TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
HOÀNG THỊ HUYỀN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN SINH
HOẠT TẠI HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÙ HỢP
HÀ NỘI, 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
HOÀNG THỊ HUYỀN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN SINH
HOẠT TẠI HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÙ HỢP
Ngành: Quản lý môi trường
Mã ngành: 52 85 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN KHẮC THÀNH
HÀ NỘI, 2017
Chất thải rắn sinh hoạt
RTSH
Rác thải sinh hoạt
UBND
Ủy ban nhân dân
KHKT
Khoa học kỹ thuật
HTX
Hợp tác xã
CCN/KCN
Cụm công nghiệp/Khu công nghiệp
MỞ ĐẦU
Chất thải rắn sinh hoạt hiện nay đang là một vấn đề nhức nhối đối với các nhà quản
lý, lượng rác thải phát sinh ngày càng gia tăng, để thu gom và xử lý được toàn bộ
lượng rác phát sinh là vấn đề khó đặt ra cho ban quản lý các cấp. Việt Nam là một
nước có tốc độ phát triển kinh tế cao. Quá trình công nghiệp hóa hiện đang diễn ra rất
khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có nhiều tiến triển tích cực. Tuy nhiên cùng với sự phát
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.
Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt
1.1.1. Một số khái niệm
-
Theo khoản 12 điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Chất thải là vật chất
được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.”
-
Theo điều 3 của Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015:
• Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
• Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh
trong sinh hoạt thường ngày của con người.
-
Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm
thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
-
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi
xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung
chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển.
tủ…), đồ điện tử hư hỏng (tivi, máy giặt, tủ lạnh…), dầu nhớt
xe,…
Cơ quan, công sở
Giấy carton, nhựa, túi nilon,, thực phẩm thừa, thủy tinh, kim
loại, chất thải nguy hại
Công trình xây Xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ, bê tông, gỗ, ống nhựa,
dựng
…
Dịch vụ công Giấy, nilon, vỏ bao bì, thực phẩm thừa, lá cây, cành cây, bùn
cộng đô thị
cống rãnh.
Khu công nghiệp
Chất thải do quá trình sản xuất công nghiệp, phế liệu.
Nông nghiệp
Lá cây, cành cây, xác gia súc, thức ăn gia súc thừa hay hư
hỏng, rơm rạ, chất thải nguy hại như thuốc sát trùng, phân
bón, thuốc trừ sâu được thải ra cùng với bao bì đựng hóa chất
đó,…
Nhà máy xử lý Bùn
chất thải và từ
các đường ống
thoát nước
-
Theo thành phần hóa học và vật lý: phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô
cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, giẻ vụn, cao su,
chất dẻo.
-
Theo đặc điểm của nơi phát sinh ra chất thải
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến hoạt động sống của con
người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung
tâm dịch vụ, thương mại. Gồm:
• Chất thải thực phẩm: các phần thừa thãi, không ăn được sinh ra trong
khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn…
• Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu
vực sinh hoạt của dân cư.
• Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: vật chất còn lại trong quá
trình đốt củi, than, rơm rạ, lá cây… ở các gia đình, công sở, nhà hàng,
nhà máy, xí nghiệp.
• Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cấy, que, củi,
nilon, vỏ bao gói.
• Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và
phân của các động vật khác.
Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công
Khoảng
giá trị
(KGT)
Trung
bình (TB)
KGT
TB
KGT
TB
Chất thải
thực
phẩm
6 – 25
15
50 - 80
70
128 – 80
228
2–8
3
1–4
2
32 – 128
64
Vải vụn
0–4
2
6 – 15
10
32 – 96
64
Cao su
0–2
12
30 – 80
60
84 – 224
104
Gỗ
1–4
2
15- 40
20
128 – 20
240
Thủy tinh
4 – 16
8
2–4
2
64 – 240
160
Kim loại
thép
1–4
2
2–6
3
128 –
1120
320
Bụi, tro,
gạch
0 – 10
4
thương mại… Các loại chất thải như kim loại, sành sứ, đất, gạch ngói vỡ, đá, cao su,
nhựa, thực phẩm dư thừa hoặc hết hạn sử dụng, xương động vật, lông gà vịt, rơm rạ,
xác động vật, vỏ rau quả… đổ trực tiếp xuống sông hồ không những gây ô nhiễm trên
bề mặt mà còn ô nhiễm cả mạch nước ngầm; làm tắc nghẽn đường nước lưu thông,
giảm diện tích tiếp xúc của nước đối với không khí dẫn tới giảm DO trong nước.
