Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module 1 đặc điểm tâm sinh lí của học sinh thcs - Pdf 43

BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
MODULE 1: ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ CỦA HỌC SINH THCS.
Họ và tên: Trần Thị Ca
Chức vụ: Giáo viên
Tổ: KH TN
Giảng dạy môn: Sinh
Sau khi tự học tự bồi dưỡng thường xuyên module 1: Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh
trung học cơ sở tôi đã tiếp thu được những kiến về đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS
và từ đó tôi đã áp dụng những kiến thức lí thuyết này vào công tác giảng dạy, chăm sóc học
sinh ở lớp và học sinh bán trú trong trường, cụ thể như sau:
I. Về tiếp thu kiến thức lí thuyết trong tài liệu BDTX.
- Nội dung chính của module gồm những vấn đề sau:
+ Khái quát về giai đoạn phát triển của học sinh THCS.
+ Các điều kiện phát triển tâm lí của HS THCS.
+ Tìm hiểu hoạt động giao tiếp của học sinh trung học cơ sở.
+ Tìm hiểu sự phát triển nhận thức của học sinh trung học cơ sở.
+ Tìm hiểu sự phát triển nhân cách của học sinh trung học cơ sở.
1. Khái quát về giai đoạn phát triển của học sinh THCS.
Lứa tuổi HS THCS bao gồm những em có độ tuổi tù 11 - 15 tuổi. Đó là những em đang
theo học tù lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS. Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu nìên và
nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em.
Đây là thời kì quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trường thành, thời kì trẻ ở ba đường của sụ
phát triển. Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phương án, nhiều con đường để mỗi trẻ
em trở thành một cá nhân. Trong thòi kì này, nếu sự phát triển đuợc định huớng đúng, được
tạo thuận lợi thì trẻ em sẽ trở thành cá nhân thành đạt, công dân tốt. Ngược lại, nếu không
được định hướng đúng, bị tác động bời các yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt nguy
cơ dẫn trẻ em đến bên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân
cách.
Thời kì mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong việc
thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng.
Trong suổt thời kì tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình thành các cấu

đầu và kết thúc chậm hơn các em gái khoảng từ 1,5 đến 2 năm.
Dấu diệu phụ báo tuổi dậy thì có sự khác nhau giữa các em trai và gái. Các em trai cao rất
nhanh, giọng nói ồm ồm, vai to, có ria mép… Các em gái cũng lớn nhanh, thân hình duyên
dáng, da dẻ hồng hào, tóc mượt mà, môi đỏ, giọng nói trong trẻo…
Sự xuất hiện tuổi dậy thì phụ thuộc yếu tố khí hậu, thể chất, dân tộc, chế độ sinh hoạt (vật
chất, tinh thần…), lối sống… Tuy nhiên, hiện nay do gia tốc phát triển thể chất và phát dục
nên tuổi dậy thì có thể đến sớm hơn từ 1,5 – 2 năm.
+ Đến 15 – 16 tuồi, giai đoạn dậy thì kết thúc. Các em có thể sinh sản được nhưng các
em chưa trưởng thành về mặt cơ thể, đặc biệt về mặt tâm lý và xã hội. Bởi vậy lứa tuổi HS
THCS không được coi là có sự cân đối giữa sự phát dục, giữa bản năng tương ứng, những
tình cảm và ham muốn tình dục với mức trưởng thành về xã hội và tâm lý. Vì thế, người lớn
(cha mẹ, giáo viên, các nhà giáo dục…) cần hướng dẫn, trợ giúp một cách khéo léo, tế nhị
để các em hiểu đúng vấn đề, biết xây dựng mối quan hệ đúng đắn với bạn khác giới… và
không băn khoăn lo lắng khi bước vào tuổi dậy thì.
+ Sự phát dục và những biến đổi trong sự phát triển thể chất của tuổi thiếu niên có ý nghĩa
quan trọng đối với sự xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới. Những biến đổi rõ rệt về mặt giải
phẫu sinh lý đối với thiếu niên đã làm cho các em trở thành một người lớn một cách khách
quan và làm nảy sinh cảm giác về tính người lớn của bản thân các em. Sự phát dục làm cho
thiếu niên xuất hiện những cảm giác, tình cảm và rung cảm mới mang tính chất giới tính,
các em quan tâm nhiều hơn đến bạn khác giới.Tuy nhiên, những ảnh hưởng trên đến sự phát
triển tâm lí của HS THCS còn phụ thuộc nhiều yếu tố: kinh nghiệm sống, đặc điểm giao
tiếp của thiếu niên, những hoàn cảnh riêng trong cuộc sống và điều kiện giáo dục (gia đình
và nhà trường) đối với các em.
3. Tìm hiểu hoạt động giao tiếp của học sinh THCS.
Giao tiếp là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi ở lứa tuổi thiếu niên. Lứa tuổi thiếu niên có
những sự thay đổi rất cơ bản trong giao tiếp của các em với người lớn và với bạn ngang
hàng. Theo một nghiên cứu, HS THCS dành 1 nửa thời gian của mình cho bạn bè và khoảng
5% cho cha mẹ.
* Giao tiếp với người lớn: gồm những đặc điểm sau:
- Thứ nhất: các em có nhu cầu được tôn trọng cao trong quá trình giao tiếp với người

