ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------
NGUYỄN THỊ NGA
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA NỒNG ĐỘ VÀ THỜI GIAN NGÂM TẨM
DUNG DỊCH LÁ XOAN ĐẾN KHẢ NĂNG BẢO QUẢN GỖ KEO LAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Khoa
: Lâm Nghiệp
Lớp
: 44 - QLTNR
Khóa học
: 2012-2016
Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Tuyên
Thái Nguyên, năm 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi, không sao chép của ai. Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận là
hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên một tài liệu nào, nếu có
gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Xác nhận của giáo viên hƣớng dẫn
Ngƣời viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trƣớc
Hội đồng khoa học
ThS. Nguyễn Thị Tuyên
Nguyễn Thị Nga
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(Ký và ghi rõ họ tên)
ii
iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Nghĩa từ viết tắt
STT
Tên từ viết tắt
1
ASTM
Hiệp hội vật liệu và thử nghiệm Hoa Kỳ
2
DVHĐ
Dầu vỏ hạt điều
3
PGS
4
PTSKH
5
Tên bảng
Trang
1
Bảng 4.1: Tương quan giữa nồng độ và lượng chế phẩm thấm vào gỗ
27
2
Bảng 4.2: Hiệu lực của chế phẩm đối với nấm thời gian ngâm 3 ngày
28
3
Bảng 4.3: hiệu lực của chế phẩm đối với nấm thời gian ngâm 7 ngày
30
4
Bảng 4.4: hiệu lực của chế phẩm đối với nấm thời gian ngâm 1 tháng
31
5
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Tên hình
Hình 3.1: Lấy lá xoan tươi
Hình 3.2: Băm nhỏ lá xoan
Hình 3.3: Xay lá xoan
Trang
22
22
22
22
23
23
26
26
29
30
32
33
35
36
37
38
vi
MỤC LỤC
Trang
2.1.3. Những vấn đề về thuốc bảo quản và nguyên liệu. ....................................... 7
2.1.3.1. Nguyên liệu gỗ .......................................................................................... 7
2.1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thấm chế phẩm của gỗ ............... 8
2.1.3.3. Chế phẩm bảo quản ................................................................................... 9
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ...................................................12
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới ..........12
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản ở Việt Nam ...........14
Phần 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .20
3.1.1. Đối tượng ...................................................................................................20
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................20
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu .................................................20
3.3. Nội dung nghiên cứu .....................................................................................20
3.4. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................21
3.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu ......................................................................21
3.4.2. Phương pháp thực nghiệm .........................................................................21
3.4.2.3. Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm....................................................................23
3.4.3. Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nồng độ đến lượng thuốc thấm ...........24
3.4.4. Phương pháp đánh giá hiệu lực chế phẩm bảo quản ..................................24
3.4.4.1. Đánh giá hiệu lực đối với nấm ................................................................24
3.4.4.2. Đánh giá hiệu lực chế phẩm đối với mối ................................................25
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN..............................................................27
4.1. Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến lượng dung dịch lá
xoan thấm vào gỗ .................................................................................................27
4.2. Hiệu lực với nấm của dung dịch lá xoan trên gỗ Keo lai..............................28
4.3. Hiệu lực của chế phẩm bảo quản đối với mối ...............................................34
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................40
5.1. Kết luận .........................................................................................................41
5.2. Khuyến nghị ..................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................42
sức khỏe con người về trước mắt cũng như lâu dài.
2
Vì vậy, việc dùng chế phẩm bảo quản có nguồn gốc sinh học để bảo quản
vừa có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại vừa khắc phục được những mặt trái
do thuốc bảo quản gỗ có nguồn gốc hóa học gây lên. Đây cũng chính là cơ sở tạo
ra các sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, góp phần làm tăng giá trị các loại
sản phẩm trên thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu.
Xoan là một trong những loài thảo mộc có đặc tính kháng sâu bệnh đang
được nghiên cứu và sử dụng ngày càng nhiều ở nước ta và một số nước trên thế
giới. Trong thực tế, lá cây Xoan được sử dụng như một loài thuốc trừ sâu tự
nhiên diệt côn trùng, trống mối mọt, chữa ghẻ cho gia súc…Xoan dễ trồng, có ở
nhiều nơi, khả năng ứng dụng ở các địa phương đơn giản hơn.
