Nghiên cứu sinh trưởng cây hồi (illicium verum hook) giai đoạn 3 5 tuổi tại huyện bình gia tỉnh lạng sơn - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------

NÔNG VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU SINH TRƢỞNG CÂY HỒI (Illicium verum Hook) GIAI
ĐOẠN TỪ 3-5 TUỔI TẠI HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên nghành: Quản lý tài nguyên rừng
Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2012 - 2016

THÁI NGUYÊN, 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------

NÔNG VĂN TUẤN

tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày 5 tháng 6 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA GVCN

NGƢỜI VIẾT CAM ĐOAN

Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!

TS. Nguyễn Thanh Tiến

Nông Văn Tuấn

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHÂN BIỆN
Giáo viên chấm phân biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng yêu cầu !
(Ký, họ và tên)


ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, ngoài
sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá
nhân trong và ngoài trường. Sau thời gian nghiên cứu và thực tập tốt
nghiệp,đến nay tôi đã hoànthành đề tài tốt nghiệp cua mình.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo
trong Khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô trong trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập tại trường.

Bảng 4.6. Bảng tổng hợp các phương trình tương quan Dt và D1.3 tuổi 5 .... 40
Bảng 4.7. Các chỉ số điều tra lâm phần Hồi tuổi 3 ......................................... 41
Bảng 4.8. Các chỉ số điều tra lâm phần Hồi tuổi 5 ......................................... 42
Bảng 4.9 so sánh sinh trưởng lâm phần rừng Hồi tuổi 3&5 ........................... 43
Bảng 4.10. Các thông tin trong ô tiêu chuẩn................................................... 44


iv

DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Một số biểu đồ mô phỏng phân bố N/D rừng Hồi tuổi 3 ................ 34
Hình 4.2. Một số biểu đồ phân bố N/D rừng Hồi tuổi 5 ................................. 36


v

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

D1.3
TT
Ha
Hvn
N
Dt

Đường kính ngang ngực
Thứ tự
Hecta
Chiều cao vút ngọn

Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu .................................................................................... 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 4
2.1.1. Phân loại khoa học cây Hồi..................................................................... 4
2.1.2. Đặc điểm hình thái .................................................................................. 4
2.1.3. Đặc điểm sinh thái ................................................................................... 6
2.1.4. Phân bố địa lý .......................................................................................... 8
2.1.5. Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn ........................................................ 8
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ............................................................. 9
2.2.1. Nghiên cứu mô hình sinh trưởng ............................................................ 9
2.2.2. Về sinh trưởng ....................................................................................... 12
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam ................................................................ 16
2.3.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng ................................................................. 16
2.3.2. Những nghiên cứu về sinh trưởng......................................................... 17
2.3.3. Về lập địa và kỹ thuật trồng .................................................................. 19
2.3.4. Nghiên cứu về sinh khối rừng ............................................................... 22


vii
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu ................................................................ 23
2.4.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu ......................................... 23
2.4.2. Điều kiện dân sinh - kinh tế .................................................................. 25
2.4.3. Nhận xét chung ..................................................................................... 26
Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 27
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 27
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 27
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 27


