BÁO CÁO THU HOẠCH THỰC TẬP THIÊN NHIÊN: VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA KHU VỰC TAM ĐẢO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BẮC BỘ. - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
-----------------------

BÁO CÁO THU HOẠCH
THỰC TẬP THIÊN NHIÊN
CHUYÊN ĐỀ:VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA
KHU VỰC TAM ĐẢO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN ĐA DẠNG
SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BẮC BỘ.

Sinh viên thực hiện: Nhóm 7 lớp ĐH5QM7
1. Nguyễn Việt Hoàng
2. Nguyễn Quế Ly
3. Hứa Như Tùng Lâm
4. Trần Thị Huyền
5. Nguyễn Trọng Hưng

Hà Nội, 5/2016


MỤC LỤC

Phần 1: Lộ trình, điểm khảo sát và các nội dung thực tập.........................................................3
Phần 3: Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế xã hội của VQG Tam
Đảo...........................................................................................................................................9
3.1.3 Địa chất.............................................................................................................................. 11
3.1.5 Mạng lưới thủy văn............................................................................................................. 13
3.1.6 Tài nguyên thiên nhiên........................................................................................................ 14
4.1 Kết quả tìm hiểu............................................................................................................................. 18
4.2Phân tích kết quả thu được............................................................................................................. 18


vị nghiên cứu khoa học trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, được giao quản lý
34.995ha rừng và đất rừng, trụ sử chính nằm cách Hà Nội khoảng 75 km về phía
Tây bắc. Tuy nhiên đối mặt với hiện trạng ngày càng suy thoái đa dạng sinh học ở
Việt Nam các năm gần đây thì số loài động vật ở Tam Đảo có: 8 loài đang nguy cấp,
17 loài sẽ nguy cấp, 13 loài hiếm có và 18 loài đang bị đe dọa và thực vật có 42 loài
đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái đa dạng sinh học này, trong đó
nguyên nhân quan trọng nhất phải kể đến đó là sự khai thác quá mức và sử dụng
không hợp lý nguồn tài nguyên sinh học, việc khai thác đó đã làm mất và phá hủy đi
nơi cư trú của các loài động thực vật và gây ra ô nhiễm môi trường.Suy thoái đa
dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường
sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của VQG Tam Đảo.Mặt khác
sinh vật và hệ sinh thái là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, dược phẩm, công
cụ, nguyên vật liệu cho con người.Do vậy, hệ sinh thái bị suy thoái sẽ ảnh hưởng
đến an ninh lương thực làm cho con người nơi đây phải đối mặt với nguy cơ đói
nghèo, suy giảm nguồn gen và đặc biệt là biến đổi khí hậu dẫn đến hàng loạt các
thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống của con người.

1


Đứng trước khó khăn và thách thức đó, thì chúng ta cần nhận thức được đa
dạng sinh học có vai trò và tầm quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự
nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài
người và sự bền vững của thiên nhiên trên Trái Đất nói chungvà VQG Tam Đảo nói
riêng.Vì vậy nhóm chúng tôi đã lựa chọn chuyên đề “Vai trò và tầm quan trọng của
khu vực Tam Đảo đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường khu
vực đó”.
2. Mục tiêu của chuyên đề
 Mục tiêu chung

cho mọi người đều cảm thấy vui vẻ, thoải mái vì thoát khỏi cái nóng oi bức ở Hà
Nội. Sau khi đến chúng tôi nhận phòng và nghỉ ngơi tại khách sạn Hương Liên nằm
ở Trung tâm Tam Đảo.
18h00, chúng tôi tập trung tại sảnh khách sản ăn tối. 19h00, lớp chúng tôi
tổ chức lửa trại.2h00, cả lớp dọn sân và trở về khách sạn. Ngày đầu tiên của chuyến
thực tập thiên nhiên ( 08/06/2017 ) 6h00 chúng tôi có mặt tại sảnh để ăn sáng, 7h00
tập trung trước khách sạn được thầy cô và bác hướng dẫn nói về lộ trình tìm hiểu về
các mô hình sinh kế của người dân thị trấn Tam Đảo. 8h00, đoàn xuất phát với sự
hướng dẫn của thầy cô và bác hướng dẫn. Điểm đến đầu tiên là trạm nghiên cứu
trồng cây thuốc Tam Đảo. Tại đây chúng tôi được tham quan nhiều loại cây thuốc
quý.