Qua điều tra sơ bộ tại một số địa phương cho thấy người dân sử dụng
nước lá cây Xoan để phòng trừ sâu hại cây trồng, bảo quản gỗ. Để có cơ sở khoa
học về cách sử dụng lá xoan chúng tôi tiến hành nghiên cứu về khả năng bảo
quản gỗ của lá xoan thông qua đề tài: “Nghiên cứuảnh hưởng của nồng độ và
thời gian ngâm tẩm dung dịch lá xoan đến khả năng bảo quản gỗ Keo lai”.
1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Mục tiêu
Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến khả
năng bảo quản gỗ Keo lai.
1.2.2. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học: Thu thập được
những kinh nghiệm và kiến thức từ thực tế, củng cố lý thuyết đã học và biết cách
thực hiện một đề tài.
Ý nghĩa trong thực tế: Làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng chế phẩm
bảo quản trong thực tiễn và phục vụ cho công tác bảo quản gỗ nói chung.
4
tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu
quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và
trong nền kinh tế quốc dân [4].
2.1.2. Phƣơng pháp bảo quản
2.1.2.1. Phương pháp ngâm thường
Đặc điểm chung: Ngâm gỗ vào dung dịch bảo quản trong điều kiện bình
thường là một trong những phương pháp tẩm cổ điển nhất. Khi ngâm gỗ hoặc
lâm sản khác trong một chất lỏng có hiện tượng sau: Sự chuyển động của các
phần tửdung dịch bảo quản vào trong gỗ (lâm sản khác) nhờ hiện tượng thẩm
thấu và sự chuyển động dung dịch bảo quản vào gỗ nhờ áp lực mao quản.Các
màng tế bào được coi là màng bán thấm, tạo ra sự thấm một chiều của các phần
tử từ ngoài vào. Đồng thời với quá trình thấm chế phẩm vào gỗ thì có một số
phần tử nước từ trong gỗ chuyển động ngược trở ra vào dung dịch. Tốc độ
chuyển động của hai chiều ngược nhau này phụ thuộc vào ẩm độ gỗ, nồng độ
dung dịch, loại gỗ[6].
2.1.2.2. Phương pháp khuyếch tán
Đặc điểm chung: Nguyên lý cơ bản của phương pháp chính là quá trình
khuyếch tán của ion hoặc phân tử từ chế phẩm bảo quản vào gỗ.
Khi gỗ có độ ẩm cao được ngâm vào dung dịch chế phẩm có nồng độ cao,
hoặc quét cao xung quanh, do chênh lệch nồng độ các phân tử hoặc ion của chế
phẩm từ dung dịch chuyển vào sâu trong gỗ.
Ẩm độ gỗ ít nhất phải trên 50%, nồng độ dung dịch phải cao hơn gấp 2 - 3
lần so với nồng độ chế phẩm cùng loại khi tẩm bằng phương pháp khác [6].
2.1.2.3. Phương pháp nóng - lạnh
Khi gỗ được làm nóng lên, không khí và hơi nước trong gỗ cũng bị nóng
dần và dãn nở thể tích. Song thể tích gỗ tăng không đáng kể, do vậy áp suất
trong gỗ sẽ cao hơn áp suất bên ngoài, một phần không khí và hơi nước sẽ thoát
Với phương pháp này, ngoài loại bỏ được những yếu tố gây hại do sinh
vật gây ra còn hạn chế được tác nhân phi sinh vật như cong vênh, nứt nẻ ở gỗ.
6
Trong việc xếp đống gỗ để hong phơi tránh hiện tượng để ánh sáng chiếu
hoặc gió lùa trực tiếp vào đầu của cây hoặc tấm ván gỗ. Khi đó làm cho độ ẩm
thoát ra quá nhanh dẫn đến hiện tượng gỗ bị nứt đầu.
Việc xếp thanh kê phải đúng kỹ thuật: kích thích các thành kê, khoảng
cách giữa các thanh kê phải đều nhau, các thanh kê giữa các trồng ván phải thẳng
hàng. Khoảng cách giữa các thanh kê phụ thuộc vào loại gỗ, chiều dày tấm ván,
kích thước thanh kê thường dày 2.5 cm, rộng 5 - 6 cm [6].
