1
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng em.
Các số liệu được sử dụng trong khóa luận là hoàn toàn trung thực.Kết quả
được trình bày trong khóa luận chưa từng được công bố ở bất cứ công trình
nghiên cứu nào khác.
Tác giả khóa luận
Lê Ngọc Minh
2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
TPP
NHTM
TMCP
NHNN
CIC
KSNB
KH
NH
TCTD
Techcombank
CBNV
TSĐB
SXKD
HSBC
BCTC
KTKSNB
DANH MỤC KÍ HIỆU TỪ VIẾT TẮT
3
4
CHUƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam gia nhập ASEAN và TPP đã mở ra những cơ hội phát triển mới
cho thị trường tài chính Việt Nam nói chung và ngân hàng nói riêng. Tuy nhiên,
bên cạnh đó cũng đặt ra cho các NHTM Việt Nam nhiều thách thức và rủi ro.
Hoạt động ngân hàng ngày nay được coi là “mạch máu của nền kinh tế”.
Ngân hàng cung cấp rất nhiều các sản phẩm, dịch vụ khác nhau song đem lại
doanh thu lớn nhất cho ngân hàng vẫn là hoạt động tín dụng. Tuy nhiên cùng với
việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh
vực có rủi ro lớn nhất. Như một hệ quả, rủi ro khiến ngân hàng bị lỗ và bị phá
sản. Nó sẽ ảnh hưởng đến hàng triệu người gửi tiền, hàng ngàn doanh nghiệp
không được đáp ứng vốn, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng cao, sức
mua giảm sút, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội, và hơn nữa sẽ kéo
theo sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng trong nước cũng như khu vực ảnh
hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng là hoạt động chính chiếm từ 70%-80% thu nhập trong
hoạt động của ngân hàng. Nếu hoạt động kinh doanh tín dụng xảy ra tổn thất sẽ
làm tăng chi phí, giảm thu nhập, thậm chí gây thất thoát vốn của ngân hàng. Từ
đó không những ảnh hưởng đến uy tín kinh doanh và vị thế của ngân hàng mà
- Thứ ba, đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộhoạt động tín dụng
tại chi nhánh Hoàng Gia
3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu :
Khóa luận lấy công tác tổ chức và thực hiện công tác kiểm soát nội bộ
hoạt động tín dụng tại ngân hàng Techcombank chi nhánh Hoàng Gia làm đối
tượng nghiên cứu.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu :
-
Thời gian: thời gian thực hiện từ ngày 01/01/2016 đến 08/04/2016
-
Không gian: khóa luận tập trung nghiên cứu, phân tích về thực trạng, giải pháp
nhằm hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng
Techcombank – chi nhánh Hoàng Gia
-
Số liệu nghiên cứu: số liệu trong khóa luận nghiên cứu năm 2014,2015
6
-
dựng sự nghiệp thành đạt”.Với đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên nghiệp từ cách
tiếp xúc với khách hàng đến việc giao tiếp trong nội bộ.
7
Trong khoảng thời gian thực tập, được các anh chị nhân viên chi nhánh
chỉ bảo tận tình em đã cải thiện rất nhiều trong cách suy nghĩ, cũng như việc
phân tích và tổng hợp các số liệu trong các công việc được giao. Chính vì vậy,
em cũng đã hiểu hoạt động của ngân hàng và hiểu hơn về hoạt động kiểm soát
nội bộ tại đây. Việc kiểm soát do ban lãnh đạo chi nhánh điều hành như giám
đốc chi nhánh và các trưởng mảng.Việc giao tiếp với khách hàng do các nhân
viên tại chi nhánh trực tiếp giao dịch với khách hàng hoặc khách hàng sẽ làm
việc với chi nhánh qua hai hình thức nữa là Internet Banking và gọi điện. Việc kí
duyệt và kiểm soát sẽ có giám đốc , các trưởng mảng và kiểm soát viên tại chi
nhánh điều hành, sau đó sẽ báo cáo với giám đốc khối để phản ánh lên trụ sở.