Thăm trạm nghiên cứu trồng cây Tam Đảo ( người chụp : Quách Thị Lợi )
9h30, đoàn di chuyển tham quan Đền Bà Chúa Thượng Ngạn. Để lên được
Đền chúng tối đi khoảng 200 bậc đá, cánh rừng trúc. Theo người dân trong
vùng,đền thờ Bà Chúa Thượng Ngàn có từ đầu thế kỷ 20, vào thời điểm mà người
Pháp khám phá và biến Tam Đảo trở thành nơi nghỉ mát lý tưởng.

4


Đền Bà Chúa Thượng Ngàn ( người chụp : Nguyễn Quế Ly )
10h50: Đoàn có mặt tại nơi nuôi cấy Đông trùng hạ thảo. Đoàn được chia
thành 3 nhóm Và được hướng dẫn viên giới thiệu về nguồn gốc , đặc điểm của
Đông Trùng Hạ Thảo.

Nơi nuôi trồng Đông Trùng Hạ Thảo ( Người chụp: Nguyễn Việt Hoàng )

5


+ Đưa vào khung hình những gì mình thấy thú vị và loại bỏ những gì không
đáng. Một số máy ảnh và ống kính cho phép người chụp có thể lấy cận các vật thể
nhỏ. Càng gần càng tốt là thường là cách tốt nhất khi chụp cảnh thiên nhiên.
+ Nếu chủ thể có bố cục dọc, hãy xoay máy lại cho tương thích. Thử các góc
nhìn mới lạ và tập trung vào tiêu điểm.
+ Dùng các động từ để hình dung về các bức ảnh sẽ chụp, chứ không chỉ là
các danh từ gọi tên chủ thể. Người cầm máy nên hòa nhập vào sự việc và dự đoán
những gì sắp xảy ra tiếp theo và chờ đợi nắm bắt ngay những khoảnh khắc ấy.
Chẳng hạn như một chú ong hút mật, gió thổi qua cánh đồng…
+ Chọn đúng độ phơi sang, giữ chắc tay máy, sử dụng chế độ chụp tay
 Phương pháp ghi chép khi tiếp nhận thông tin từ giáo viên,hướng dẫn viên:
+ Phương pháp ghi theo dàn ý.
7


+Phương pháp chép nguyên câu.
*Lưu ý khi ghi chép:
- Ghi ngày tháng.
- Viết rõ ràng.
- Không viết tất cả những gì giáo viên,hướng dẫn viên nói,chỉ ghi những ý
chính.
- Ghi chép ngắn gọn bằng cách ghi cụm từ thay vì câu hoàn chỉnh.Sử dụng
cách viết tắt và kí hiệu riêng.
- Dùng từ ngữ riêng nhưng không thay đổi nghĩa.
- Một số nội dung cần ghi chính xác: Công thức,định nghĩa, sự kiện cụ thể (địa
điểm,năm,tên người……)
- Nếu nghe không kịp thì ghi từ khóa và để trống rồi bổ sung sau.

8


VQG Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình khối đồ sộ,
nằm ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, chạy dài theo hướng tây- bắc- đông- nam. Cả
khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn dốc, độ chia cắt sâu và dày. Chiều
dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao sàn sàn trên 1000m được nối với nhau
bằng đường dông núi sắc, nhọn. Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1592m) là ranh giới
địa chính của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Chiều ngang biến
10


động trong khoảng 10-15km. Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình
quân 25-35 độ, nhiều nơi trên 35o nên rất hiểm trở và khó đi.
Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dẫy núi Tam Đảo thành bốn
kiểu địa hình chính:
- Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao tuyệt đối < 100m,
độ dốc cấp I ( 700m – 1590m. Độ dốc > cấp III. Phân bố
ở phần trên của khối nứi. Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn.
Như vậy có thể nói địa hình Tam Đảo cao và khá đều ( cao ở giữa và thấp dần
về hai đầu nhưng độ chênh không rõ), chạy dài gần 80km theo hướng tây- bắcđông- nam nên nó như một bức bình phông chắn gió mùa đông- bắc tràn về đồng
bằng và trung du Bắc Bộ. Vì vậy ảnh hưởng lớn đến chế độ khí hậu và thủy văn
trong vùng.
3.1.3 Địa chất
Dãy núi Tam Đảo được cấu tạo từ đá phun trào axít tuổi Triat thuộc hệ tầng
Tam Đảo. Thành tạo phun trào này kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam với
chiều dài khoảng 80km, rộng khoảng 10km, có quan hệ kiến tạo với các thành tạo
tuổi Devon ở phía Bắc và Tây Nam. Các đá phun trào Tam Đảo bị xâm nhập phức

