BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MINH LỢI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MINH LỢI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 62 34 04 03
tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận án này.
Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ, công chức Cục Khoa học công nghệ và
Đào tạo - Bộ Y tế; bạn bè đồng nghiệp và Gia đình đã tạo mọi điều kiện, động
viên tôi trong quá trình nghiên cứu, học tập thực hiện Luận án.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Minh Lợi
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ ...................................................................... vii
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN .....................................................................................................................9
1.1. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án ...........9
1.2. Kết quả nghiên cứu tổng quan và những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu31
Chương 2 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG .......................................................................................37
2.1. Điều dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng...............................................37
2.2. Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng .....................................41
2.3. Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng
....................................................................................................................................64
2.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng của một số
CSSK:
Chăm sóc sức khỏe
ĐDV:
Điều dưỡng viên
GD&ĐT:
Giáo dục và Đào tạo
KB, CB:
Khám bệnh, chữa bệnh
NLYT
Nhân lực y tế
NNL:
Nguồn nhân lực
NNLĐD:
Nguồn nhân lực điều dưỡng
NNLYT
Sơ đồ 3.1. Mô hình đào tạo và hành nghề điều dưỡng Việt Nam .................................. 87
Sơ đồ 4.1. Đề xuất mô hình đào tạo điều dưỡng Việt Nam......................................... 133
Sơ đồ 4.2. Đề xuất mô hình quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Việt Nam....... 143
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ cấu nhân lực y tế (NLYT), vị trí, vai trò của điều dưỡng viên
(ĐDV) đã được khẳng định. Cùng với đội ngũ các y, bác sỹ, ĐDV đã trở
thành một bộ phận độc lập và không thể tách rời trong ngành Y tế, vừa chiếm
đa số về số lượng, vừa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khoẻ nhân dân. Chăm sóc điều dưỡng là một hoạt động nghề
nghiệp chuyên môn, đòi hỏi có tri thức và kỹ thuật thành thạo, ĐDV cần phải
làm việc chủ động, sáng tạo, phải có kiến thức lẫn kỹ năng, là người cộng sự
không thể thiếu được của bác sỹ và cũng là người thực hiện các hoạt động
chuyên môn trên cơ sở chẩn đoán của bác sỹ. Như vậy, ĐDV phải có những
năng lực thông qua những kiến thức, thái độ, kỹ năng cần thiết để đảm bảo
thực hiện tốt 3 vai trò là: độc lập, phối hợp và phụ thuộc. Thực hiện đường lối
đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hội
nhập quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng (NNLĐD) đã có những
bước phát triển nhất định cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là sự phát
triển mạnh mẽ của hệ thống đào tạo, về các loại hình, quy mô và trình độ đào
tạo, góp phần quan trọng tăng cường chất lượng bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
sức khỏe nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác đào tạo cũng
như quản lý nhà nước (QLNN) về đào tạo NNLĐD vẫn còn nhiều bất cập và
có những khó khăn, thách thức.
ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ với những thách thức trong quá trình nâng cao
chất lượng bảo vệ, CSSK nhân dân và hội nhập quốc tế. Công tác điều dưỡng
có vai trò quan trọng trong hoạt động CSSK nhân dân, đội ngũ ĐDV chiếm tỷ
lệ đa số trong cơ cấu NLYT. Hoạt động đào tạo NNLĐD của nước ta đã đạt
được một số thành tựu nhưng cũng bộc lộ những vấn đề bất cập như chưa xác
định rõ cơ cấu nhân lực cần thiết trong hệ thống y tế, số lượng các CSĐT và
3
quy mô đào tạo tăng nhanh chưa gắn với yêu cầu hoạt động chuyên môn nghề
nghiệp và nhu cầu nhân lực của ngành y tế. Hoạt động QLNN về đào tạo
NNLĐD cũng bộc lộ những vấn đề cần phải giải quyết như hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, bộ máy quản lý còn chồng chéo chưa có sự
phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan QLNN về GD&ĐT với cơ quan quản lý
ngành. Về hội nhập quốc tế, ngày 31/12/2015, Cộng đồng Kinh tế các nước
khu vực Đông Nam Á (ASEAN) đã chính thức thành lập, hình thành thị
trường lao động tự do lưu chuyển đối với những người đã qua đào tạo, trong
đó có điều dưỡng.