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam ngành lâm nghiệp hiện nay đang phát triển rất nhanh chóng
đồng nghĩa với sự nhanh chóng đó tài nguyên rừng ngày càng mất đi. Chúng ta
cần giải quyết các vấn đề vừa đáp ứng được sự phát triển của nghành lâm
nghiệp chế biến mà không làm ảnh hưởng tới phát triển môi trường rừng. Đặt
ra câu hỏi tìm kiếm một loại cây trồng mới vừa phát triển nhanh đem lại hiệu
quả kinh tế, có phẩm chất gỗ tốt đáp ứng được ngành công nghiệp đồ gia dụng
cũng như bảo vệ được tài nguyên rừng.
Hồi (Illicium verum hook) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao, cây đa
mục đích. Tinh dầu Hồi là sản phẩm được trưng cất từ lá, quả và hạt, nhưng
chủ yếu là từ quả, là nguyên liệu quý trong công nghiệp dược phẩm và thực
phẩm. Trong công nghiệp dược phẩm tinh dầu Hồi được sử dụng để chế biến
các loại thuốc xoa bóp, nội tiết, tiêu hóa và chống nôn mửa. Trong công nghiệp
thực phẩm quả Hồi được dùng làm gia vị để chế biến thức ăn. Ngoài ra, tinh
dầu Hồi còn được dùng làm hương liệu để chế biến các đồ mĩ phẩm cao cấp.
Sau khi ép lấy tinh dầu, bã còn lại được dùng làm thuốc trừ sâu, làm men, than
hoạt tính, phân bón …Hơn nữa, Hồi là cây đặc hữu chỉ có ở một số quốc qia
trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin và Việt Nam. Tinh dầu Hồi là
mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn, giá trị tinh dầu mà thị trường trên thế
giới đã tiêu thụ khoảng 750 USD/1kg. Hằng năm các nước trên thế giới đã tiêu
thụ khoảng 25.000 tấn tinh dầu, trong đó có các nước châu Á tiêu thụ 28%, các
nước châu Mĩ tiêu thụ 26%, các nước nam Mĩ tiêu thụ 14%, các nước châu Âu
tiêu thụ 20%, còn lại ở các nước khác. Như vậy, nhu cầu sử dụng tinh dầu Hồi
trên thế giới là rất lớn, lượng tinh dầu được trưng cất từ quả Hồi không đáp ứng
được nhu cầu sử dụng, bằng con đường nhân tạo người ta đã tổng hợp được

huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn


3

- Đề xuất được giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng
rừng Hồi tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu
-Ý nghĩa trong học tập: Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến
thức lý thuyết đã được học, giúp sinh viên làm quen với thực tế, tích lũy học
hỏi kinh nghiệm. Nắm bắt được các ph Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
-Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Để tài thực hiện nhằm nắm bắt được
tình hình thực tế về điều tra kinh doanh rừng tại địa phương, từ đó đưa ra những giải
pháp thiết thực nhất giúp người dân và chính quyền địa phương có kế hoạch phát
triển cây hồi lai trong thời gian tới đạt hiệu quả cao.


4

Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Phân loại khoa học cây Hồi
Giới (regnum): Thực vật (Plantate)
Bộ (ordo):Hồi (Illiciales)
Họ (familia): Hồi (Illiciaceae)
Phân họ (subfamilia): Hồi (Illiciaceae)
Chi (genus): Hồi (Illicium)
Loài (species): Hồi (Illicium verum Hook.f.)
2.1.2. Đặc điểm hình thái

Các thông tin khác về thực vật: Chi Hồi (Illicium) gồm khoảng trên 40
loài, phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á, Đông Á và Bắc Mỹ. Đến nay,
ở nước ta đã phát hiện được khoảng 16 loài thuộc chi Hồi (chiếm 40% số loài
của cả chi). Riêng tại Sa Pa (Lao Cai) đã gặp tới 6 loài. Quả và lá của hầu hết
các loài trong chi Hồi đều chứa tinh dầu. Thành phần hoá học trong tinh dầu
của mỗi loài cũng rất khác nhau, rất đa dạng.
Dựa vào đặc điểm số lượng noãn trên mỗi quả, Lưu Đàm Cư và cộng
sự (2005) [10] đã xếp các dạng Hồi tại Lạng Sơn vào 3 nhóm chính:
Nhóm 8 cánh: trong mỗi quả có (7-)8 - (-10) lá noãn. Trong đó số quả
có 8 lá noãn chiếm ưu thế (75 - 91%).
Nhóm trung gian: trong mỗi quả có (5-)8(-13) lá noãn. Trong đó số quả
có 8 lá noãn không vượt quá 60,9%.
Nhóm quả nhiều lá noãn: trong mỗi quả có từ 7 - 13 lá noãn. Trong đó
số quả có 9 - 13 lá noãn chiếm ưu thế (61,9 - 95,6).
Phân bố: Ở Việt Nam đến nay vẫn chưa gặp Hồi (Illiciumverum) sinh
trưởng ở trạng thái hoang dại. Nhiều ý kiến cho rằng, Hồi là cây nguyên sản ở
vùng Đông Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Tại Việt Nam, Hồi được trồng


