TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LÊ THỊ TRANG
DẠY HỌC TÍCH HỢP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
QUA DẠY TIN HỌC LỚP 10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sƣ phạm Tin học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Ầ
TS. LƢU THỊ BÍCH HƢƠNG
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận “Dạy học tích hợp phát triển năng
lực học sinh qua dạy Tin học lớp 10”, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã
nhận được sự giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện của các thầy cô giáo trong khoa
Công nghệ thông tin, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn – TS. Lưu Thị Bích Hương.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô
giáo Lưu Thị Bích Hương đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo cho em
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Ngoài ra, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Công nghệ
thông tin của trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình truyền đạt kiến thức trong
những năm em học tập. Vốn kiến thức tiếp thu được trong quá trình học tập
không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang
CH
Câu hỏi
ĐC
Đối chứng
ĐHSP
Đại học sư phạm
GD - ĐT
Giáo dục – Đào tạo
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
NXB
Nhà xuất bản
PP
một môn ............................................................................................................... 11
Bảng 1.2. Bảng tóm tắt các năng lực chung và biểu hiện của từng năng lực ..... 25
Bảng 1.3. So sánh trường học ở thế kỉ XX và XXI ............................................ 29
Bảng 1.4. Kết quả điều tra thăm dò ý kiến giáo viên .......................................... 30
Bảng 1.5. Kết quả điều tra thăm dò ý kiến học sinh ........................................... 31
Bảng 3.1. Thống kê kết quả học tập môn Tin học trước thực nghiệm ............... 51
Bảng 3.2. Kết quả phiếu điều tra bài tập ............................................................. 61
Bảng 3.3. Kết quả điểm sau thực nghiệm ........................................................... 61
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Định hướng chức năng và cấu trúc đa thành tố của năng lực ............. 24
Hình 2.1. Ví dụ xếp hàng chào cờ ....................................................................... 43
Hình 2.2. Biểu đồ tỷ lệ phụ nữ bị chồng gây bạo lực thể xác (2010) ................. 44
Hình 2.3. Lịch sử phát triển của Trường THPT Ngô Gia Tự ............................. 46
Hình 2.4. Ví dụ giải phương trình bậc 2 ............................................................. 50
Hình 2.5. Thành phần cấu tạo của nước .............................................................. 50
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................... 5
1.1. Dạy học tích hợp ........................................................................................ 5
1.1.1. Khái niệm tích hợp .............................................................................. 5
1.1.2. Khái niệm dạy học tích hợp ................................................................ 7
1.1.3. Mục tiêu dạy học tích hợp ................................................................... 9
1.1.4. Các đặc điểm cơ bản của dạy học tích hợp ....................................... 12
1.2. Quan điểm về dạy học tích hợp................................................................ 16
1.3. Quan điểm dạy học tích hợp trong dạy học môn Tin học ........................ 19
1.4. Nguyên tắc tích hợp trong môn Tin học ở nhà trường phổ thông ........... 20
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra,
đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" [12], sau
khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông,
Bộ Giáo dục đào tạo tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng,
nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới,
trong đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp phát triển năng lực
học sinh” là một trong những vấn đề cần ưu tiên.
Quan niệm dạy học tích hợp theo hướng phát triển năng lực của học sinh
được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực trong quá trình học tập và
dạy học. Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần
thiết. Môn Tin học là một trong những môn học được xây dựng theo tư tưởng
và tích hợp một cách rõ nhất. Môn Tin học trước hết là một môn học thuộc
nhóm khoa học tự nhiên, nó có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm,
tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Tin học còn là một môn học thuộc nhóm
công cụ, nên có quan hệ giữa Tin học với các môn học khác. Học Tin học sẽ tác
động tích cực đến kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng góp
phần giúp học tốt môn Tin học. Nhận thức được vai trò to lớn đó, yêu cầu tăng
cường tính thực hành giảm lý thuyết gắn với đời sống với môn Tin học là rất
cần thiết. Để làm tốt điều này, chúng ta phải có phương pháp dạy - học tốt. Một
trong những phương pháp ưu việt đó chính là dạy – học theo hướng tích hợp
phát triển năng lực học sinh.
Trong thực tế Tin học vừa là môn mang tính khoa học vừa mang tính kĩ
thuật, ngành Tin học đang phát triển như vũ bão, ngày càng xâm nhập vào các
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Những vấn đề tổng quan của phương pháp tích hợp phát triển năng lực học
sinh.