Các em giao tiếp với bạn để khẳng định mình, trao đổi những nhận xét, tình cảm, ý chí, tâm
tư, khó khăn của mình trong quan hệ với bạn, với người lớn…. các em mong muốn có bạn
thân để chia sẻ, giải bày tâm sự, vướng mắc, băn khoăn.
- Trong cuộc sống hằng ngày, các em không thể không có bạn. Sự tẩy chay của bạn bè,
của tập thể có thể thúc đẩy các em sửa chữa để hòa nhập với bạn, cũng có thể làm cho các
em tìm kiếm và gia nhập nóm bạn ngoài đường; hoặc nảy sinh các hành vi tiêu cực như phá
phách, gây hấn…hoặc cũng có thể khiến các em cảm thấy bế tắc và chán nản.
- Thiếu niên coi quan hệ với bạn là quan hệ riêng cá nhân và các em muốn được độc lập,
không muốn người lớn can thiệp. Người bạn kết giao phải là người tôn trọng, trung thực,
cởi mở, hiểu biết và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau.Thiếu niên yêu cầu rất cao về phía bạn cũng
như bản thân. Vì vậy, các em thường lên án những thái độ và hành vi từ chối giúp bạn, ích
kỷ, tham lam, tự phụ, hay nói xấu bạn, nịnh bợ.
- Sắc thái giới tính trong quan hệ với bạn ở thiếu niên: sự dậy thì kích thích thiếu niên
quan tâm đến bạn khác giới. Xuất hiện những rung động, những cảm xúc mới lạ với bạn
khác giới. Sự quan tâm đến bạn khác giới có ý nghĩa đối với sự phát triển nhân cách HS
THCS: có tể động viên những khả năng của thiếu niên, gợi nên những nguyện vọng tốt.
Trong giao tiếp với bạn khác giới, các em cũng thể hiện mâu thuẫn giữa ý muốn, nhu cầu
với hành vi thể hiện (có nhu cầu giao tiếp với bạn khác giới nhưng lại cố ngụy trang ý
muốn, che giấu nội tâm của mình). Các bạn nam thể hiện khá mạnh mẽ, đôi khi còn thô bạo,
“gây sự” với bạn nữ để bạn chú ý tới mình. Các em nữ thường kín đáo, tế nhị hơn (các em
thường chú ý đến hình thức của mình, trang phục, cách ứng xử, che giấu, tình cảm của
mình…)
4. Tìm hiểu sự phát triển về nhận thức của học sinh THCS.
* Sự phát triển tri giác:

7


Ở HS THCS, khối lượng các đối tượng tri giác tăng lên rõ rệt. Tri giác có trình tự, có kế
hoạch và hoàn thiện hơn. Các em có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự

* Tự ý thức:
- Bắt đầu tự nhận thức những hành vi của mình (từ hành vi riêng lẻ toàn bộ hành vi và
nhận thức về phẩm chất đạo đức, tích cách và khả năng)
- Nhu cầu so sánh mình với người khác, xem xét và muốn vạch ra một nhân cách tương
lai.
- Đánh giá khả năng bản thân, tìm kiếm vị trí của mình trong tập thể.
- Từ nhận xét của người khác tự nhìn nhận bản thân mình
- Kỹ năng chưa đầy đủ để phân tích đúng đắn sự biểu lộ của nhân cách đánh giá mình và
người khác còn phiến diện
* Sự phát triển nhận thức đạo đức và hành vi ứng xử của học sinh THCS:
- Tuổi THCS là tuổi hình thành thế giới quan, lý tưởng, niềm tin đạo đức, những phán
đoán giá trị…Do sự mở rộng các quan hệ xã hội, sự phát triển tự ý thức, đạo đức của các
em phát triển mạnh. HS biết cách sử dụng những nguyên tắc riêng, các quan điểm, các sáng
kiến để chỉ đạo hành vi.