6

chủ yếu ở Lạng Sơn (Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc, Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn
Lãng, Thị xã Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập, Tràng Định...) và Quảng Ninh
(Bình Liêu). Gần đây Hồi đã được đưa trồng ở Cao Bằng (Đông Khê) và Bắc
Kạn. Ở trên thế giới cây Hồi cũng được trồng nhiều tại miền Nam Trung
Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đảo Hải Nam). Hồi đã được nhập
trồng tại Nhật Bản, Ấn Độ.
2.1.3. Đặc điểm sinh thái
Hồi đã được trồng từ rất lâu đời tại các khu vực đồi núi vùng Đông Bắc
Việt Nam và miền Nam Trung Quốc. Các rừng Hồi hiện có, tập trung chủ yếu

chất

khác

(limonen,

α-pinen,

β-phellandren,

linalool,

δ-3-caren,

methylchavicol, myrcen, anisaldehyd, sabinen, 4-terpineol, paracymen, αterpinen...). Cis-anethol thường chỉ có hàm lượng rất nhỏ (vết - 0,1%), nhưng
lại rất độc và độ độc gấp 15 - 30 lần so với trans-anethol. Vì vậy, tinh dầu Hồi
sẽ gây ngộ độc nếu dùng quá liều lượng hoặc dùng nhiều. Chất lượng của tinh
dầu Hồi phụ thuộc chặt chẽ vào hàm lượng của trans-anethol trong tinh dầu.
Dưới đây là mối tương quan giữa độ đông và hàm lượng trans-anethol trong
tinh dầu Hồi:
Bảng 2.1. Hàm lƣợng của trans-anethol trong tinh dầu Hồi
Độ đông (0C)
Hàm lượng trans-anethol
trong tinh dầu (%)

21,1 18,6 16,3 14,0 11,6

9,9

8,0

+ Công dụng: Hồi đã được sử dụng làm gia vị và làm thuốc từ hàng
nghìn năm trước đây ở nước ta cũng như ở Trung Quốc. Quả và tinh dầu Hồi
là loại gia vị thơm, hấp dẫn trong chế biến thực phẩm. Tinh dầu Hồi được sử
dụng nhiều trong công nghệ chế biến rượu khai vị, rượu mùi, nước ngọt và
bánh kẹo. Hương vị hấp dẫn của Hồi vừa có tác dụng kích thích tiêu hoá, vừa
gây cảm hứng ngon miệng. Trong y học dân tộc ở nước ta cũng như tại Trung
Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ..., Hồi được dùng làm thuốc gây trung tiện, kích
thích tiêu hoá, chữa đau bụng, giảm đau, giảm co bóp trong dạ dày, trong
ruột, lợi sữa, chữa trị nôn mửa, đau, thấp khớp, đau lưng, ngộ độc thịt cá và
chữa trị khi bị rắn độc cắn... Tây y coi tinh dầu Hồi có tính kích thích, tăng
cường như động ruột, dùng chữa đau bụng, tăng tiết dịch đường hô hấp, giúp
tiêu hoá, giảm đau, khử đờm. Tinh dầu Hồi có tác dụng kháng khuẩn, ức chế
sự phát triển của vi khuẩn lao và nhiều loại vi khuẩn khác, nên được dùng làm
thuốc sát khuẩn, trị nấm ngoài da và ghẻ lở. Hồi còn được dùng trong việc sản
xuất, chế biến thuốc trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc, diệt chấy, rận, rệp, và
một số ngoại ký sinh trùng ở gia súc.
2.1.4. Phân bố địa lý
Cây Hồi có phân bố nhiều ở các tỉnh biên giới Việt - Trung như Cao
Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía
Bắc, có tổng diện tích tự nhiên là 832.378,38 ha. Trong đó đất có rừng
372.500,8 ha, diện tích rừng Hồi 33.503 ha ,chiếm 70% so với diện tích rừng
Hồi cả nước. Hồi phân bố hầu hết ở các huyện, thành phố của Lạng Sơn,
nhưng tập trung nhiều ở các huyện: Văn Quan, Bình Gia.
2.1.5. Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn
Không chỉ ở châu Á (đặc biệt là các nước khu vực Đông Nam Á), mà
tại nhiều nước châu Âu (Pháp, Đức, Ý...) và châu Mỹ (Hoa Kỳ, Cu Ba...) quả
và tinh dầu Hồi được coi là gia vị ưa thích trong chế biến thực phẩm. Trong