Từ những lý do nêu trên cho thấy, việc thực hiện đề tài “Quản lý nhà
nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay” để nghiên
cứu, rà soát, đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp phù hợp trong
hoạt động QLNN về đào tạo NNLĐD ở nước ta là một nhiệm vụ rất cần thiết
và cấp bách cả về lý luận và thực tiễn, là yêu cầu khách quan của công tác
chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là góp phần hoàn thiện QLNN
về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng
- Về thời gian: luận án tập trung nghiên cứu QLNN về đào tạo NNLĐD
trong giai đoạn từ khi có Luật Giáo dục sửa đổi (năm 2009) và Luật Khám
bệnh, chữa bệnh (2009) đến nay, trong quá trình phân tích, đánh giá, luận án
có sử dụng dữ liệu có trước năm 2009.
- Về không gian: nghiên cứu QLNN về đào tạo NNLĐD trong cả nước.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác-Lênin về phép biện chứng duy vật và lịch sử; tư tưởng Hồ Chí
5
Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về GD&ĐT và về y
tế để phân tích và luận giải QLNN về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam trong mối
quan hệ với bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, trong sự vận
động và phát triển của xã hội Việt Nam theo hướng hội nhập quốc tế.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Luận án sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp (desk-study).
Phương pháp này chủ yếu tập trung nghiên cứu, tham khảo, phân tích các văn
bản, tài liệu, công trình khoa học, các số liệu khoa học đã được công bố ở
trong và ngoài nước có liên quan đến luận án để hình thành cơ sở lý luận,
đánh giá thực trạng cũng như xu hướng đổi mới đào tạo và QLNN về đào tạo
NNLĐD trên thế giới và Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để đảm bảo tính khoa học, khách quan, trung thực trong đánh giá thực
trạng QLNN về đào tạo NNLĐD và tính khả thi của các giải pháp, nghiên cứu
sinh đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học sau đây:
+ Điều tra, khảo sát: thiết kế để xác định thực trạng đào tạo, nhu cầu
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết một số câu hỏi nghiên cứu chính như sau:
- Đào tạo NNLĐD và QLNN về đào tạo NNLĐD là gì? Có đặc điểm,
nội dung như thế nào?
- Những yếu tố nào có ảnh hưởng đến QLNN về đào tạo NNLĐD?
- Thực trạng đào tạo, sử dụng và nhu cầu NNLĐD hiện nay ở Việt Nam
như thế nào?
- Thực trạng QLNN về đào tạo NNLĐD ở Việt Nam như thế nào? Kết
quả, hạn chế và nguyên nhân? Cần được hoàn thiện theo hướng nào?
5.2. Giả thuyết khoa học
- Hoạt động điều dưỡng và ĐDV có vai trò không thể thiếu trong hệ
thống y tế, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng KB, CB, bảo
7
vệ và CSSK nhân dân. Để hoạt động chuyên môn của ĐDV đáp ứng được yêu
cầu, đào tạo NNLĐD có vai trò đặc biệt quan trọng và ý nghĩa quyết định.
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đào tạo
NNLĐD chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và còn nhiều bất cập.
- Tổ chức bộ máy QLNN chưa được kiện toàn, đội ngũ cán bộ quản lý
và đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Việc hỗ trợ và huy động các nguồn lực cho đào tạo NNLĐD còn hạn
chế; hoạt động thanh tra, kiểm tra và đánh giá, tổng kết về đào tạo NNLĐD
còn nhiều bất cập.
- Cần phải tăng cường QLNN về đào tạo NNLĐD để đáp ứng yêu cầu
nâng cao chất lượng CSSK nhân dân và hội nhập quốc tế.