Việc quản lý và điều hành tại chi nhánh rất chặt chẽ , theo quyết định của
ngân hàng nhà nước và hội sở ngân hàng Techcombank ban hành và điều chuyển
xuống các chi nhánh, ngân hàng Techcombank và chi nhánh Hoàng Gia đều thực
hiện các bước kiểm soát đã đề ra theo quy định được ban hành. Bên cạnh đó,
ngoài việc cán bộ nhân viên rất tuân thủ các điều lệ chính sách mà ngân hàng
quy định như việc kiểm soát dữ liệu của khách hàng , hồ sơ khách hàng hay các
vấn đề mà từng cá nhân quản lí thì mỗi chi nhánh đều có các camera giám sát
hoạt động tại chính quầy giao dịch , kiểm soát mọi việc làm của nhân viên cũng
như các vi phạm có thể xảy ra trong khi thực hiện giao dịch với khách hàng.
Việc thu thập được thông tin về việc quản lý, kiểm soát nội bộ các hoạt
động tại chi nhánh và đặc biệt là hoạt động tín dụng, em còn thu thập theo một
phương pháp khá nhanh gọn chính là hỏi đáp – tư vấn. Trong thời gian thực tập,
quan sát cũng như tìm hiểu được các vấn đề cốt yếu xảy ra, các hoạt động, các
công việc tại nơi đây thì các anh chị nhân viên cũng luôn nhiệt tình chỉ bảo cho
chi tiết trong đó. Các giải pháp được đưa ra với ý kiến chung chung và không
nói rõ được điều kiện cần cho sự cải thiện trong việc hạn chế rủi ro tại ngân
hàng.
-
Khóa luận “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại công ty trách nhiệm hữu hạn Chung
Thành An”, sinh viên Vũ Hương Giang, trường học viện ngân hàng , khóa luận
năm 2013. Tại khóa luận này, tác giả đã đề cập đến hoạt động kiểm soát nội bộ
của công ty một cách cụ thể nhưng những hạn chế trong đó vẫn chưa rõ ràng và
vẫn chưa đưa ra được giải pháp hợp lý nhất. Vẫn chưa chỉ rõ được rủi ro do
trong hoạt động cụ thể nào hay nêu ra được dẫn chứng. Mọi ý kiến và biện pháp
còn quá chung chung và nghiêng về kiểm toán nội bộ hơn là kiểm soát nội bộ ,
mới chỉ nêu ra được quy chế quản lý tài chính và quy chế quản lý vật tư , tài sản
cố định mà chưa nêu ra được quy chế dành cho bộ phận lãnh đạo, quản trị cần
phải có của công ty.
9
-
Khóa luận “Hoànthiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty cổ phần thương mại
dịch vụ Hoàng Phúc”, sinh viên Bùi Văn Đoan,trường học viện ngân hàng, khóa
luận năm 2014.Trong khóa luận này có đề cập đến kiểm toán nội bộ cũng như
việc kiểm soát của công ty đối với các nghiệp vụ hay phòng ban.Đây là một bài
nghiên cứu khá cụ thể về kiểm soát nội bộ trong việc kiểm tra , giám sát các hoạt
động công ty. Nhưng lại chưa nêu ra được cụ thể ưu nhược điểm của hệ thống
kiểm soát nội bộ tại công ty và phương hướng, giải pháp không rõ ràng mà chỉ
nêu được các nguyên tắc trong phần này.
mọi tổ chức bởi chính nó là chìa khóa để các đơn vị tổ chức phát triển bản thân
hơn nữa và tiến lên hội nhập vào nên kinh tế tự do hiện nay.
Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp thích hợp, kịp thời và chắc chắn
cho việc kiểm soát, quản lý nội bộ tại ngân hàng Techcombank chi nhánh Hoàng
Gia là cần thiết,điều đó sẽ khiến cho chi nhánh hoạt động tốt và hiệu quả hơn
nữa, đồng thời cũng sẽ thúc đẩy năng suất của chi nhánh để chi nhánh có thể đạt
được nhiều thành tích hơn so với các chi nhánh khác trong khu vực.Chính từ các
khóa luận trên, em học hỏi được những cách thức, phương pháp để cải thiện và
hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như các điều rõ nét về hoạt động tín
dụng để từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp nhất cho kiểm soát nội bộ hoạt
động tín dụng tại chi nhánh Hoàng Gia cũng như việc tránh khỏi tình trạng
không rõ ràng trong trình bày cũng như sai sót trong khóa luận của mình.
6
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngoài lời mở đầu, kết luận,phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được chia
thành 4 chương:
Chương 1. Tổng quan đề tài nghiên cứu
Chương 2. Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân
hàng thương mại
Chương 3.Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng
techcombank – chi nhánh hoàng gia
Chương 4.Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại
ngân hàng techcombank – chi nhánh hoàng gia
11
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
12
Tài sản của đơn vị được bảo vệ bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô
hình và các tài sản phi vật chất khác như sổ sách kế toán, các tài liệu quan
trọng… của doanh nghiệp.
• Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:
Thông tin muốn nói ở đây chính là thông tin kinh tế tài chính do bộ máy
kế toán xử lý và tổng hợp. Thông tin này cần được bảo đảm độ tin cậy bởi vì nó
là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý. Các
thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin
cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ
yếu của mọi hoạt động kinh tế tài chính.
•
Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo
các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp phải được tuân thủ đúng mức.
• Bảo đảm hiệu quả của các hoạt động và năng lực quản lý
Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa
sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và
sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp.
Theo quan điểm của các kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA)
Các định nghĩa của viện kế toán viên công chứng (AICPA) ở Mỹ về Kiểm
soát nội bộ liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể. Trong phần thực hành Kiểm toán
Kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau:
“Kiểm soát nội bộ gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả những phương
pháp, biện pháp phối hợpvà đo lường được thừa nhận dùng trong kinh doanh
để bảo vệ tài sản của tổ chức, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của các thông
công ty, bao gồm cả những hoạt động chính thức hoặc không chính thức, nhằm
đưa ra quy định, hướng dẫn về các nhân tố có thể tác động đến hoạt động kinh
doanh. Theo nghĩa rộng, kiểm soát nội bộ bao gồm thủ tục quản lý trang thiết bị
hoặc những công cụ kiểm soát sản xuất, kinh doanh và phân phối của công ty.
Thông tin của người chịu trách nhiệm kiểm soát nội bộ thường được thu thập và
tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau như trao đổi với nhân viên cơ sở, điều tra
thông qua bảng câu hỏi, bằng thực tế … Sau đó họ ghi lại những thông tin sơ bộ
14
dưới dạng biểu đồ hình cột mô tả, tường thuật hoặc kết hợp cả hai hình thức trên
nhằm đưa ra được một hình ảnh cụ thể để phục vụ cho công tác kiểm soát.
Phòng kiểm soát nội bộ là một bộ phận thuộc bộ máy điều hành, có chức
năng hỗ trợ cho giám đốc công ty, giám sát mọi hoạt động trong công ty, đảm
bảo mọi nhân viên thực hiện đúng nội quy, quy chế của công ty. Ngoài ra, bộ
phận này còn có nhiệm vụ phải báo cáo kịp thời kết quả kiểm tra, kiểm soát nội
bộ và đề xuất các giải pháp kiến nghị cần thiết nhằm đảm bảo cho mọi hoạt
động an toàn đúng pháp luật.