Trong điều kiện thời tiết nắng nóng thì rác thải hữu cơ sẽ phân hủy và tạo ra những
mùi rất khó chịu gây ô nhiễm môi trường, gây phú dưỡng nguồn nước làm thủy sinh
vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái. Còn khi trời mưa thì rác thải sẽ theo dòng chảy
chảy đi gây ô nhiễm bề mặt nước, các chất thải vô cơ không phân hủy được có thể gây
tắc nghẽn dòng chảy. Thông thường, rác thải sẽ mang các loại vi sinh vật, chất hữu cơ,
kim loại nặng đưa vào môi trường gây ô nhiễm môi trường. Các chất này sẽ ngấm
nước sinh hoạt hoặc nước canh tác, từ đó sẽ tích lũy dần và gây nhiều bệnh nguy hiểm
cho con người và động vật.
b) Ô nhiễm môi trường đất
Các chất thải rắn có thể được tích lũy trong hoặc trên đất một thời gian dài gây ra
nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường. Chất thải xây dựng như gạch ngói, thủy tinh, ống
nhựa, dây cáp, bê tông… trong đất rất khó bị phân hủy. Nước rò rỉ từ các bãi CTR mang
nhiều chất ô nhiễm và độc hại khi không được kiểm soát xâm nhập vào đất gây hại cho
hệ sinh vật trong đất và cản trở sự tuần hoàn vật chất trong đất gây ô nhiễm đất. Thành
phần các kim loại nặng, vi khuẩn, plastic trong nước rác gây độc cho cây trồng và động
vật đất. Ngoài ra, CTR vứt bừa bãi ra đất hoặc chôn lấp vào đất chứa các chất hữu cơ
khó phân hủy còn làm thay đổi pH của đất.
c) Ô nhiễm môi trường không khí
Bụi phát thải vào không khí trong quá trình lưu trữ, vận chuyển CTR gây ô nhiễm
không khí. CTR có thành phần sinh học dễ phân hủy cùng với điều kiện khí hậu có
nhiệt độ và độ ẩm cao nên sau một thời gian ngắn chúng bị phân hủy hiếu khí và kỵ
khí sinh ra các chất độc hại và có mùi hôi khó chịu như CO 2, H2S, CO, CH4,… ngay từ
khâu thu gom đến bãi chôn lấp. Khí CH 4 có thể gây cháy nổ nên CTR cũng là nguồn
ruồi, muỗi… và nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, một số bệnh
điển hình do các trung gian truyền bệnh như: chuột truyền bệnh dịch hạch, bệnh sốt
vàng da do xoắn trùng; ruồi, gián truyền bệnh đường tiêu hóa; muỗi truyền bệnh sốt
rét, sốt xuất huyết,…
1.1.4. Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam
a) Phương pháp xử lý nhiệt – Thiêu đốt rác
Đốt là phương pháp xử lý rác phổ biến nhất ngày nay được nhiều quốc gia trên thế
giới áp dụng. Đây là quá trình oxi hóa chất thải rắn ở nhiệt độ cao tạo thành CO 2 và
hơi nước theo phản ứng:
CxHyOz + (x+y/4+z/2) O2⇒ xCO2 + y/2 H2O
11
Ưu điểm: xử lý triệt để rác thải, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và các chất ô
nhiễm; diện tích xây dựng nhỏ, vận hành đơn giản, có thể xử lý chất thải rắn có chu kỳ
phân hủy lâu dài (nilon, nhựa, cao su,…).
Nhược điểm: sinh ra khói bụi và một số khí ô nhiễm khác như SO 2, HCl, CO, NOx,
… do vậy khi thiết kế xây dựng lò đốt phải xây dựng cả hệ thống xử lý khí thải của lò
đốt.