- Tiểu vùng miền núi, gồm toàn bộ vùng núi Tam Đảo thuộc trị trấn Tam Đảo
và các xã Minh Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù... có khí hậu mát
mẻ, nhiệt độ trung bình 18 0C-190C, độ ẩm cao, quanh năm có sương mù tạo cảnh
quan đẹp. Khí hậu tiểu vùng miền núi mang sắc thái của khí hậu ôn đới, tạo lợi thế
trong phát triển nông nghiệp với các sản vật ôn đới và hình thành các khu nghỉ mát,
phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng vào mùa hè.
- Tiểu vùng khí hậu vùng thấp, bao gồm phần đồng bằng của các xã Minh
Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù và toàn bộ diện tích của các xã còn
lại. Tiểu vùng khí hậu của vùng mang các đặc điểm khí hậu gió mùa nội chí tuyến
vùng Đông Bắc Bắc Bộ. Nhiệt độ của tiểu vùng trung bình ở mức 22 0C-230C, độ ẩm
tương đối trung bình khoảng 85-86%, lượng mưa trung bình 2.570 mm/năm và
thường tập trung vào tháng 6 đến tháng 9 trong năm.

12


- Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc nên chịu ảnh
hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa ẩm. Mưa bão có sự tác động tiêu cực đến sản
xuất và đời sống. Chế độ gió theo mùa, mùa hè chủ đạo là gió Đông Nam, mùa
đông chủ đạo là gió mùa Đông Bắc.
3.1.5 Mạng lưới thủy văn
Trong khu vực có hai hệ thống sông chính, đó là sông Phó Đáy ở phía tây
( Tuyên Quang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía đông ( Thái Nguyên). Đường phân
thủy rõ rệt nhất của hai hệ thống sông này là đường dông nối các đỉnh núi suốt từ
Mỹ Khê ở cực nam đến Đèo Khế ở điểm cực bắc.
Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống hai hệ thống sông này có
dạng chân rết khá dày đặc và ngắn., có cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân
núi. Từ chân núi trở đi sông lại có dạng uốn khúc phức tạp trên mặt cánh đồng khá
bằng phẳng, tương ứng với dạng địa hình đã tạo ra nó.
Mật độ sông suối khá dày ( trên 2km/km 2), các suối có thung lũng hẹp, đáy

3.1.6 Tài nguyên thiên nhiên.
 Tài nguyên đất
 Về số lượng: Theo số liệu kiểm kê năm 2010, tổng diện tích tự nhiên của
huyện Tam Đảo là 23.587,62. Đất nông, lâm, thủy sản là 19.020,42 ha chiếm
82,64% tổng diện tích đất tự nhiên. Đáng lưu ý là, trong đất sản xuất nông nghiệp,
đất trồng cây hàng năm có 3.179,21 ha, chiếm 72,68%, trong đó đất trồng lúa là
2.618,96 ha, chiếm 82,38%, đất trồng cây hàng năm. Đất cây lâu năm là 1.194,86
ha, chiếm 27,32% diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Diện tích mặt nước nuôi trồng
thủy sản chỉ có 28,00 ha trong khi diện tích mặt nước chuyên dùng lên đến 1.624,82
ha.
Bảng 3.1. Tình hình đất đai của huyện Tam Đảo 2005-2010
Đơn vị: ha
TT
I
1
2
3
II
III
1
2
3

2010
Loại Đất
2005
2006
2008
Tổng diện tích tự nhiên
23.573,10 23.573,10 23.587,62 23.587,62

1,82
Núi đá không có rừng cây
1,82
1,82
1,84
20,56
Đất bằng chưa sử dụng
45,13
45,38
44,03
Phòng Thống kê huyện Tam Đảo - Tài liệu phục vụ Quy hoạch.