2.1.2 Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
Tùy vào loại hình hoạt động, mục tiêu và quy mô của chi nhánh mà hệ
thống kiểm soát nội bộ được sử dụng khác nhau, nhưng nói chung, hệ thống này
cần có 5 thành phần như sau:
2.1.2.1. Môi trường kiểm soát ( Control Environment)
Liên quan đến ý thức kiểm soát của thành viên trong tổ chức.Môi trường
kiểm soát là yếu tố cơ bản cho tất cả những yếu tố khác của hệ thống kiểm soát
nội bộ.
Môi trường kiểm soát là khái niệm bao gồm toàn bộ các nhân tố bên trong
và bên ngoài của đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động
và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ. Môi trường kiểm soát phản
Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên:
Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên
và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như là chủ thể
trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp. Do
đó, nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các nhân viên có trình độ đào tạo và kinh
nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao, phải giám sát và huấn luyện họ thật đầy đủ và
thường xuyên để đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu công việc.
•
Sự tham gia của Ban quản trị:
Sự tham gia của Ban quản trị sẽ làm cho môi trường kiểm soát được tốt
hơn do sự kiểm soát của nó đến các hoạt động của nhà quản lý.
•
Triết lý và phong cách điều hành của Ban Giám đốc:
16
Được thể hiện thông qua:Cách tiếp cận của nhà quản lý đối với việc quản
lý và chấp nhận rủi ro kinh doanh. Quan điểm và hành động đối với việc lập và
trình bày báo cáo tài chính.Quan điểm đối với việc xử lý thông tin, công việc kế
toán và nhân sự.
•
Cơ cấu tổ chức bộ máy của đơn vị:
Cơ cấu tổ chức là bộ máy thực hiện các hoạt động của đơn vị được lập kế
hoạch, thực hiện, kiểm soát và soát xét nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Xác định mục tiêu của đơn vị: Mục tiêu tuy không phải là một bộ
phận của kiểm soát nội bộ nhưng việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để
đánh giá rủi ro. Xác định mục tiêu bao gồm việc đưa ra sứ mệnh, hoạch định các
mục tiêu chiến lược cũng như những chỉ tiêu phải đạt được trong ngắn hạn,
trung hạn hay dài hạn. Việc xác định mục tiêu có thể thực hiện thông qua ban
hành các văn bản hoặc thông qua nhận thức và phát biểu của nhà quản lý.
•
Nhận dạng rủi ro: rủi ro có thể tác động đến cả đơn vị hoặc từng hoạt
động cụ thể.
Các nhân tố có thể làm phát sinh rủi ro:
Sự đổi mới về kỹ thuật ảnh hưởng đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc hệ
thống thông tin trong đơn vị
Sự thay đổi nhân sự
Thay đổi quy chế của tổ chức hoặc môi trường hoạt động
Nhu cầu của khách hàng thay đổi
truyền
thông(
Information
and
communication)
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc
thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc
hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân
thủ, bao gồm cả cho nội bộ và cho bên ngoài.
Sự kiểm soát chỉ có thể thực hiện nếu các thông tin trung thực và đáng tin
cậy.Đồng thời đảm bảo các yêu cầu chất lượng của thông tin là thích hợp, kịp
thời, chính xác và truy cập thuận tiện. Hệ thống thông tin trong đơn vị bao gồm
nhiều phân hệ, trong đó hệ thông thông tin kế toán là một bộ phận quan trọng.
Theo chuẩn mực kiểm toán số 315, hệ thống thông tin liên quan đến việc
lập và trình bày báo cáo tài chính, bao gồm các quy trình kinh doanh có liên
quan, và trao đổi thông tin. Kiểm toán viên phải tìm hiểu về hệ thống thông tin
liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính, bao gồm các quy trình kinh
doanh có liên quan, gồm các nội dung sau:
Các nhóm giao dịch trong hoạt động của đơn vị có tính chất quan trọng đối với
báo cáo tài chính.