Việc sử dụng các lò thiêu đốt hiện nay không dừng lại ở mục đích giảm thể tích ban
đầu của rác, mà còn thu hồi nhiệt để phục vụ các nhu cầu như tận dụng cho lò hơi, cấp
điện,… Ở Việt Nam công nghệ thiêu đốt thích hợp cho việc xử lý chất thải bệnh viện,
chất thải nguy hại, các loại chất thải có thời gian phân hủy dài.
b) Phương pháp xử lý sinh học
Phương pháp xử lý hiếu khí tạo thành phân bón (composting)
Quá trình ủ rác hiếu khí diễn ra theo phản ứng sau:
Chất hữu cơ (vi khuẩn hiếu khí)⇒ chất mùn + CO2 + H2O + NH3 + SO2
thải rắn nguy hại nhằm 2 mục đích: giảm rò rỉ các chất độc hại bằng cách giảm bề mặt
tiếp xúc, hạn chế mức cao sự thẩm thấu của chất thải vào môi trường và cải thiện kích
thước chất thải về độ né và độ cứng.
Ổn định chất thải là công nghệ trộn vật liệu thải với vật liệu đóng rắn, tạo thành thể
rắn bao lấy chất thải hoặc chất thải trong cấu trúc của vật rắn. Phương pháp này
thường dùng để xử lý chất thải rắn của kim loại, mạ kim loại, chì, tro của lò đốt … tạo
thành khối rắn để vận chuyển và chôn lấp trong bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh.
Chôn lấp rác
Bãi chôn lấp thông thường (open dump): đây là phương pháp cổ điển được loài
người áp dụng từ lâu đời. Hiện nay, ở Việt Nam và một số nước khác vẫn còn đang áp
dụng bởi đây là phương pháp rẻ tiền nhất, chỉ tốn chi phí cho việc thu gom và vận
chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác. Tuy nhiên nó có nhiều nhược điểm: Gây ô
nhiễm môi trường, gây mùi khó chịu, ảnh hưởng đến cảnh quan; là môi trường thuận
lợi cho các loại động vật gặm nhấm, côn trùng, vi khuẩn gây bệnh phát triển gây hại
cho sức khỏe con người,; bãi thải chiếm diện tích lớn.
Bãi chôn lấp hợp vệ sinh (sanitary landfill): phương pháp này được nhiều nước trên
thế giới áp dụng trong quá trình xử lý chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt ở
đô thị (ở Anh, Pháp, Mĩ,…). Đây là phương pháp xử lý chất thải rắn thích hợp trong
điều kiện khó khăn về vốn đầu tư nhưng lại có mặt bằng đủ lớn và nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường ít. Trong bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, bên dưới thành đáy được phủ
lớp chống thấm có lắp đặt hệ thống thu nước rỉ rác và hệ thống thu khí thải từ bão rác.
13
Nước rỉ rác sẽ được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn quy định. Bãi chôn lấp hoạt động
bằng cách: mỗi ngày trải một lớp rác mỏng, sau đó nén ép chúng lại bằng các loại xe
cơ giới, rồi tiếp tục trải một lớp đất mỏng khoảng 20cm. Công việc cứ tiếp tục đến khi
-
-
Tại Đức: ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới hiện nay. Việc phân loại
rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991. Rác bao bì gồm hộp đựng thức
ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay carton được gom vào thùng màu
vàng. Bên cạnh thùng vàng, còn có thùng xanh dương cho giấy, thùng xanh lá cây cho
rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh.
Công nghệ phổ biến nhất của Đức là xử lý rác đi đôi với thu hồi khí sinh hoạc và phân
bón hữu cơ vi sinh. Rác thải ở các gia đình đã được phân loại, còn ở những công cộng
phân loại chưa triệt để, thì được tiếp nhận và tiến hành phân loại tiếp. Rác hữu cơ được
đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các thùng chịu áp lực cùng với thiết bị thu hồi
sinh học sinh ra trong quá trình lên men phân giải hữu cơ.
Tại Nhật: chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên liệu xử
lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình 3R.
14
Về thu gom CTRSH ở Nhật, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3
loại: rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác có thể tái chế.
Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày được đưa đến nhà máy sản xuất phân compost,
loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà
máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa vào các nhà máy tái
chế… với các loại rác cồng kềnh như ti vi, tủ lạnh, máy giặt,… thì quy định vào ngày
15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi, không được tùy tiện bỏ những
thứ đó ở hè phố. Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ sinh đưa loại rác
cháy được vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng cho máy phát điện. Rác không
cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất.
-
dụng chủ yếu để xử lý rác thải của các nước này vẫn không thay đổi.