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án “Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở
Việt Nam hiện nay” là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên đề
- Phần mở đầu
- Phần nội dung:
+ Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án
+ Chương 2. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân
lực điều dưỡng
+ Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực
điều dưỡng ở Việt Nam
+ Chương 4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về
đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam
- Kết luận
- Các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
9
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến
đề tài luận án
1.1.1. Nghiên cứu về nguồn nhân lực điều dưỡng
Các tác giả Lyn N. Henderson và Jim Tulloch, Australia (2008) trong
báo cáo Incentives for retaining and motivating health workers in Pacific and
Asian countries (Khuyến khích duy trì và thúc đẩy cán bộ y tế tại khu vực
châu Á và Thái Bình dương) [76, tr.18]. Nghiên cứu này nói lên rằng, để cho
chương trình ưu đãi nhân viên y tế được thành công thì cần phải có sự cam
do WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, Chuẩn “Năng lực điều dưỡng
chuyên nghiệp-Professional Nurse” của Hội đồng Điều dưỡng thế giới
(International Council of Nurses: ICN, 2003), Chuẩn năng lực cho điều dưỡng
của Australia và Philippines, Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt
Nam được xây dựng từ năm 2008 và được phê duyệt vào ngày 24/4/2012 theo
Quyết định số 1352/QĐ-BYT của Bộ Y tế [19] gồm 3 lĩnh vực năng lực và 25
tiêu chuẩn, 110 tiêu chí cần đạt được của người điều dưỡng để đủ năng lực
hành nghề, là cơ sở quan trọng để xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra trong
đào tạo điều dưỡng. Ba lĩnh vực năng lực là: năng lực thực hành chăm sóc;
năng lực quản lý và phát triển nghề nghiệp; năng lực hành nghề theo pháp luật
và đạo đức nghề nghiệp.
Bộ Y tế trong báo cáo tại Hội nghị đào tạo nhân lực Điều dưỡng Việt
Nam [17], Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác điều
dưỡng - hộ sinh, giai đoạn từ nay đến năm 2020 [16, tr. 106-119], Niên giám
thống kê y tế 2013 [20, tr.54-55], Joint Annual Health Review 2015 (Báo cáo
tổng quan ngành y tế 2015) [77, tr. 38-49], Báo cáo tổng hợp số liệu nguồn nhân
11
lực lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh năm 2015 [26, tr.7], đã có những đánh giá về
thực trạng NNLĐD, quản lý và sử dụng NNLĐD. Theo các báo cáo này,
NNLĐD của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất
lượng trong những năm gần đây thông qua nhiều hình thức như đào tạo ở
nước ngoài, đào tạo liên kết, liên thông, theo địa chỉ sử dụng, cử tuyển và đào
tạo liên tục. Các báo cáo của Bộ Y tế đã chỉ ra rằng, số lượng ĐDV được đào
tạo tăng nhanh qua các năm nhưng có sự mất cân đối về trình độ đào tạo dẫn
đến sự dư thừa ở trình độ trung cấp; mất cân đối nhân lực điều dưỡng giữa các
vùng miền, lĩnh vực chuyên môn, chưa rõ ràng về phạm vi hoạt động chuyên
môn theo từng lĩnh vực chuyên ngành của chăm sóc điều dưỡng.
Báo cáo của Barzansky, B. và Abraham Flexner (2010) The Future of
Nursing Education: Ten Trends to Watch (Tương lai của giáo dục điều
dưỡng: Mười xu hướng để hướng tới) [67] đã đề cập tới những yếu tố cần
phải đổi mới trong đào tạo ĐDV. Trong báo cáo, tác giả nhấn mạnh đến việc
đào tạo điều dưỡng phải gắn liền với sự phát triển của hệ thống y tế. Tác giả
đã đề cập tới việc hầu hết các ĐDV đã không được cập nhật với những thay
đổi về công nghệ và những phát hiện mới của y học do các chương trình đào
tạo (CTĐT) của các trường chưa kịp thay đổi. Các nội dung thiếu hụt được đề
cập tới bao gồm: thiếu hụt các kiến thức cơ bản để đảm bảo cho người học có
thể nắm bắt và cập nhật các nguyên lý khoa học, phương pháp giảng dạy
thuyết trình quá nhiều; quá ít thực tập lâm sàng; các kiến thức được học
không được kiểm chứng trong điều kiện thực tiễn nghề nghiệp và một số nội
dung khác.