- Phân tích một số nội dung dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh trong
sách giáo khoa Tin học 10.
- Thực nghiệm sư phạm bước đầu nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả
của dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh và những đề xuất của khóa
luận.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Các biện pháp dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh qua dạy học Tin
học 10.
- Nội dung, chương trình Tin học lớp 10.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh được nghiên
cứu sẽ trở thành một tài liệu tham khảo cho việc dạy học tích hợp phát triển
năng lực học sinh nói chung và tích hợp phát triển năng lực học sinh trong môn
Tin học nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn: Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh được áp dụng
cho môn Tin học 10 sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của
Đảng, của chính phủ, của ngành giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học ở
trường phổ thông.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các nhà khoa học
về dạy học tích hợp phát triển năng lực.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra thực trạng giáo dục nghiệp vụ sư
học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay nhất
thể hóa bộ phận khác nhau để đưa tới đối tượng mới như là một thể thống nhất
trên những nét bản chất nhất của thành phần đối tượng, chứ không phải là phép
cộng đơn giản những thuộc tính của thành phần ấy [2].
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích
hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [14].
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác
nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [9].
Theo A.V.Baez (nguyên chủ tịch tổ chức IUNC), các khoa học trở thành
“tích hợp” khi chúng không còn bị “phân chia” nữa. Mọi sự vật, hiện tượng vốn
đã tồn tại là một thực thể toàn vẹn. Con người nghĩ ra cách “phân chia” chúng
để mở rộng dần phạm vi hiểu biết của mình. Vì vậy, sự “phân chia” đó chỉ là
hình thức, không phải là bản chất của sự tồn tại.
5
Xu hướng tích hợp các khoa học khi nghiên cứu đối tượng đều tuân theo
quy luật nhận thức từ: Tổng quát – Phân tích – Tổng hợp. Về thực chất đó
chính là quá trình nhận thức về toàn thể - bộ phận theo nhiều tầng bậc xoáy ốc.
Ngày nay, khoa học tiếp tục phân hóa sâu song song với tích hợp liên môn. Đặc
biệt, do hình thái khoa học cuối thế kỷ XX đã chuyển từ phân tích – cấu trúc lên
tổng hợp – hệ thống làm xuất hiện các ban ngành, liên ngành với tốc độ phát
triển ngày càng nhanh. Trong khi đó, dạy học phản ánh sự phát triển của khoa
học và vì thời gian học tập trong nhà trường không thể kéo dài nhiều nên xuất
hiện xu hướng phải dạy từ riêng rẽ sang dạy tích hợp khoa học.
Theo Sacier Rogiers: “Sư phạm tích hợp là một quan điểm về quá trình
học tập góp phần hình thành ở học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học
tập tương lai hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động”.
hiện hoạt động nghề nghiệp cho người học [5].
Dạy học tích hợp là việc đưa những vấn đề về nội dung của nhiều môn học
vào quá trình duy nhất trong đó những khái niệm khoa học được đề cập đến theo
một tinh thần và phương pháp thống nhất [2].
Theo từ điển Giáo dục học cho rằng [9]:
- Dạy học tích hợp: Hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy,
học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế
hoạch dạy học.
- Tích hợp các bộ môn: Quá trình xích gần và liên kết các ngành khoa học lại
với nhau trên cơ sở của những nhân tố, những quy luật giống nhau, chung cho
các bộ môn, ngược lại quá trình phân hóa chúng.
- Tích hợp dọc: Kiểu tích hợp trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc
cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau.
- Tích hợp ngang: Kiểu tích hợp trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên
cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau.
- Tích hợp chương trình: Tiến hành liên kết hợp nhất nội dung các môn học có
nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung gần gũi nhau.
7
- Tích hợp kiến thức: Hành động liên kết nối liền các tri thức khoa học khác
nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất.
- Tích hợp kĩ năng: Hành động liên kết rèn luyện hai hoặc nhiều kĩ năng thuộc
cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực gần nhau để nắm vững một thể.
Dạy học tích hợp theo nghĩa hẹp là việc đưa những vấn đề về nội dung
của nhiều môn học vào một quá trình duy nhất trong đó có những khái niệm
khoa học được đề cập đến theo một tinh thần và phương pháp thống nhất [9].
Có thể có tích hợp hoàn toàn hoặc một phần môn khoa học tự nhiên như
Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa chất, Địa lí tự nhiên cũng như cả với một vài môn
khoa học xã hội. Cũng có thể có sự tích hợp một phần của hai hay ba môn Khoa
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong
việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng
chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp được xây
dựng trên cơ sở những quan điểm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy
học [2].