15
Việt Nam đa số vẫn là các bãi rác lộ thên và chôn lấp (chiếm 96%) còn 4% là áp
dụng công nghệ chế biến phân compost. Qua đó cho thấy nước ta vẫn chưa áp dụng
được các công nghệ tiên tiến để xử lý rác thải tạo thêm nguồn năng lượng phục vụ nhu
cầu của con người.
Các nước như: Ấn Độ, Philipin, Thái Lan, Indonexia thì tiên tiến hơn, lượng rác thải
được sử dụng để chế biến phân compost chiếm tỷ lệ cao hơn dao động từ 10 – 20%.
1.2.2. Quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam
a) Quản lý rác thải ở Việt Nam
Quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… đang là thách thức lớn đối với các nhà quản
lý. Tốc độ gia tăng rác thải không chỉ vì dân số đô thị tăng, sản xuất, dịch vụ tăng, mà
còn vì mức sống của người dân đang ngày một tăng lên.
Theo nguồn trích dẫn từ báo cáo hiện trạng môi trường năm 2014 thì tỷ lệ thu gom
chất thải sinh hoạt trung bình toàn quốc đạt 71%, ở các khu vực đô thị nhỏ hơn 20%,
các khu vực nông thôn tỷ lệ thu gom dao động từ 10 – 20%. Lượng CTR công nghiệp
được thu gom đạt 85 – 90% và chất thải nguy hại mới chỉ đạt khoảng 60 – 70%.
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinh phí
bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia.
Tính chất xã hội hóa hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ động
tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh
phí cho dịch vụ thu gom rác thải.
Hiện nay, trên địa bàn của các đô thị nhỏ vẫn chưa có hệ thống thu gom, vận
chuyển chất thải rắn một cách có hệ thống xuyên suốt toàn tỉnh. Mà tùy theo yêu cầu
bức xúc của các quận, huyện và mỗi địa phương mà hình thành một xí nghiệp công
thành phân bón vi sinh vật và chất mùn hợp vệ sinh. Các cơ sở tái chế rác thải có quy
mô nhỏ, công nghệ còn lạc hậu, chủ yếu do các lao động nghèo làm nghề thu mua phế
liệu, và một số người đi bới rác tự do bán cho các cơ sở tái chế nhỏ, và một số làng
nghề đúc, tái chế nhựa… tỷ lệ này ước tính chỉ đạt 13 – 15%, tuy nhiên, một số làng
nghề tái chế hiện nay đang gặp nhiều vấn đề môi trường bức xúc như: Chỉ Đạo (Hưng
Yên}, Minh Khai (Hưng Yên), làng nghề sản xuất giấy Dương Ô (Bắc Ninh)… Ở Hà
Nội đã thu hồi tái chế và sử dụng được hơn 15% lượng chất thải rắn phát sinh. Tuy
nhiên, việc tiếp xúc trực tiếp với chất thải tại các bão chôn lấp gây nguy hiểm tới sức
khỏe con người, dễ mắc một số bệnh như: uốn ván, nhiếm trùng và các loại dịch bệnh.
1.3.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thuận Thành
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
- Về vị trí địa lý:Thuận Thành là huyện thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tọa độ địa
lý nằm trong khoảng 105o32’10” - 105o55’10’’ kinh độ Đông; 20o54’00’’ 21o07’10’’ vĩ độ Bắc.
17
Hình 1.1: Sơ đồ vị trí huyện Thuận Thành
-
Phía Bắc giáp huyện Tiên Du và Quế Võ tỉnh Bắc Ninh;
-
Phía Nam giáp huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương;
-
+ Diện tích đất chuyên dùng là 1889.1 ha, chiếm 16.03%;
+ Diện tích đất ở là 1424.1 ha, chiếm 12.09 %;
Hình 1.2. Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Thuận Thành năm 2016
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất 61.05%, phần lớn người
dân tại đây làm nghề nông, trồng lúa và hoa màu, vì vậy chủ yếu diện tích đất sử dụng
là dành cho nông nghiệp, còn lại là đất chuyên dùng (16.03%) và đất ở (12.09%)
chiếm tỷ lệ thấp hơn.
c) Đặc điểm khí tượng, khí hậu
Chế độ nhiệt
Nhìn chung vùng nghiên cứu có nhiệt độ khá cao, nhiệt độ trung bình năm là 23,9 0C.