Kiểm toán viên phải tìm hiểu cách thức đơn vị trao đổi thông tin về vai
trò, trách nhiệm và các vấn đề quan trọng khác liên quan tới báo cáo tài chính,
gồm:
Trao đổi giữa Ban Giám đốc và Ban quản trị
Thông tin với bên ngoài, ví dụ với các cơ quan quản lý có thẩm quyền
2.1.2.4. Hoạt động kiểm soát ( Control activities)
Hoạt động kiểm soát là các chính sách và thủ tục giúp cho các chỉ thị của
nhà quản lý được thực hiện. Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi những
hành động với mục đích chính là giúp kiểm soát những rủi ro mà đơn vị đang
hoặc có thể gặp phải.
Theo chuẩn mực kiểm toán sô 315, những hoạt động kiểm soát chủ yếu
trong đơn vị:
-
Phân chia trách nhiệm đầy đủ: là không cho phép một thành viên nào được
giải quyết mọi mặt của nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc. Mục
đích của phân chia trách nhiệm là để các nhân viên kiểm soát lẫn nhau, nếu có
sai sót xảy ra sẽ được phát hiện nhanh chóng; đồng thời giảm cơ hội cho bất kì
thành viên nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có thể gây ra và giấu diếm sai
phạm của mình.
20
dữ liệu khác có liên quan như những thông tin không có tính chất tài chính; đồng
thời xem xét trong mối quan hệ với tổng thể để đánh giá quá trình thực hiện.
2.1.2.5.Giám sát ( Monitoring)
Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của hệ thống
kiểm soát. Điều quan trọng trong giám sát là phải xác định kiểm soát nội bộ có
vận hành đúng như thiết kế hay không? Có cần thiết phải sửa đổi cho phù hợp
với từng giai đoạn phát triển của đơn vị hay không? Cần điều chỉnh gì cho phù
21
hợp với tình hình của từng giai đoạn. Theo chuẩn mực kiểm toán số 315, hoạt
động giám sát chia ra:
-
Giám sát thường xuyên: diễn ra ngay trong quá trình hoạt động, do các nhà quản
lý và các nhân viên thực hiện trong trách nhiệm của mình. Được thực hiện thông
qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý của khách hàng, nhà cung cấp..hoặc các báo
cáo hoạt động và phát hiện các biến động bất thường.
-
Giám sát định kỳ: thường được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ
do kiểm toán viên nội bộ, hoặc do kiểm toán viên độc lập thực hiện. Giám sát
định kỳ giúp phát hiện kịp thời những yếu kém trong hệ thống để đưa ra biện
pháp cải thiện, giúp cho kiểm soát nội bộ luôn duy trì được sự hữu hiệu của
mình qua những thời kỳ khác nhau.
2.1.3. Hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Các quá trình kiểm soát chỉ có thể đảm bảo hợp lý chứ không thể đảm bảo
tuyệt đối cho các mục tiêu kiểm soát tại đơn vị, trong đó có cả mục tiêu lập báo
trên khiến cho nhân viên hiểu sai.
-
Khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện được sự thông đồng của
thành viên trong ban quản lý hoặc nhân viên với những người khác trong hay
ngoài đơn vị.
-
Khả năng người thực hiện kiểm soát lại lạm dụng đặc quyền của mình.
-
Do thay đổi cơ chế và yêu cầu quản lý làm cho các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu
hoặc vi phạm…
Với những hạn chế cố hữu của kiểm soát nội bộ, vì bản thân kiểm soát nội
bộ không thể vượt hơn sự đảm bảo hợp lý nên hầu như trong tất cả các cuộc
kiểm toán báo cáo tài chính luôn có một mức độ rủi ro kiểm soát.