Thực hiện môn học tích hợp, các quá trình học tập không bị cô lập với
cuộc sống hàng ngày, các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh
và được liên hệ với cuộc sống cụ thể, có ý nghĩa đối với học sinh. Khi đó học
sinh được dạy sử dụng kiến thức trong những tình huống cụ thể và việc giảng
dạy các kiến thức không chỉ là lý thuyết mà còn phục vụ thiết thực cuộc sống
con người, để làm người lao động, công dân tốt,… Mặt khác, các kiến thức sẽ
không lạc hậu do thường xuyên cập nhật với cuộc sống.
Theo đó khi đánh giá học sinh, thì ngoài kiến thức còn đánh giá học sinh
về khả năng sử dụng kiến thức ở các tình huống khác nhau trong cuộc sống, đây
cũng là mục tiêu của dạy học tích hợp.
- Dạy học tích hợp giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trong
cùng một môn học và giữa các môn học khác với nhau. Đồng thời dạy học tích
hợp giúp tránh những kiến thức, kĩ năng, nội dung trùng lặp khi nghiên cứu
riêng rẽ từng môn học, nhưng lại có những nội dung, kĩ năng mà nếu theo môn
9
học riêng rẽ sẽ không có được. Do vậy vừa tiết kiệm thời gian, vừa có thể phát
triển kĩ năng, năng lực chuyên môn cho học sinh thông qua giải quyết các vấn đề
phức hợp.
- Thực hiện dạy học tích hợp giúp xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và
cái ít quan trọng hơn khi lựa chọn nội dung, cần tránh các nội dung học tập
ngang bằng nhau, bởi có một số nội dung học tập quan trọng hơn vì chúng thiết
thực cho cuộc sống hằng ngày và vì chúng là cơ sở cho quá trình học tập nghiên
cứu tiếp theo. Từ đó có thể dành thời gian cho việc nâng cao kiến thức cho học
Miêu tả
Hướng đến mục tiêu riêng
của mỗi môn học.
Hướng đến mục tiêu chung
của một số nội dung thuộc
Phạm vi hẹp, thường tập nhiều các môn học khác nhau.
trung vào việc hình thành các
Phạm vi rộng, ưu tiên các
kiến thức và kĩ năng, thái độ đặc mục tiêu chung của nhiều môn
thù của môn học.
Kế
hoạch
dạy học
học.
Xuất phát từ một tình huống
Kết nối những tình huống có
có liên quan tới nội dung của liên quan thuộc nhiều lĩnh vực
một môn học.
học
thức, kĩ năng đặc thù môn học.
lâu dài như là các phương pháp,
kĩ năng và thái độ của người
học.
11
Kết quả của
Hình thành, phát triển kiến
Hình thành, phát triển kiến
việc dạy học thức và kĩ năng, thái độ gắn với thức và kĩ năng, thái độ gắn với
nội dung bài học cụ thể.
một chủ đề có liên quan đến nội
dung của nhiều môn học, nhiều
lĩnh vực xã hội khác nhau.
1.1.4. Các đặc điểm cơ bản của dạy học tích hợp
Đặc điểm thứ nhất là lấy người học làm trung tâm. Dạy học lấy người học
làm trung tâm được xem là phương pháp đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu
giáo dục nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp, có khả năng định hướng việc tổ
chức quá trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân hóa người học.
Dạy học lấy người học là trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động
được cái gì đó đòi hỏi có liên quan đến chương trình, còn để làm tốt công việc gì
đó trong thực tiễn như mong đợi thì liên quan đến việc đánh giá kết quả học tập.
Người học đạt được những đòi hỏi đó còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi
người. Trong đào tạo, việc định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng
trong quá trình đào tạo, cho phép người sử dụng sản phẩm đào tạo tin tưởng và
sử dụng trong một thời gian dài, đồng thời còn góp phần tạo niềm tin cho khách
hàng.
Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của người học để vận dụng vào
công việc tương lai nghề nghiệp sau này, đòi hỏi quá trình học tập phải đảm bảo
chất lượng và hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ. Từ những kết quả đầu ra đi đến
xác định vai trò của người có trách nhiệm tạo ra kết quả đầu ra này, một vai trò
tập hợp các hành vi được mong đợi theo nhiệm vụ, công việc mà người đó sẽ
thực hiện thật sự. Do đó, đòi hỏi người dạy phải dạy được cả lý thuyết chuyên
môn nghề nghiệp vừa phải hướng dẫn quy trình công nghệ, thao tác nghề nghiệp
chuẩn xác, phổ biến được kinh nghiệm, nêu được các dạng sai lầm, hư hỏng,
nguyên nhân và biện pháp khắc phục, biết cách tổ chức hướng dẫn luyện tập.