Tháng có nhiệt độ trung bình lớn nhất thường rơi vào tháng VI và tháng VII, nhiệt độ trung
bình hai tháng này dao động trong khoảng 290C. Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là
tháng I, nhiệt độ trung bình tháng này chỉ từ 140C - 180C.
Nắng
Số giờ nắng trung bình tỉnh Bắc Ninh khoảng từ 1.200 đến 1.600 giờ mỗi năm. Tháng
nhiều nắng nhất là tháng VII đến tháng VIII, trung bình số giờ nắng mỗi tháng khoảng 170
giờ. Tháng ít nắng nhất từ tháng I đến tháng III, trung bình chỉ từ 30 đến 50 giờ mỗi tháng.
Gió
Hướng gió thịnh hành trong tỉnh vào mùa hè là gió Nam và Đông Nam, vào mùa
đông hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc. Tốc độ gió trung bình vào khoảng
1,5 – 2,5 m/s.
Độ ẩm
19
b) Các ngành kinh tế chủ yếu:
Tổng sản phẩm địa phương (GRDP - giá so sánh 2010) đạt 4.049,081 tỷ đồng, tốc
độ tăng trưởng đạt 9,3%. Trong đó tăng trưởng: khu vực nông, lâm, thủy sản đạt 0,8%;
khu vực công nghiệp - xây dựng 11,6%; khu vực dịch vụ 9,8%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ
tăng, chiếm 85,5%, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp còn 14,5% (năm 2015 khu
vực công nghiệp, dịch vụ 79,3 %, nông nghiệp chiếm 20,7%). Cụ thể, cơ cấu kinh tế
năm 2016 là: Nông, lâm, thủy sản 14,5%; công nghiệp, xây dựng 52,2%; dịch vụ
33,3%.
20
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đã làm cho cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng
tăng lao động công nghiệp, dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp. Đây là sự chuyển
dịch cơ cấu đúng hướng, tạo tiền đề cho phát triển đô thị, xây dựng Thuận Thành trở
thành thị xã.
Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định đã làm tăng thu nhập, cải
thiện và nâng cao mức sống của người dân. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 37
triệu đồng, tăng 3,4 triệu đồng so với năm 2015, vượt kế hoạch đề ra.
Trong sản xuất nông nghiệp: Tổng diện tích gieo trồng 13266ha, diện tích lúa là
11346ha, năng xuất bình quân đạt 60.7 tạ/ha; Sản lượng lương thực có hạt đạt 72598
tấn. Giá trị sản xuất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản ước đạt 90 triệu đồng/ha. Giá trị
sản xuất (giá so sánh 2010) Nông, lâm, thủy sản ước đạt 1.204.842 triệu đồng, đạt
100,9% so với năm 2015. Trong đó: Trồng trọt, lâm nghiệp đạt: 468.790 triệu đồng,
chiếm 38,9%; chăn nuôi, thủy sản đạt 675.550 triệu đồng, chiếm 56,1%; dịch vụ nông
nghiệp đạt 60.502 triệu đồng, chiếm 5,0% giá trị nông nghiệp.
Công nghiệp, dịch vụ tiếp tục phát triển. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp đạt 6.132,820 tỉ đồng, tăng 11,7% so với 2015.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2016 đạt 2.267 tỷ đồng,
tăng 12,4% so với 2015.
Cả
năm
Vụ
đông
xuân
Vụ
mùa
Cả
năm
Vụ
đông
xuân
Vụ
mùa
11,9
5,8
6,0
59,8
65,6
31,7
2012
11,5
5,7
5,8
62,7
70,2
55,3
72,1
39,9
32,3
2013
11,3
5,7
5,6
28,2
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014tỉnh Bắc Ninh)
Ngoài ra huyện còn gieo trồng được khoảng 2.000 ha cây màu các loại, trong
đó ngô 970 ha, khoai 50 ha.
Chăn nuôi
Đàn trâu, bò có xu hướng giảm từ năm 2012 đến nay: đàn trâu năm 2011 có 220
con đến năm 2014 còn 190 con; đàn bò có 2.910 con năm 2010 xuống còn 1.780 con
năm 2014.