8


- Có một số kinh nghiệm và khái niệm đạo đức đuợc hình thành tự phát ngoài sự hướng
dẫn của giáo dục (sách báo, phim ảnh, bạn bè…) do đó các em có thể có những ngộ nhận,
hiểu biết phiến diện, không chính xác về các khái niệm đạo đức. Cần lưu ý điều này trong
giáo dục đạo đức cho các em.
* Sự hình thành tình cảm:
- Tình cảm: dễ xúc động, kích động, thất thường, bồng bột, dễ thay đổi, đôi khi còn mâu
thuẫn. Tình cảm bạn bè, tình đồng chí, tình tập thể ở lứa tuổi này phát triển mạnh. Các em
đối xử với nhau chân thành, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn. Các em
tin tưởng và kể cho nhau nghe những câu chuyện thầm kín. Các em không thể không có
bạn. Vì thế khi bị bạn phê bình các em cảm thấy khổ tâm, buồn phiền, đặc biệt những em bị
bạn bè không chơi, tẩy chay thì đó là một đòn tâm lý nặng nề đối với các em.
II. Vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn.

vốn từ ngữ phổ thông và còn ảnh hưởng của việc sử dụng ngôn ngữ địa phương nên các em
nói năng còn chưa tế nhị, hay nói trống không, cộc lốc, không thưa gửi điều này cũng khiến
một số em ngại tiếp xúc, ngại trao đổi với người lớn và thầy cô giáo về những tâm tư,
nguyện vọng của mình.
III. Kết quả của việc áp dụng kiến thực tự học vào thực tế.

9


Sau khi tự học tự bồi dưỡng module 1 và áp dụng các biện pháp vào thực tế như tìm hiểu
tâm sinh lí , hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ... của học sinh tôi đã thu được kết quả như sau:
- Mối quan hệ giữa cô giáo và học sinh trở lên gần gũi và thân thiện hơn.
- Học sinh đã biết những bài học đạo đức về phép lịch sự khi gặp các thầy cô giáo và người
lớn tuổi...
- Học sinh bán trú đã có sự thay đổi trong trong sinh hoạt, biết vệ sinh phòng ở gọn gàng,
sạch sẽ. các em đang hình thành tinh thần tự học trong các giờ học trên lớp buổi tối.
- Một số các em học sinh đã biết cách dùng từ đúng trong hoàn cảnh giao tiếp ví dụ như
khi giao tiếp với thầy cô giáo và người ở địa phương khác các em biết sử dụng từ “ vâng
ạ” để thể hiện thái độ lễ phép, kính trọng thay cho từ địa phương có sắc thái tình cảm
tương đương đó là từ “ ừ”.
- Các em học sinh nữ biết các chăm sóc, giữ gìn vệ sinh thân thể hơn.
Trên đây là bài thu hoạch BDTX về nội dung tự học trong module 1 của cá nhân tôi
trong tráng 9 và tháng 10 năm 2015.

MODULE THCS 5 :NÂNG CAO NĂNG LỤC HIỂU BIẾT VÀ XÂY DỰNG MÔI
TRƯỜNG GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊN
TÌM HIỂU GIAI ĐOẠN LỨATUỔI HỌC SINH THCS
Khái niệm học sinh Trung học cơ sở
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi. Đó là
những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS. Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi

Trong giao tiếp, thiếu niên định hướng đến bạn rất mạnh mẽ, giao tiếp với bạn chiếm
vị trí quan trọng trong đời sống và có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển nhân cách của
thiếu niên. Khác với giao tiếp với người lớn, giao tiếp của thiếu niên với bạn ngang hàng là
hệ thống bình đẳng và mang đặc trưng của quan hệ xã hội giũa các cá nhân độc lập.
GIỚI THIỆU VỀ MÔI TRUỜNG HỌC TẬP
Khái niệm môi trường học tập
Môi trường học tập là các yếu tốcó tác động đến quá trình học tập của HS bao gồm:
Môi trường vật chất: Là không gian diễn ra quá trình dạy học gồm có đồ dùng dạy
học như bảng, bàn ghế, sách vở, nhiệt độ ánh sáng, âm thanh, không khí...
Môi trường tinh thần: Là mối quan hệ giữa GV với HS, HS với HS, giữa nhà trường- gia
đình - xã hội... Các yếu tố tâm lí như động cơ, nhu cầu, hứng thú tích học tập của HS và
phong cách, phương pháp giảng dạy của GV trong môi trường nhóm, lớp.
Môi trường học tập rất đa dạng, cần được tạo ra ờ nhà trường, gia đình, xã hội. Môi
trường sư phạm là tập hợp những con người phương tiện đảm bảo cho việc học tập đạt kết
quả tốt. Môi trường sư phạm là nội dung cơ bản của môi trường nhà trường.
Toàn bộ hệ thống môi trường học tập, môi trường dạy học, môi trường giáo dục trong
trường phải được tiếp cận hệ thống, đó là các quan hệ thầy - trò, quan hệ trò - trò, quan hệ
nhóm lớp của HS, quan hệ của HS với nhà quản lí, mà bản chất của các mối quan hệ là dựa
trên quan hệ pháp luật, nhân văn, đạo đức, cộng đồng hợp tác.
Như vậy, môi trường học tập là toàn bộ các yếu tố vật chất, không gian và thời gian,
tình cảm và tinh thần - nơi HS đang sinh sống, lao động và học tập, có ảnh hưởng trực tiếp,
gián tiếp đến sự hình nhân cách của HS phù hợp với mục đích giáo dục.
*CÁC LOẠI MÔI TRUỜNG HỌC TẬP
* Môi trường học tập ở trường;
Giáo dục nhà trường là hoạt động giáo dục trong các trường lớp thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân theo mục đích, nội dung, phương pháp có chọn lọc trên cơ sở khoa học
và thực tiển nhất định.
So với gia đình, nhà trường là một môi trường giáo dục rộng lớn hơn, phong phú, hấp
dẫn hơn đổi với thế hệ trẻ.
Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt thực hiện chức năng cơ bản là tái sản

