấy ở vũng nước nhỏ trong rừng
thường xanh, ở độ cao 800 m tại Văn Bàn (Lào Cai) [53].
Năm 2010, Herbertvà đtg đã ghi nhận và mô tả loài mới Gekko canhi ở Sa
Pa [66]; Tropidophorus boehmei ở núi Fansipan - Sa Pa (mẫu thu được dọc suối
rừng Hoàng Liênở độ cao 1.200-1.300 m) và ở Văn Bàn [74].
Ziegler và đtg (2010) đã ghi nhận loài Boiga cyanea thu được ở rừng
thường xanh trên núi Fansipan (Sa Pa) [90].
Đến năm 2013, Nguyễn Quảng Trường đã tiếp tục mô tả và bổ sung một
loài mới cho giống Oreolalax (Anura: Megophryidae) là Oreolalax sterlingaethu
được ở độ cao 2.900 m trên núi Hoàng Liên (Sa Pa) [77].
Nhìn chung, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã có nhiều công trình
nghiên cứu tại Lào Cai, nhưng chủ yếu là tại khu vực VQG Hoàng Liên huyện Sa Pa,
KBTTN Hoàng Liên huyện Văn Bàn. Những công bố trên chủ yếu là lập danh sách
loài, xác định những loài quý hiếm làm cơ sở cho việc xây dựng các KBTTN.
Do đó, xã Y Tý (Bát Xát) đã trở thành một khu vực nghiên cứu hoàn toàn
mới đối với các nhà khoa học trong và ngoài nước. Đặc biệt kể từ quyết định
thành lập KBTTN Bát Xát (2013) [56].
12


Chương 2

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lí
Xã Y Tý nằm cách trung tâm huyện lị Bát Xát khoảng 82 km về phía Tây

2.1.3. Khí hậu - thủy văn
2.1.3.1. Khí hậu
Xã Y Tý nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ảnh hưởng
của địa hình núi cao, nên khí hậu của xã mang tính chất của khí hậu tiểu vùng
cận nhiệt đới và ôn đới ẩm [33].
Theo kết quả quan trắc do trạm khí tượng Sa Pa và Lào Cai cho thấy:
- Nhiệt độ trung bình cả năm là 15oC, năm cao nhất là 16,6oC, năm thấp
nhất 14,3oC.
- Lượng mưa trung bình năm từ 1.800-3.838 mm.
- Nắng trung bình cả năm là 1.344 giờ, năm cao nhất lên đến 1.600 giờ.
- Độ ẩm không khí bình quân hàng năm dao động từ 82-87%, tháng thấp
nhất 74%, cao nhất trong năm 95%.
- Chế độ gió: do nằm ở vùng núi cao nên không có bão lớn xảy ra nhưng
thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió núi.
- Hiện tượng mưa đá về mùa hè từ 2-4 lần/năm, vào mùa đông thường xảy
ra sương muối 5-6 ngày/năm, hiện tượng sương mù xảy ra khá phổ biến trong tất
cả các mùa trong năm gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông, lâm nghiệp
và đời sống con người.
2.1.3.2. Thủy văn
Hệ thống suối, khe khá dày phân bố đều trên lãnh thổ, do ảnh hưởng của
kiến tạo địa hình nên về mùa mưa thường gây ra lũ ống, lũ quét gây ảnh hưởng
lớn tới sản xuất và đời sống dân sinh.
14


- Suối chính chảy qua xã là suối Lũng Pô bắt nguồn từ sườn đông dãy núi
Hoàng Liên Sơn giáp ranh giới với tỉnh Lai Châu và Trung Quốc chảy qua địa
phận với chiều dài khoảng 17 km theo hướng Tây - Tây Bắc, đồng thời cũng là
đường Biên giới quốc gia với Trung Quốc.
- Suối Sim San bắt nguồn từ phía Nam dãy núi Nhìu Cồ San, chảy theo

- Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích 26,00 ha chiếm 0,3% DTTN, phân bố ở độ
cao dưới 900 m, chủ yếu là loại đất nâu vàng trên phù xa cổ và lũ tích.
- Đất thung lũng dốc tụ (DI): Diện tích 33,00 ha chiếm 0,38%. Đây là loại
đất thứ sinh được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và bồi tụ của
các loại đất ở chân sườn hoặc khe dốc. Loại đất này có độ phì phụ thuộc vào các
loại đất vùng lân cận, tầng đất dầy, thành phần cơ giới thịt trung bình, đất chua
(độ pH từ 5-5,5), phân bố rải rác trên địa bàn xã.
- Đất phù sa ngòi, suối (Py): Diện tích 2,00 ha chiếm 0,02% DTTN. Loại
đất này được hình thành qua quá trình lắng đọng, bồi tụ lâu đời, hoặc sự chuyển
rời dòng chảy kết hợp với quá trình canh tác lâu đời làm biến đổi cơ, lý, hóa tính
của đất. Đặc điểm loại đất này có độ phì khá, ít chua, tầng dày của đất trung bình
từ 50-70 cm, có khả năng thâm canh cao các loại cây trồng nông nghiệp.
- Núi đá: Diện tích 506,56 ha chiếm khoảng 5,86% tổng DTTN. Phân bố
chủ yếu ở các dãy núi phía Bắc và phía Tây Nam xã.
2.1.4.2. Tài nguyên nước
- Nước mặt: Xã Y Tý có nguồn nước mặt dồi dào nhất là vào mùa
mưa.Suối Tùng Sáng, Sim San, Sín Chải, Lũng Pặc và hệ thống khe suối nhỏ
phân bố đều trên lãnh thổ là nguồn nước mặt khá phong phú, nếu có phương
pháp khai thác sử dụng hợp lý sẽ là nguồn nước đảm bảo đáp ứng được nhu cầu
phát triển các ngành kinh tế và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân.
- Nước ngầm: Nằm ở khu vực có địa hình núi cao chia cắt mạnh do đó dù
có nguồn nước mặt phong phú, phân bố tương đối đều trên địa bàn xã nhưng
nguồn nước ngầm có những thay đổi theo mùa. Vào mùa mưa mực nước ngầm
cao, lộ trên mặt đất khả năng khai thác tiện lợi, mùa khô mực nước ngầm rất hạn

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status