Đặc điểm thứ ba là dạy và học các năng lực thực hiện. Dạy học tích hợp do
13
định hướng kết quả đầu ra nên phải xác định được các năng lực mà người học
cần nắm vững, sự nắm vững này được thể hiện ở các công việc nghề nghiệp theo
tiêu chuẩn đặt ra và đã được xác định trong việc phân tích nghề khi xây dựng
chương trình. Xu thế hiện nay của các chương trình dạy nghề đều được xây
dựng trên cơ sở tổ hợp các năng lực cần có của người lao động trong thực tiễn
sản xuất, kinh doanh. Phương pháp được dùng phổ biến để xây dựng chương
trình là phương pháp phân tích nghề (DACUM) hoặc phân tích chức năng của
từng nghề cụ thể. Theo các phương pháp này, các chương trình đào tạo nghề
thường được kết cấu theo các mô đun năng lực thực hiện. Điều này cũng đồng
nghĩa với việc các nội dung giảng dạy trong mô đun phải được xây dựng theo
sống thực tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm
vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều
mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên
sắp xếp. Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe,
nhìn, ... và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ
bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng. Từ đó, người học vừa nắm được kiến
thức vừa nắm được phương pháp thực hành. Như vậy, người dạy không chỉ đơn
thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành.
Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, người dạy
cũng cần có sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những nhận
thức chưa đúng. Việc kiểm soát thực hiện qua thông tin, tự đánh giá, điều chỉnh.
Việc đánh giá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm là người học
phải thực hành được các công việc giống như người công nhân thực hiện trong
thực tế. Việc đánh giá riêng từng người khi họ hoàn thành công việc, đánh giá
không phải là đem so sánh người học này với người học khác mà đánh giá dựa
trên tiêu chuẩn nghề.
Do những đặc tính và ưu điểm của tiếp cận dựa trên năng lực, các mô
hình năng lực và những tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp được xác định và sử
dụng như là những công cụ cho việc phát triển rất nhiều chương trình giáo dục,
15
đào tạo và phát triển khác nhau trên toàn thế giới.
1.2. Quan điểm về dạy học tích hợp
Theo D’Hainaut, có bốn quan điểm tích hợp khác nhau đối với các môn
học:
- Quan điểm tích hợp “trong nội bộ môn học”, trong đó ưu tiên các nội dung
khái quát cốt lõi của môn học. Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng.
- Quan điểm tích hợp “đa môn” đề nghị những tình huống, những đề tài có thể
được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau. Ví dụ giáo dục môi trường
- Nhóm thứ nhất: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học.
+ Cách tích hợp thứ nhất: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học ở cuối
năm hay cuối bậc học.
+ Cách tích hợp thứ hai: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học thực hiện ở
những thời điểm đều đặn trong năm học.
Quá trình học tập các môn học riêng rẽ luôn luôn được định hướng tích
hợp nhằm dạy học sinh lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội phối
hợp được những đóng góp của các môn học khác.
- Nhóm thứ hai: Phối hợp các quá trình học tập nhiều môn học.
Cách tích hợp này tiến xa hơn cách tích hợp thứ nhất vì nó dẫn đến sự hợp
nhất hai môn học theo những nguyên lí chung sau đây:
Dạng tích hợp này nhằm hợp nhất hai hay nhiều môn học thành một môn
học duy nhất. Đó là sự khái quát hóa hoặc hệ thống hóa của quan điểm liên môn
áp dụng cho những môn học đủ gần nhau về bản chất hoặc mục tiêu, hoặc cho
những môn học có những đóng góp bổ sung cho nhau. Ở đây, các môn học được
tích hợp hoàn toàn.
Vấn đề mà kiểu tích hợp này đặt ra không chỉ đơn thuần có tính chất sư
phạm, mà còn là vấn đề khoa học luận, nghĩa là các khoa học phải được giảng
dạy bên trong các môn học. Nói khác đi, các môn học cần được phát triển theo
một logic nhằm làm học sinh lập được những tập hợp khái niệm có ý nghĩa.
+ Cách tích hợp thứ ba: Sự nhóm lại theo đề tài tích hợp.
17