9


giới đã có rất nhiều mô hình sinh trưởng đã được phát triển và không thể tìm
hiểu được phương pháp cụ thể của mỗi mô hình. Vì vậy cần phải xác định
được những điểm chung để phân loại mô hình (Vanclay, 1998). Rất nhiều tác
giả đã cố gắng để phân loại mô hình theo các nhóm khác nhau với những tiêu
chuẩn khác nhau (Pote' and Bartelink, 2002). Có thể phân loại mô hình thành
các dạng chính sau đây:
1. Mô hình thực nghiệm/thống kê (empirical model) dựa trên những đo
đếm của sinh trưởng và các điều kiện tự nhiên của thời điểm đo đếm mà
không xét đến các quá trình sinh lý học.
2. Mô hình động thái (process model)/mô hình sinh lý học mô tả đầy
đủ các cơ chế hóa sinh, lý sinh trong hệ sinh thái và sinh vật (Constable and
Friend, 2000).
3. Mô hình hỗn hợp (hybrid/mixed model), kết hợp phương pháp xây
dựng hai loại mô hình trên đây để xây dựng mô hình hỗn hợp
Mô hình thực nghiệm đòi hỏi ít tham số (biến số) và có thể dễ dàng mô
phỏng sự đa dạng về quản lý cũng như xử lý lâm sinh, nó là công cụ định
lượng sử dụng có hiệu quả và phù hợp trong quản lý và lập kế hoạch quản lý
rừng (Landsberg and Gower, 1997; Vanclay and Skovsgaard, 1997; Vanclay,
1998) [29]. Phương pháp này có thể phù hợp để dự đoán sản lượng ngắn hạn
trong khoảng thời gian mà các điều kiện tự nhiên cho sinh trưởng của rừng
được thu thập số liệu tạo nên mô hình vẫn chưa thay đổi lớn. Mô hình thực
nghiệm thường được thể hiện bằng các phương trình quan hệ hoặc phương
trình sinh trưởng dựa trên số liệu sinh trưởng đo đếm thực nghiệm mà thông
thường không xét đến ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố môi trường vì các
ảnh hưởng này được coi như đã được tích hợp vào sinh trưởng của cây. Đối
với mô hình thực nghiệm, các phương trình sinh trưởng và biểu sản lượng có
thể phát triển thành một biểu sản lượng sinh khối hoặc cácbon tương ứng.




12

2.2.2. Về sinh trưởng
Nghiên cứu sinh trưởng phát triển cây hồi Những hiểu biết của nông
dân thế giới về đất trải qua hàng chục thế kỷ là những thông tin quý báu.
Những thông tin này được bổ sung uyên bác của các nhà khoa học, tạo sự
phát triển từng bước, để ra đời nhiều công trình nghiên cứu về đất, đặc biệt là
những nghiên cứu về đánh giá đất và phân chia lập địa đã giúp con người hiểu
và nắm được về khoa học đất, từ đó họ có thể quản lý sử dụng đất đai ngày
một hiệu quả hơn.
Kauritrev và Gretrin (1969) [31] có trích dẫn nghiên cứu của Pogrebnhiac
(Ucraina - 1962) một chuyên gia đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng
rừng và xác định các kiểu rừng dựa trên 2 tiêu chí chính là độ phì và độ ẩm
của đất. Độ phì được chia làm 4 cấp: Mỗi nhóm ứng với một kiểu rừng nhất
định (Thông, Bạch dương...) và biểu thị bằng chữ cái A, B, C, D. Rất xấu (A),
xấu (B), trung bình (C), tốt (D). Độ ẩm chia làm 6 cấp từ khô đến đầm lầy và
biểu thị bằng các chữa số: rất khô (0), khô (1), ẩm vừa (2), ẩm (3), ướt (4) và
đầm lầy (5). Việc xác định độ phì có thể dựa vào tác dụng chỉ thị của tầng cây
gỗ do chúng có bộ rễ ăn sâu và quan hệ chặt chẽ với độ phì của đất, còn độ
ẩm dựa vào lớp thảm tươi do chúng nhạy cảm với sự thay đổi của độ ẩm.
Glazovskaia, M.A (1972) [32] trích dẫn nghiên cứu của Trectov (1981) về 3
yếu tố: Đá mẹ hình thành đất, địa hình, chế độ thoát nước phản ánh tiềm năng
sản xuất của lập địa và tác động tổng hợp thông qua sự hình thành các kiểu
mùn được hình thành ở vùng Đông Bắc Liên Xô (cũ), mối quan hệ các kiểu
mùn hình thành với tác động của con người và năng suất của lâm phần. Theo
ông chính các kiểu mùn rừng là thực tại của các lập địa trong một sinh khí
hậu nhất định phân loại lập địa được phân chia như sau:
- Nhóm lập địa dựa vào điều kiện thoát nước để phân chia.
- Nhóm phụ lập địa dựa vào điều kiện thoát nước và đá mẹ hình thành