14


 Trong 14.618,35 ha đất lâm nghiệp, đất rừng sản xuất chỉ có 1.752,28 ha,
đất rừng phòng hộ có 537,66 ha, đất rừng đặc dụng lên đến 12.328,41 ha. Đây là
tiềm năng quý, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề bảo vệ trong phát triển kinh tế.
 Với quỹ đất như trên, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người khá
thấp (khoảng 0,36 ha). Nhưng do đã giao cho VQG Tam Đảo, Lâm trường Tam Đảo
và các tổ chức khác trên địa bàn nên thực tế diện tích sản xuất bình quân đầu người
ở Tam Đảo cũng thấp hơn. Đây là một sức ép rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội
vì phần lớn dân số và lao động trong huyện đang thu hút vào lĩnh vực nông nghiệp.
 Về chất lượng: Trên địa bàn huyện Tam Đảo có các loại đất chính như đất
đồi núi, đất phù sa cổ ven sông, đất dốc tụ ven đồi, núi. Nhìn chung chất lượng đất
đai của Tam Đảo không thuộc loại cao.
 Về biến động: Đất nông nghiệp giảm từ 19.569.88 ha năm 2005 xuống
19.020,42 năm 2010, tức giảm 549,46 ha
 Động vật
Khu hệ động vật Tam Đảo với 307 loài, trong đó thú: 64 loài, chim 239 loài,

3. Chất lượng nguồn lao động
- Lao động chưa qua đào tạo

2004
2005
2009
2010
2015
2020
67.235 67.990 70.694 71.528 75.734 80.187
31.197 32.002 34.136 34.579 37.252 40.132
20.23 19.92 17.95 18.18 19.77 20.047
5
5.269
5.603

1
5.588
6.493

6
7.305
8.875

9
7.400
8.990

4
8.195

1.176 2.608 4.013
- Cao đẳng, đại học trở lên
333
349
956
1.037 2.980 4.816
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tam Đảo - Tài liệu phục vụ Quy hoạch
Tam Đảo là huyện miền núi mới được tái lập, điều kiện cơ sở vật chất còn
thiếu, trình độ dân trí còn thấp và chưa đồng đều, nhất là đối với đồng bào dân tộc
sống ở vùng núi. Nhìn chung nguồn lao động của Tam Đảo có chất lượng thấp.Với
những đặc trưng về dân số và nguồn lao động như trên, Tam Đảo vừa có thuận lợi
trong phát triển kinh tế, vừa có những khó khăn, đặc biệt là trong việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành thương mại, dịch vụ du lịch và
tiểu thủ công nghiệp.
3.2.2 Các giá trị truyền thống dân tộc, văn hóa và tôn giáo.
Tam Đảo là huyện miền núi có nhiều dân tộc anh em và nhiều yếu tố truyền
thống, văn hóa, lịch sử tạo những điều kiện tiền đề cho sự phát triển Kinh tế - Xã
hội của Huyện.
Huyện Tam Đảo có 110 di tích đình, chùa, đền, miếu, trong đó có nhiều di tích
có giá trị văn hoá cao, minh chứng cho một thời kỳ du nhập, phát tích và hưng thịnh
của Phật giáo vào Việt Nam.

16


Hiện nay, Tam Đảo còn lưu giữ được một làn điệu dân ca truyền thống của dân
tộc Sán Dìu, đó là hát Soọng Cô. Bên cạnh hát Soọng Cô, khu vực xã Đạo Trù còn
có “Chợ tình”, do thời gian và sự phát triển của Kinh tế - Xã hội, chợ tình Đạo Trù
hiện nay đã mai một, nhưng có thể khôi phục lại.
Tam Đảo là huyện miền núi có 3 xã thuộc Chương trình 135. Vì vậy, Tam Đảo

gặp được chủ yếu ở vùng thấp dưới 900m. Số lượng loài Lưỡng cư được ghi nhận
tại VQG Tam Đảo ngày càng tăng. Khi lập Dự án khả thi xây dựng VQG Tam Đảo
(1992-1995) mới chỉ biết đến 19 loài thuộc 7 họ, 2 bộ; 1993 đã phát hiện tới 27 loài,
và hiện nay đã lên tới 57 loài thuộc 8 họ, 3 bộ. Điều này có thể hứa hẹn rằng vẫn
còn khả năng phát hiện thêm các loài mới thuộc nhóm động vật này, nhất là ở các
sinh cảnh trên độ cao như vùng Ao Dứa (Tam Đảo 2), vùng này thực ra vẫn còn rất
ít được quan tâm.