Đàn lợn có số lượng giảm qua các năm 2010-2014, ở mức từ 106,89 nghìn con
năm 2012 giảm còn 83,51 nghìn con năm 2015.
Số lượng gia cầm cũng có sự biến động giảm từ 622 nghìn con năm 2010, giảm
còn 559,9 nghìn con năm 2014.
Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản của huyện ổn định là 545 ha. Sản lượng tăng hàng
năm, năm 2011 đạt 2.732 nghìn tấn, năm 2013 đạt 3.032 nghìn tấn, năm 2014 đạt
3.056 nghìn tấn; giá trị sản xuất thuỷ sản tăng bình quân 8%/năm, trong đó nuôi tập
trung đạt 375 ha.
Bảng 1.10: Diện tích, sản lượng thủy sản huyện Thuận Thành
Năm
2010
2011
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014 tỉnh Bắc Ninh)
Ngành công nghiệp
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từng bước phát triển, giá trị sản
xuất CN-TTCN năm 2013 đạt hoảng 1.595 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), năm
2014 đạt 2.559 tỷ đồng, năm 2015 đạt 2.668 tỷ đồng. Năm 2015 toàn huyện có 278
22
doanh nghiệp độc lập đang hoạt động với 11.120 lao động. Sản phẩm công nghiệp chủ
yếu là may mặc, đồ điện tử, điện dân dụng...
Hiện nay, trên địa bàn huyện đã và đang hình thành các CCN/KCN tập trung:
KCN Thuận Thành I,II, CCN Thanh Khương, CCN Xuân Lâm, CCN Hà Mãn – Trí
Quả. Ngoài ra trên địa bàn còn có các làng nghề truyền thống như: tranh Đông Hồ, đúc
đồng Đào Viên, gốm Luy Lâu, dệt may Hoài Thượng, đậu phụ Trà Lâm và Nghi Khúc.
Ngành thương mại, dịch vụ
Trong những năm gần đây, cùng với việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu các
ngành kinh tế từ kinh tế nông nghiệp nông thôn sang dần các ngành công nghiệp, du
lịch, dịch vụ, huyện Thuận Thành đang đẩy mạnh phát triền dịch vụ, đã và đang từng
bước đạt được những tiến bộ nhất định. Các lĩnh vực bán lẻ hàng hóa của huyện như:
lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị, vật liệu xây
dựng … Trong năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ theo giá
hiện hành trên địa bàn huyện đạt 1.586 tỷ đồng, mức độ tăng trưởng trung bình
11,9%/năm.
c)
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Điện công nghiệp đã được kéo đến tận chân công trình, nhà máy xí nghiệp rất
thuận tiện cho các phát triển các khu công nghiệp.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.1.1.Đối tượng nghiên cứu:
- Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Thuận Thành.
- Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Thuận
-
Thành
Đề xuất giải pháp quản lý phù hợp.
1.1.2.Phạm vi nghiên cứu:
Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.: 4 thị trấn/xã được lựa chọn nghiên cứu là thị
trấn Hồ, xã Xuân Lâm, xã Trí Quả, xã Đình Tổ.
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1.Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp.
Dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các tài liệu trước đó, có thể lấy từ các bài nghiên
cứu, bài báo, chương trình truyền hình, điều tra thống kê...
Ưu điểm:
Tiết kiệm thời gian và tiền bạc, công sức so với việc thu thập dữ liệu sơ cấp.
Có thể cung cấp cac dữ liệu so sánh và dữ liệu theo bối cảnh.
Có thể dẫn đến những khám phá bất ngờ
Tính đều đặn của dữ liệu
Nhược điểm:
Được thu thập cho một mục đích không phù hợp với đúng nhu cầu của bạn
Tiếp cận khó
Những tổng hợp và các định nghĩa có thể không phù hợp
- Mỗi ngày gia đình ông (bà) thải ra khoảng
- Khối lượng,
- Rác thải sinh hoạt của gia đình ông (bà)
thành phần
rác thải
Hiện trạng
công tác quản
lý:
- Tần suất thu
gom
- Phương
pháp xử lý
Ghi chú
-
bao nhiêu kg rác?
gồm những gì? Rác nào thải ra là chủ yếu?
- Theo ông (bà) vị trí thu gom rác thải đã hợp
lý chưa?
- Tần suất thu gom rác thải sinh hoạt tại nơi ở