Đất ướt

2.2.3. Nghiên cứu về sinh khối rừng
Ngay từ thế kỷ 17 trên thế giới đã có nghiên cứu về lĩnh vực sinh lý
thực vật, vai trò, cơ chế hoạt động của diệp thực vật màu xanh trong quá trình
quang hợp để tạo ra các sản phẩm hữu cơ dưới tác động của các yếu tố tự
nhiên như đất, nước, không khí và năng lượng mặt trời. Nhờ áp dụng các
thành tựu khoa học như hoá phân tích, hoá thực vật và đặc biệt là vận dụng
nguyên lý tuần hoàn vật chất trong thiên nhiên, các nhà khoa học đã thu được
những thành tựu đáng kể trong thế kỷ XIX . Một số nghiên cứu tiêu biểu có
thể tóm tắt lại như sau:
- Xây dựng định luật "năng suất" dựa trên định luật “tối thiểu” của
Liebig J. và dựa trên các kết quả nghiên cứu về định lượng của sự tác động
của thực vật tới không khí, đã được mô tả bởi Liebig, J (1862).
- Các công trình nghiên cứu về phát triển sinh khối rừng đã được tổng
kết bởi Riley G.A (1944), Steemann Nielsen, E (1954), Fleming, R.H. (1957).
- Bản đồ năng suất trên toàn thế giới đã được xây dựng bởi Lieth, H.
(1964) , đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “IBP”


14

(1964) và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động
mạnh mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối. Những nghiên cứu trong giai đoạn
này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa
thường xanh.
Theo Lê Hồng Phúc (1994), Duyiho công bố thực vật ở biển hàng năm
quang hợp đến 3x1010 tấn vật chất hữu cơ, trên mặt đất là 5,3x1010 tấn. Đối
với hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ 10 - 50

- Một số tác giả như Trasnean (1926), Huber (Đức, 1952), Monteith
(Anh, 1960 - 1962), Lemon (Mỹ, 1960 - 1987), Inone (Nhật, 1965 - 1968),...
đã dùng phương pháp dioxit carbon để xác định sinh khối. Theo đó sinh khối
được đánh giá bằng cách xác định tốc độ đồng hoá CO2


15

Phương pháp “Chlorophyll” xác định sinh khối thông qua hàm lượng
Chlorophyll trên một đơn vị diện tích mặt đất. Đây là một chỉ tiêu biểu thị khả
năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia bức xạ hoạt động quang tổng hợp được
công bố bởi Aruga và Maidi (1963).
- Woodwell, G.M (1965) và Whitaker, R.H (1968) [69] đã đề ra
phương pháp "thu hoạch" để nghiên cứu năng suất sơ cấp tuyệt đối.
- Newbuold.P.J (1967) đề nghị phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu
sinh khối và năng suất của quần xã từ các ô tiêu chuẩn. Phương pháp này
được chương trình quốc tế “IBP” thống nhất áp dụng.
- Phương pháp xác định sinh khối rừng dựa vào mối liên hệ giữa sinh
khối và kích thước cây hoặc của từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học
nào đó được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và châu Âu (Whittaker, 1966) [68];
Tritton và Hornbeck, 1982; Smith và Brand, 1983). Theo Grier và cộng sự
(1989), Reichel (1991), Burton V. Barner và cộng sự (1998) [42] do khó khăn
trong việc thu thập rễ cây nên phương pháp này chủ yếu dùng để xác định
sinh khối của bộ phận trên mặt đất.
- Phương pháp Oxygen năm 1968 nhằm định lượng oxy tạo ra trong
quá trình quang hợp của thực vật màu xanh. Từ đó tính ra được năng suất và
sinh khối rừng đã được Edmonton. Et. Al đề xướng.
- Phương pháp lấy mẫu rễ để xác định sinh khối được mô tả bởi Shurrman
và Geodewaaen (1971), Moore (1973), Gadow và Hui (1999), Oliveira và cộng
sự (2000), Voronoi (2001), McKenzie và cộng sự (2001) [56].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status