Theo tài liệu Nursing Midwifery services-Strategic Directions 20112015 (Định hướng chiến lược dịch vụ điều dưỡng-hộ sinh giai đoạn 20112015) của WHO (2011) [94], mục tiêu đào tạo điều dưỡng ở khu vực Đông
Nam Á và thế giới là đào tạo ra những điều dưỡng chuyên nghiệp có khả năng
thực hành nghề nghiệp dựa trên bằng chứng, có khả năng áp dụng chăm sóc
13
điều dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu sức khỏe của người dân, có khả năng làm
việc trong đội đa ngành và có khả năng học tập suốt đời.
Các tác giả Julio Frenk, Lincoln Chen và cộng sự (2011) trong nghiên
cứu Health professionals for a new century: transforming education to
strengthen health systems in an interdependent world (Cải cách chuyên môn y
tế của thế kỷ mới: Cải cách giáo dục nhằm tăng cường hệ thống y tế trong
một thế giới tương tác hỗ trợ) [74, tr.1926-1927], ngoài việc đánh giá về thực
trạng và nhu cầu về số lượng NNLĐD Việt Nam, tác giả đã nhấn mạnh đến
việc xu hướng đổi mới giáo dục NLYT nói chung và NNLĐD nói riêng cần
được tiếp cận dựa trên nguyên tắc hệ thống, đào tạo dựa trên năng lực, đáp
người trả lời cũng có nhu cầu cần bổ sung vào CTĐT của các CSĐT thêm kỹ
năng sư phạm, kỹ năng quản lý, kỹ năng nghiên cứu điều dưỡng và kỹ năng ra
quyết định.
Tác giả Nguyễn Minh Lợi (2003) trong Luận văn Thạc sỹ Quản lý
Hành chính công Nâng cao quản lý chương trình, nội dung đào tạo cán bộ y
tế từ thực tế Trường Đại học Y Hà Nội [36, tr.91-92] đã nêu khái quát về thực
trạng quản lý chương trình, nội dung đào tạo cán bộ y tế trình độ đại học
trong đó có đào tạo NNLĐD. Tác giả đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc
đổi mới và hoàn thiện cấu trúc chương trình, tổ chức biên soạn sách giáo
khoa, giáo trình, đổi mới phương pháp dạy-học, phương pháp đánh giá, trong
đào tạo để đảm bảo chất lượng đào tạo NNLYT.
Bài báo Đào tạo điều dưỡng ở các nước Đông Nam Á (2006) [47, tr.5056] của tác giả Nguyễn Văn Thanh, báo cáo Đào tạo điều dưỡng ở một số
nước trên thế giới (2008)[17] của tác giả Đỗ Đình Xuân tại Hội nghị đào tạo
nguồn nhân lực điều dưỡng Việt Nam và tài liệu Các vấn đề nhân lực y tế
hiện nay: Thực trạng và những bất cập (2008) [62] của Vụ Khoa học và Đào
tạo, Bộ Y tế cho thấy, mạng lưới CSĐT ở các nước trên thế giới đều gắn với
quy mô dân số và năng lực đào tạo của từng trường. Theo báo cáo trên, năm
2005 Philippine có 192 trường điều dưỡng, Thái Lan có 63 trường điều dưỡng
15
trong đó có 7 khoa điều dưỡng thuộc đại học tổng hợp và hầu hết là đào tạo
trình độ đại học.
Theo tài liệu của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản (2017)
về Cơ chế kỳ thi quốc gia về điều dưỡng và cấp bằng tại Nhật Bản [32], đến
năm 2016, Nhật Bản đã có 256 trường điều dưỡng đào tạo trình độ đại học và
571 trường đào tạo trình độ cao đẳng được phân bố tương đối đồng đều ở các
khu vực với quy mô đào tạo hàng năm tương đối ổn định chỉ từ 50-100 sinh
viên. Để được cấp bằng điều dưỡng, sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông
trong nghiên cứu Vấn đề đào tạo điều dưỡng tại 7 tỉnh - Làm thế nào để nâng
cao chất lượng [50, tr.99-102], kết quả cho thấy nhận định của lãnh đạo các
bệnh viện thực hành về kiến thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp của
ĐDV đạt mức độ tốt chiếm tỷ lệ không cao, lần lượt là 34%, 57% và 48%. Về
nhận xét của giáo viên đối với CTĐT cử nhân điều dưỡng của nhà trường: nội
dung lý thuyết có 68,3% cho là phù hợp, 30,2% cho là không phù hợp. Nội
dung đào tạo thực hành tại phòng thực tập của trường thì 78,3% cho là phù
hợp, 19,6% đánh giá là không phù hợp. Nội dung thực hành tại bệnh viện thì
có 59,3% cho là phù hợp, 40% là không phù hợp. Đối với thời gian học lý
thuyết thì có 59,9% giảng viên cho rằng giữ nguyên, 31,4% cho là cần phải
giảm, đối với thời gian học thực hành thì 61% giảng viên cho rằng cần phải
tăng thực hành tại bệnh viện và 63,5% cho rằng cần phải tăng thực hành tại
phòng thực tập của nhà trường. Về vấn đề giảng dạy, kỹ năng giao tiếp cũng
được đề cập tới và kết quả cho thấy 74,3% giảng viên cho là cần tăng thời
lượng học tập cho môn học này.