Giáo dục xã hội là hoạt động của các tổ chức, các nhóm xã hội có chức năng giáo dục
theo quy định của pháp luật hoặc các chương trình giáo dục trên các phương tiện thông tin
đại chúng. Giáo dục xã hội tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của
đứa trẻ thường qua hai hình thức: tự phát và tự giác.
Giáo dục cửa xã hội phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục gia đình và nhà trường, góp
phần thực hiện mục tiêu đào tạo con người theo định hướn của Đảng và Nhà nước.
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
. Ảnh hưởng của môi trường đẽn mục đích , động cơ học tập
Môi trường học tập ảnh hường không nhỏ tới mục đích, động cơ học tập. Mục đích của
hành động hoàn toàn không phải do con ngưòi nghĩ ra một cách chủ quan mà nó được hình
thành dần trong quá trình diễn ra hành động. Mục đích thực sự chỉ có thể có khi chủ thể bắt
đầu hành động.
Mục đích học chỉ đuợc hình thành khi chủ thể bắt đầu học tập. Thông qua học lập, người
học chiếm lĩnh được tri thúc, kỉ năng, kỉ xảo bộ phận (những khái niệm cửa tùng bài học,
tùng tiết học) - đây là mục đích bộ phận. Trên cơ sở chiếm lĩnh những tri thức, kỉ năng, kỉ
xảo bộ phận mà chiếm lĩnh được toàn bộ những tri thúc, kỉ năng, kỉ xảo hệ thống (những
khái niệm của môn học) - đây là mục đích môn học. Mỗi tri thức, kỉ năng, kỉ xảo bộ phận
được chủ thể tiếp thu và làm chủ lại trở thành phương tiện cho việc hình thành mục đích bộ
phận tiếp theo, cứ như vậy, mục đích học sẽ được hình thành trong quá trình thực hiện một
hệ thống các hành động học trong một môi trường nhất định.
Động cơ của hoạt động học không có sẵn mà hiện thân ở đối tượng của hoạt động học
(đó là những tri thức, kỉ năng, kỉ xảo...) mà người học cần chiếm lĩnh để hình thành và phát
triển nhân cách.

12


Có hai loại động cơ học là: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội.
- Động cơ hoàn thiện tri thúc:

độc lập cao. Ở đa số thiếu niên, nội dung khái niệm “học tập" đã đuợc mở rộng ; ở nhiều
em đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đổi với môn học, say mê học tập. Tuy nhiên,
tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của các em bị phân tán và không bền
vững, có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đổi với các lĩnh vục khác trong
cuộc sống, vì vậy, môi trường và phuơng pháp học tập có mối quan hệ tác động qua lại với
nhau. Môi trường là điều kiện để người học sử dụng những phương pháp học tập thích hợp.
Môi trường nhóm lớp, phương pháp giảng dạy của GV, quan hệ ứng xử của GV đối với HS
là yếu tố ảnh hưởng trục tiếp tới phương pháp học tập của HS THCS. Quá trình dạy học đòi
hỏi GV và HS cần nổ lực tìm ra các giải pháp để dạy và học đạt hiệu quả ngày càng cao,
trong đó, việc GV vận dụng phương pháp dạy học phù hợp với nhu cầu, trình độ và các đặc
điểm tâm lí khác của lứa tuổi HS THCS đuợc coi là một giải pháp tốt nhất. Các phương
pháp dạy học khác nhau phát triển những kĩ năng và những phẩm chất khác nhau của HS.
Phương pháp dạy học đa dạng làm cho bài giảng của GV trở nên thú vị và HS cảm thấy
hứng khởi hơn trong giờ học. Để xây dụng một môi trường học tập thân thiện nhằm khai
thác mặt giá trị và cảm xúc của HS trong quá trình học tập thì các moi quan hệ trong dạy