2.2. KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
2.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng
trong ngân hàng thương mại
a. Mục tiêu của kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong ngân hàng
thương mại :
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thành lập nhằm đảm bảo các mục tiêu cơ
bản sau: mục tiêu kết quả hoạt động, mục tiêu thông tin, mục tiêu tuân thủ.
b. Nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng
-
( kiểm soát 1 )
c. Kiểm soát thẩm định tín dụng
Lãnh đạo phòng kinh doanh thực hiện kiểm soát lại nội dung phân tích tín
dụng của chuyên viên quan hệ khách hàng. Kiểm soát các thông tin trên báo cáo
thẩm định của chuyên viên quan hệ khách hàng, yêu cầu chuyên viên quan hệ
khách hàng điều chỉnh , bổ sung thêm các thông tin nêu trong báo cáo thẩm định
hoặc bổ sung thêm các hồ sơ cần thiết để đảm bảo cho hồ sơ khách hàng và các
thông tin cung cấp trong báo cáo thẩm định đầy đủ và chính xác, ý kiến của
người kiểm soát thống nhất toàn bộ với ý kiến đề xuất với các điều kiện kèm
theo(nếu có) .
d. Tái thẩm định
Chức năng tái thẩm định thuộc phòng thẩm định/ khối tín dụng và quản
trị rủi ro. Chuyên viên tái thẩm định thực hiện việc tái thẩm định, đưa ra ý kiến
về khoản vay sau đó trình lên hội đồng tín dụng chi nhánh, giám đốc/ phó giám
đốc chi nhánh, khối tín dụng và quản trị rủi ro, ban tổng giám đốc hoặc các
24
chuyên gia tín dụng cao cấp được ủy quyền phê duyệt, hội đồng tín dụng hội sở
miền nam.
Đối tượng tái thẩm định bao gồm:
-
Các khoản cấp tín dụng phải có ý kiến tái thẩm định theo quy định về chức năng
nhiệm vụ của phòng thẩm định
-
Các khoản cấp tín dụng theo yêu cầu của giám đốc chi nhánh / phó giám đốc chi
25
định ), trưởng / phó phòng thẩm định khu vực phụ trách chi nhánh thực hiện
kiểm soát tùy theo thẩm quyền kí trình .
+ Đối với các khoản cấp tín dụng thuộc thẩm quyền phê duyệt của ban
tổng giám đốc hoặc các chuyên viên tín dụng cao cấp được ủy quyền phê duyệt :
trưởng / phó phòng thẩm định khu vực phụ trách chi nhánh , lãnh đạo khối tín
dụng và quản trị rủi ro( đối với các hồ sơvượt quyền kí trình của trưởng phòng /
phó phòng thẩm định) thực hiện kiểm soát tùy theo thẩm quyền kí trình.
+ Đối với khoản tín dụng thuộc phê duyệt của hội đồng tín dụng HO/
miền nam: lãnh đạo khối tín dụng và quản trị rủi ro hoặc trưởng/ phó phòng
thẩm định khu vực phụ trách chi nhánh , thực hiện kiểm soát tùy theo thẩm
quyền kí trình.
e. Phê duyệt
Chuyên viên khách hàng thực hiện trình hồ sơ khoản vay lên các cấp phê
duyệt sau khi đã có kiểm soát của lãnh đạo phòng kinh doanh , giám đốc/ phó
giám đốc chi nhánh( nếu có), ý kiến tái thẩm định của khối tín dụng và quản trị
rủi ro(nếu có).
2.2.3. Kiểm soát giai đoạn giải ngân
a. Hoàn thiện hồ sơ giải ngân , lập tờ trình giải ngân :
Sau khi khách hàng đã phê duyệt và lập hồ sơ cần thiết để giải ngân khoản
vay theo nội dung phê duyệt khoản vay và có đề nghị giải ngân gửi cho
Techcombank , chuyên viên khác hàng lập tờ trình giải ngân để giải ngân khoản
vay theo đề nghị của khách hàng ,đồng thời ký nháy vào khế ước nhận nợ và
cam kết trả nợ .
Ban kiểm soát và hỗ trợ kinh doanh phối hợp với chuyên viên khách hàng
để hoàn thiện thủ tục nhận tài sản đảm bảo . Kế toán giao dịch và kho quỹ thực
hiện nhập kho hồ sơ tài sản đảm bảo theo đúng quy định về quản lý tài sản đảm