18


-Bò sát: Nhóm động vật này rất được quan tâm trong công tác bảo tồn vì Rùa
là một trong số các động vật là nạn nhân của nạn buôn bản động vật hoang dã qua
biên giới. Tính đa dạng các loài bò sát VQG Tam Đảo đứng vào loại thứ hai trong
các động vật có xương sống của Vườn, hiện nay đã phát hiện còn tồn tại tới 124 loài
thuộc 16 họ, 2 bộ. Con số này cũng cao hơn so với khi mới thành lập Vườn (1995),
khi ấy chỉ biết được 46 loài thuộc 13 họ, 2 bộ. Sự tăng số lượng này chắc chắn là do
mức độ nghiên cứu sâu hơn và sự duy trì của các sinh cảnh sống đặc trưng của
chúng trong VQG. Trong số các loài thống kê được có đến 3 loài đặc hữu, 23 loài
quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam (E (1), V (7), T (9), R (6)), và 12 loài được
ghi trong Danh lục đỏ IUCN.
-Chim: Chim là nhóm đa dạng nhất trong các động vật có xương sống ở
VQG, hiện nay đã phát hiện được 186 loài thuộc 45 họ, 17 bộ. Các họ nhiều loài
nhất là họ Khướu (Tamaliidae), họ Chích chòe (Turdidae), họ Chim chích
(Sylviidae), họ Chào mào (Pycnonoidae). Nhưng đáng chú ý nhất là họ Gà lôi
(Phasianidae), họ này có đến 5 loài được ghi nhận tại Tam Đảo, trong đó có những
loài quý và đẹp như Gà lôi trắng (Lophura nychthemera), Gà tiền (Polyplecton
bicalcaratum). Sự hiểu biết về tính đa dạng các loài chim Tam Đảo cũng tăng dần
theo các hoạt động nghiên cứu bảo tồn tại VQG. Căn cứ vào Dự án khả thi xây
dựng VQG, lúc đó mới chỉ ghi nhận được 158 loài thuộc 43 họ, 15 bộ với 7 loài có

20


Bảng 4.1. Một số loài động thực vật quý hiếm ở VQG Tâm Đảo

Trong số các bộ côn trùng đã nêu trên, bộ Cánh cứng (Coleoptera) và bộ Cánh
vảy (Lepidoptera) có số lượng loài nhiều nhất (224=38,3% cho Coleoptera và
192=32,87% cho Lepidoptera), tiếp đến là bộ Cánh khác (Heteroptera) 85 loài =
14,7%. Các bộ còn lại: Cánh thẳng (Ortoptera), Cánh giống (Homoptera), Cánh đều
(Isoptera) có số lượng loài ít (28, 16 và 38 loài tương ứng với 4,8%; 2,7% và 6,5%
so với tổng số loài toàn nhóm.). Phân tích chỉ số đa dạng giống/họ thì vai trò của hai
bộ Cánh cứng và Cánh vẩy cũng chiếm ưu thế trong khu hệ côn trùng Tam Đảo.

21


Bảng 4.2. Tính đa dạng của các bộ côn trùng tại VQG Tam Đảo

Trong một nghiên cứu khác chuyên về Bướm (Bộ Cánh vẩy - Lepidoptera) ở
VQG Tam Đảo; Monatyrski A.L., Vũ Văn Liên và Bùi Xuân Phương (2005) đã ghi
nhận được đến 293 loài thuộc 10 họ: Papilionidae (36 loài), Pieridae (25 loài),
Danaidae (14 loài), Satyridae (36 loài), Amathusidae (10 loài), Nymphalidae (57
loài), Libytheidae (1 loài), Riodinidae (6 loài), Lycaenidae (32 loài) và Hesperidae
(66 loài). Theo nghiên cứu này đã có tới 6 loài và 2 phân loài mới cho khoa học, 22
loài được ghi nhận lần đầu tiên cho Việt Nam, ít nhất 3 loài được ghi nhận là mới
cho miền Bắc Việt Nam. Như vậy, số loài côn trùng VQG Tam Đảo đã lên tới gần
700 loài, trên 30 loài mới bổ sung cho VQG Tam Đảo (8 loài và phân loài mới cho
khoa học + 22 loài mới cho Việt Nam + ít nhất 3 loài mới cho Miền Bắc). Trong
một thời gian rất dài, nhất là trước những năm 2003, tình trạng đánh bắt và buôn
bán côn trùng ở Tam Đảo tập trung chủ yếu vào hai bộ Cánh cứng (Coleoptera, vd.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status