13


học có vai trò quyết định. Quan hệ giữa GV với HS, giữa cá nhân HS với nhau, giữa cá
nhân với nhóm, giữa nhóm và cả lớp được phát triển theo xu hướng tăng cường sự tương
tác, hợp tác và cạnh tranh, tham gia và chia sẻ. Đây là môi trường học tập giúp HS THCS
không ngừng tự hoàn thiện nhân cách và cải thiện kết quả học tập cá nhân.
Quan hệ thầy trò tốt đẹp đuợc dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau. HS tôn trọng GV bởi
kỉ năng giảng dạy, phẩm chất cá nhân, kiến thúc và trình độ chuyên môn; GV tôn trọng HS
vì mỗi HS là một nhân cách với những nổ lực học tập. .
Mối quan hệ tốt đẹp giữa GV với HS được biểu hiện cụ thể thông qua thái độ, cử chỉ,
điệu bộ, ngôn ngữ cửa GV trong quá trình dạy học. HS sẽ cảm thấy tự tin hơn khi GV tươi
cười hay có lời khen để động viên HS học tập; nó có thể thay đổi một trường hợp được coi
là tiêu cực trở thành tích cực. GV cần tỏ ra hài lòng khi HS thành công trong học tập; nhiệt

nghi ngờ, hoang mang, dao động đối với cá nhân trong việc lựa chọn, tiếp thu các giá trị tốt
đẹp.
Gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội liên kết, phối hợp thống nhất mục đích,
mục tiêu giáo dục thể hiện ở những nội dung cơ bản nhằm phát triển toàn diện các mặt đức,
trí, thể, mĩ, lao động... Mọi môi trường đều có một ưu thế trong việc thực hiện các nội dung
giáo dục. Gia đình có ưu thế đổi với việc giáo dục định hướng nghề nghiệp, rèn luyện kỉ
năng, kĩ xảo, thói quen lao động chân tay, quan hệ ứng xử... Nhà trường có ưu thế trong
việc giáo dục toàn diện, đặc biệt là tri thức văn hoá; các chuẩn mực đạo đúc, ý thức công
dân... bằng các phương pháp, phương tiện hiện đại nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển
nhân cách. Các đoàn thể xã hội bằng các hình thức tổ chức hoạt động xã hội ngoài giờ lên
lớp giúp các em mở rộng kiến thức, gắn tri thúc với thực tiễn, chủ trương, chính sách chung
của Nhà nước, của địa phương về các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Việc liên kết, phối hợp các môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và các tổ chức
xã hội diễn ra dưới nhiều hình thức, vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu là các lực lượng
giáo dục đó phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tìm ra các hình thức, giải pháp,
tạo ra mối liên kết, phối hợp vì mục đích giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thành những công dân
hữu ích của đất nước. Do đó, không thể coi đây là trách nhiệm riêng cửa lực lượng nào. Tuy
nhiên, gia đình và nhà trường có trọng trách lớn hơn, bởi vì trẻ em là con cái của gia đình,
là HS của nhà trường trước khi trở thành công dân xã hội.
Liên kết, phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm thực hiện
những nội dung chú yếu sau:
-Thống nhất mục đích, kế hoạch chăm sóc, giáo dục HS của tập thể sư phạm nhà trường
với phụ huynh, với các đoàn thể, cơ sở sản xuất, các cơ quan văn hoá, giáo dục ngoài nhà
trường.
- Theo dõi, đánh giá kết quả quá trình giáo dục HS trong nhà trường và ở địa phương
15


nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục.
Gia đình phải tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí

tịch Hồ chí Minh đã khẳng định “Nếu nhà trường dạy tốt mà gia đình ngược lại, sẽ có ảnh
hưởng không tốt đến trẻ và kết quả cũng không tốt. Cho nên muốn giáo dục các cháu thành
người tốt, nhà trường, gia đình, đoàn thể xã hội đều phải kết hợp chặt chẽ với nhau".
Chính quyền các cấp động viên tất cả mọi lực lượng, mọi tầng lớp xây dựng thực hiện
nếp sống văn minh, thực hiện các phong trào “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu
thảo", “Gia đình văn hoá", xây dựng “Thôn xóm không có người nghiện hút"..., kiên quyết
đẩy lùi, xóa bỏ các tàn dư lạc hậu, các nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội. Người lớn
cần gương mẫu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống để thế hệ trẻ noi theo.
Xây dựng cơ sở vật chất, cảnh quan nhà trường:
Cơ sở vật chất và cảnh quan nhà trường có tác động mạnh đến cảm xúc, hình thành ấn
tượng và niềm tự hào đối với HS. Một môi trường xanh, sạch, đẹp với điều kiện cơ sở vật
chất đuợc đảm bảo tạo cho HS cảm giác tự tin, vui tươi khi đến trường, hình thành nên
hưng phấn tích cực đổi với mọi hoạt động. Cơ sở vật chất và cảnh quan nhà trường bao
gồm các điều kiện tự nhiên nơi trường đóng và các phương tiện kỉ thuật phục vụ cho mọi
hoạt động của nhà trường.
Các trường THCS cần phải đảm báo các điều kiện tối thiểu cơ sở vật chất như: không
gian trong lớp học da dạng và phong phú; bàn ghế cơ động; các phương tiện dạy học như
bảng, tranh ảnh, sách giáo khoa, Internet và các phuơng tiện máy tính, máy chiếu... hoạt
động tốt và an toàn. Các tài liệu học tập đuợc cung cấp theo yéu cầu học tập ở trường trung
học.
Cấu trúc phòng học, ánh sáng, âm thanh đạt yêu cầu về chất lượng, hệ thống nhà được
xây dung đứng tiêu chuẩn. Bài trí tranh ảnh, lô gô khẩu hiệu phải mang tính thẩm mĩ và tính
giáo dục tạo nên những nét đẹp văn hoá nhà trường.
Về cảnh quan nhà trường phải đảm bảo các điều kiện cơ bản như: Phòng học cần được
quét dọn thường xuyên, hệ thống cây xanh, thảm cỏ, cây cảnh được phổi hợp hài hoà tạo
nên sự thân thiện, dể chịu cho HS trong mọi hoạt động. Không khí trong lành, không gian
dành cho các hoạt động được mở rộng và sạch sẽ.
Việc xây dựng cơ sở vật chất và cảnh quan nhà trường là một nội dung cơ bản để có
một môi trường học tập thân thiện ở trường THCS. Nếu các yếu tố trên không được đảm
bảo thì không thể tạo ra được những ảnh hưởng tích cực đến nhận thức, tình cảm của HS,

dụng tạo động lực cho hoạt động dạy và học phát triển.
I. Nội dung bồi dưỡng: Module 9
HƯỚNG DẪN ĐỒNG NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP
- Phát triển nghề nghiệp giáo viên
- Nội dung và phương pháp hướng dẫn.
II. Thời gian bồi dưỡng:
Từ 01/03/2015 đến 31/03/2015
III. Hình thức bồi dưỡng: Tự bồi dưỡng
IV. Kết quả bồi dưỡng: Qua quá trình bồi dưỡng thường xuyên bản thân tôi đã ghi nhận và
tiếp thu những kiến thức cơ bản về các nội dung trên như sau:
1. Phát triển nghề nghiệp của giáo viên
Phát triển nghề nghiệp của giáo viên bao gồm phát triển năng lực của giáo viên về
chuyên môn và năng lực nghiệp vụ của nghề (nghiệp vụ sư phạm). Năng lực nghiệp vụ sư

18


phạm của giáo viên lại được xác định bởi năng lực thực hiện các vai trò của giáo viên trong
quá trình lao động nghề nghiệp của mình. Bản thân các vai trò của giáo viên gắn liền với đó
là các chức năng của họ.
Nhà trường hiện đại đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo viên, theo đó,
người giáo viên phải đảm nhận thêm những vai trò mới. Vai trò người hướng dẫn, tư vấn và
chăm sóc tâm lí mà người giáo viên trong nhà trường hiện đại phải đảm nhận là một minh
hoạ.
Theo logic trên, nội dung phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên rất phong phú,
bao gồm cả việc mở rộng, đổi mới tri thức khoa học liên quan đến giảng dạy môn học do
giáo viên giảng dạy đến mở rộng, phát triển, đổi mới tri thức, kĩ năng thực hiện các hoạt
động dạy học và giáo dục trong nhà trường
Thực tiễn dạy học đã khẳng định: Những phương pháp giảng dạy tốt sẽ có ảnh hưởng
tích cực đến việc học sinh học cái gì và học như thế nào. Học cách dạy và làm việc để trở

Có thể xem xét quá trình hình thành kĩ năng như một minh hoạ cho chức năng phát
triển của phát triển nghề nghiệp giáo viên. Mọi kĩ năng mà cá nhân có được đều trải qua các
giai đoạn cụ thể, từ giai đoạn hình thành, củng cổ đến giai đoạn thuần thục (đôi khi có tính
chất của tự động hoá). Ở giai đoạn hình thành phải từ những tình huống mẫu, bằng sự luyện
tập của mình, cá nhân sẽ hình thành kĩ năng xác định. Sang giai đoạn củng cố, cá nhân có
thể thực hiện được kĩ năng ở tình huống đã có những thay đổi ít nhiều so với tình huống
mẫu. Trong những tình huống biến đổi, hoặc những tình huống hoàn toàn khác biệt với tình
huống mẫu, cá nhân vẫn có thể đạt đuợc mục tiêu của hoạt động. Đây là giai đoạn cá nhân
đã có kĩ năng ở mức độ phát triển cao.Chức năng đổi mới của phát triển nghề nghiệp giáo
viên chỉ quá trình tạo ra những thay đổi theo chiều hướng tích cực trong năng lực nghề
nghiệp của giáo viên.
Thay đổi là thuộc tính của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Dựa vào
thuộc tính này, con người có thể chủ động tạo ra sự thay đổi cho sự vật, hiện tượng. Những
thuật ngữ như cải tiến, đổi mới, cách mạng... dùng để chỉ sự thay đổi đuợc con người thực
hiện một cách có chủ định.