Luận án tiến sỹ Nghiên cứu về thái độ đối với nghề nghiệp của học
sinh, sinh viên điều dưỡng, đề xuất các giải pháp can thiệp, tác giả Phí Thị
Nguyệt Thanh (2010) [49, tr.141] đã đưa ra kết quả chỉ có 50,7% sinh viên
đại học và 77,4% học sinh trung cấp có thái độ thỏa mãn với nghề nghiệp và
sự thỏa mãn với nghề nghiệp ở học sinh, sinh viên những năm sau thấp hơn
những năm đầu. Tác giả cũng đã đưa ra nguyên nhân ảnh hưởng và một số
giải pháp đó là cần thay đổi về CTĐT, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng
17
viên, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và đặc biệt là cần tăng cường vị thế của
người điều dưỡng trong hệ thống y tế.
Tài liệu Hội nghị tăng cường chất lượng đào tạo nhân lực y tế, Bộ Y tế
(2008) [14] và Tài liệu Hội nghị đào tạo nhân lực Điều dưỡng Việt Nam, Bộ Y
năng thực hành các kỹ năng điều dưỡng của mình, trong đó có nhiều kỹ năng
cơ bản, là chưa làm được hoặc làm kém. Có 58/60 kỹ năng tồn tại một tỷ lệ
nhất định sinh viên không được thực hành lần nào tại bệnh viện.
Nguyễn Minh Lợi (2016) trong bài báo Thực trạng đào tạo nguồn nhân
lực điều dưỡng ở Việt Nam [38, tr.7-10] đã cho thấy những thành công trong
đào tạo NNLĐD của Việt Nam như sự phát triển mạnh mẽ về đào tạo
NNLĐD trong những năm gần đây cả về số lượng các CSĐT và quy mô đào
tạo, các chế độ, chính sách liên quan được xây dựng và ban hành. Tuy nhiên,
tác giả cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa mô hình đào tạo với hoạt động
nghề nghiệp và sử dụng nhân lực, mất cân đối về CSĐT và quy mô đào tạo ở
các trình độ, các điều kiện đảm bảo chất lượng còn bất cập.
1.1.3. Nghiên cứu quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều
dưỡng
Giáo trình Quản lý nhà nước về xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia
(2012) [33, tr. 59-62] đã giới thiệu hệ thống lý thuyết về quản lý công của
nhiều học viện hành chính trên thế giới mà tiêu biểu là hệ thống lý thuyết của
Max Weber (1864 - 1920) - nhà xã hội học người Đức, cha đẻ của mô hình
hành chính thư lại đã đưa ra ba loại hình thẩm quyền: thẩm quyền truyền
thống, thẩm quyền uy tín và thẩm quyền pháp lý - duy lý. Trong đó, thẩm
quyền pháp lý - duy lý là dựa trên trật tự pháp lý không bị quan hệ tình cảm
chi phối, dựa trên các quy định do quần chúng nhân dân xây dựng nên một
cách lý tính.
Tác giả R. Wayne Mondy trong cuốn sách Human Resource
Management (Quản lý nguồn nhân lực) được tái bản lần thứ 12 đề cập đến
việc quản lý NNL như thế nào để đạt được mục tiêu của một tổ chức. Tác giả
đã tiếp cận ở góc độ nhà quản lý ở mọi cấp độ cần biết cách quản lý nhân lực