20


Đổi mới năng lực nghề nghiệp của giáo viên là quá trình phúc tạp, là kết quả của sự thay đổi
trong nhận thức, hành động và khắc phục những rào cản của hành vi, thói quen trong dạy
học, giáo dục của giáo viên.
Kinh nghiệm nghề nghiệp là tài sản của mọi giáo viên, tuy nhiên đôi khi kinh nghiệm
này lại trở thành rào cản đối với những đổi mới mang tính hệ thổng hoặc đổi mới đối với
từng phương diện năng lực nghề nghiệp của họ. Trong trường hợp này, người giáo viên cần
thay đổi chính những kinh nghiệm của họ. chẳng hạn, để đổi mới phương pháp dạy học,
giáo viên phải đổi mới tư duy về dạy học và tổ chức dạy học (xác lập quan điểm/những
quan điểm mới về dạy học và tổ chức dạy học), đổi mới trong thiết kế các mô hình/chiến
lược dạy học và tiếp đến là đổi mới trong thực thi từng phương pháp dạy học cụ thể.
Các chương trình nhằm mục đích phát triển nghề nghiệp cho giáo viên:


Mô hình nhóm nhỏ hoặc riêng lẻ (cá

nhân)
Phát triển nghề nghiệp giáo viên ở Giám sát
trường học
Quan hệ trường phổ thông với
Đánh giá công việc của học sinh
trường cao đẳng, đại học sư phạm
Hợp tác giữa các viện nghiên cứu Hội thảo,semine, cáckhoá học
Mạng trường học
Nghiên cứu trường hợp
Tụ phát triển (giáo viên nghiên cứu để
Mạng giáo viên
Giáo dục từ xa

phát triển)
Phát triển các quan hệ hợp tác
Giáo viên tham gia vào quá trình đổi
mới
Hồ sơ
Nghiên cứu hành vi
Dùng các bài nói của giáo viên
Tập huấn

Bảng tổng hợp trên cho thấy, các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên tương đối
đa dạng, được phát triển và thực hiện ở nhiều quốc gia để phát huy và hỗ trợ giáo viên phát
triển nghề nghiệp từ khi họ bắt đầu khởi nghiệp đến khi nghỉ hưu. Điểm chung nhất dễ nhận
thấy của các mô hình là tính mục đích của nó.
Mô hình tập huấn

tiêu đã đề ra để có những điều chỉnh phù hợp.
* Chức năng của phát triển nghề nghiệp giáo viên
Chức năng của phát triển nghề nghiệp giáo viên là mở rộng, đổi mới và phát triển
năng lực nghề nghiệp cho giáo viên. Phát triển nghề nghiệp giáo viên mang lại những thay

23


đổi cho hệ thống giáo dục (ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô) và cho cá nhân mỗi giáo viên. Phát
triển nghề nghiệp giáo viên có những đặc điểm chính sau:
Phát triển nghề nghiệp giáo viên dựa trên xu hướng tạo dựng thay vì dựa trên mô
hình chuyển giao.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên là một quá trình lâu dài.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên đuợc thực hiện với những nội dung cụ thể.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên liên quan mật thiết với những thay đổi, cải cách
trường học.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên có vai trò giúp giáo viên trong việc xây dụng những
lí thuyết và thực tiễn sư phạm, giúp họ phát triển sự thành thạo trong nghề.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên là một quá trình cộng tác.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên được thực hiện và thể hiện rất đa dạng và có thể rất
khác biệt ở những bổi cánh khác nhau.
Không một giáo viên nào có thể tự khẳng định mình là người đã hiểu biết tất cả và
luôn thành công trong hoạt động nghề nghiệp. Nói cách khác, ngay cả những giáo viên giỏi,
trong nhiều trường hợp, vẫn cần đến sự trợ giúp từ những người khác để hoàn thành các
nhiệm vụ đuợc phân công trong lao động nghề nghiệp tại cơ sở giáo dục.
Mọi giáo viên đều phải đóng vai là một người hướng dẫn đối với đồng nghiệp, đồng
thời họ được trợ giúp từ chính vai trò mà họ đảm nhiệm để phát triển nghề nghiệp của bản
thân. Hướng dẫn có vai trò quan trọng trong phát triển nghề nghiệp của mọi giáo viên, nhất
là đổi với các giáo viên còn ít kinh nghiệm nghề nghiệp.
Cán bộ quản lí trường học, các giáo viên có kinh nghiệm thưởng là những người

giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của từng cấp học cụ thể. Học sinh ở các cơ sở
giáo dục phổ thông tham gia các hoạt động giáo dục và nghiên cứu/học các môn học (theo
kĩ thuật thiết kế chương trình giáo dục hiện nay ở nước ta). Môn học thuộc chương trình
giáo dục ở cơ sở giáo dục phổ thông đuợc xây dựng trên cơ sở của một khoa học tương ứng.
Như vậy, học sinh học môn học chú không học khoa học. Trong khi đó, trong quá trình đào
tạo của giáo viên ở trường sư phạm, hoạt động học tập của họ có tính chất nghiên cứu và
tiếp cận với khoa học (ngành/chuyên ngành khoa học họ đựợc đào tạo).

25


Hướng dẫn đồng nghiệp có thể được thực hiện trực tiếp, gián tiếp, hướng dẫn chung hoặc
hướng dẫn cá nhân. Mọi hình thức hướng dẫn đều có điểm mạnh và những hạn chế nhất
định. Việc lựa chọn hình thức hướng dẫn đôi khi không phụ thuộc vào người hướng dẫn.
Để hướng dẫn đồng nghiệp thành công, bạn cần có thông tin về họ. Phương tiện để
bạn có được những thông tin này là các công cụ như: các trắc nghiệm, phiếu điều tra, bảng
kiểm, hướng dẫn phỏng vấn và sơ đồ quan sát... Các công cụ này phải được phát triển và
kiểm tra hiệu lực. Căn cứ mục đích thu thập thông tin về đối tương cần hướng dẫn, bạn lựa
chọn và sử dụng các công cụ để thu thập thông tin cần thiết bằng các phương pháp như:
Phỏng vấn nhóm và phỏng vấn từng cá nhân; Quan sát theo nhóm và quan sát cá
nhân;Ghi chép.
Dữ liệu có đuợc bằng việc sử dụng công cụ bạn đã lựa chọn cần được xử lí. Việc xử lí
dữ liệu có thể thực hiện đơn giản bằng tính toán thú công nhưng cũng có thể thực hiện trên
máy vĩ tính đổi với những phân tích phức tạp hơn.
3. Yêu cầu đối với người hướng dẫn đồng nghiệp và phương pháp lập kế hoạch
hướng dẫn đồng nghiệp.
3.1. Yêu cầu đối với người hướng dẫn đồng nghiệp
Người hướng dẫn đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp giáo viên phải là người tôn
trọng sở thích và tin tưởng vào khả năng của đồng nghiệp; có uy tín trong nghề nghiệp và
khả năng tạo đuợc sự tin tưởng của đồng nghiệp. Hiểu được nguyện vọng của đồng nghiệp,

KĨ NĂNG LẬP KẾ HOẠCH BÀI HỌC THEO HƯỚNG
DẠY HỌC TÍCH CỰC
Số tiết tự học: 30
Số tiết lí thuyết: 15
Số tiết thực hành: 15
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục Tiểu học đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ
từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết quả
dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới phương pháp dạy học. Mục đích của việc đổi mới
phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo; rèn luyện thói
quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình
huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, có niềm vui, hứng thú trong học tập.
I. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học:
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Tiểu học cần được thực hiện theo các định
hướng sau:
1. Bám sát mục tiêu giáo dục.
2. Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể.
3. Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh.
4. Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường.
5. Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học.

27


6. Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các phương pháp dạy
học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các phương pháp
dạy học truyền thống.
7. Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng
của công nghệ thông tin.
II. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở trường Tiểu học.
1. Yêu cầu đối với học sinh::

+ Xác định khả năng đáp ứng nhiệm vụ nhận thức của học sinh.
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã có và cần có.
+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
- Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách
thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
- Thiết kế giáo án: Thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu
cần đạt cho từng hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.
2. Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau:
* Mục tiêu bài học:
+ Nêu rõ mức độ học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ.

28


+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hóa được.
* Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học:
+ Giáo viên chuẩn bị các thiết bị dạy học (Tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hóa chất…), các
phương tiện và tài liệu dạy học cần thiết.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và
đồ dùng học tập cần thiết).
* Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy học
cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ:
+ Tên hoạt động.
+ Mục tiêu của hoạt động.
+ Cách tiến hành hoạt động.
+ Thời lượng để thực hiện hoạt động.
+ Kết luận của giáo viên về: Những kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinh cần có sau các hoạt
động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học để giải
quyết; những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết
phù hợp…

đang còn chép quá nhiều những điều khi dạy không dùng đến, bài soạn thì dài mà chất

29



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status