2.1.2.7. Phương pháp hun khói, ngâm
Phương pháp này áp dụng theo kinh nghiệm. Phương pháp hun khói tre,
gỗ, song mây lên trên bếp giúp cho tre nứa, song mây khô nhanh, chống được
mốc. Mặt khác trên bề mặt sẽ có một lớp bồ hóng có thành phần hóa học tương
tự như sản phẩm dầu nhựa có khả năng phòng được nấm mốc và mọt tre.
Phương pháp ngâm tre, gỗ trong ao hồ hoặc bùn với một thời gian 6 tháng
đến 1 năm hoặc lâu hơn sẽ hạn chế được mọt mốc. Phương pháp này sẽ làm biến
đổi thành phần hóa học trong gỗ, cụ thể làm cho hàm lượng đường và tinh bột có
trong tre, gỗ giảm đi [6].
2.1.2.8. Phương pháp tẩm cây đứng
Phương pháp này có tên là tẩm cây sống (cây chưa bị chặt hạ). Lợi dụng
đặc điểm của cây phải hút nước, muối khoáng từ đất qua hệ thống rễ, theo các
mạch dẫn lên lá để sau quá trình quang hợp tạo thành nhựa luyện nuôi cây.
Phương pháp này sẽ tác động chặn dòng nhựa nguyên và thay bằng dung dịch
chế phẩm bảo quản, chế phẩm sẽ đi theo mạch dẫn và phân bố trong cây [6].
2.1.2.9. Phương pháp thay thế nhựa
Gỗ sau khi chặt 2 - 3 ngày, nhựa cây vẫn ở trạng thái lỏng sẽ dịch chuyển
được nếu có lực đẩy từ phía gốc đến ngọn của khúc gỗ.
- Một số đặc điểm và tính chất của gỗ Keo lai
- Cấu tạo thô đại (Theo TCVN 356 – 70): Gỗ Keo lai khi mới chặt hạ có
giác lõi phân biệt không rõ, sau một thời gian gỗ lõi có màu nâu sẫm, giác có
màu nâu nhạt. Vòng năm, gỗ sớm, gỗ muộn không phân biệt rõ, chiều rộng vòng
năm từ 12 – 17 mm. Thớ gỗ thẳng và khá thô.
- Cấu tạo hiểm vi:
8
Mạch gỗ có kích thước trung bình (0,1 – 0,2 mm), số lượng ít, mạch gỗ
xếp phân tán, hình thức tụ hợp đơn và kép với số lượng 2 – 3 lỗ/mm2. Trong
mạch gỗ không có thể bít.
Trên mặt cắt ngang: Tia gỗ nhỏ và khá rõ (< 0,1 mm) số lượng trung bình
5 – 10 tia/mm. Tế bào mô mềm trong gỗ Keo lai có hình thức phân bố phân tán,
hình thức tụ hợp vây quanh mạch kín hinhg tròn. Lỗ thông ngang xếp so le, kích
thước nhỏ (đường kình 6 - 8 m). Ngoài các đặc điểm trên gỗ Keo lai không có
ống dẫn nhựa dọc, không có cấu tạo lớp.
Độ pH xác định theo tiêu chuẩn ASTM70 – 68: pH = 6,2 – 6,3
Các thông số về tính chất vật lý và cơ học vủa gỗ Keo lai được xác định
trên cơ sở tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 370 – 70, Gỗ Keo lai nhẹ, khối lượng thể
tích ở độ ẩm 12% bằng 574 kg/m3. Gỗ có hệ số co rút thể tích trung bình (0,39),
giới hạn bền khi nén dọc thớ thấp (417 kg/cm2), giới hạn bền khi uốn tĩnh thuộc
thấp (1.013 kg/cm2) và sức chống tách trung bình (12 kg/cm).
Gỗ Keo lai hiện nay được trồng phổ biến do khả năng sinh trưởng nhanh,
khối lượng thể tích trung bình và được đưa vào sử dụng với sô lượng nhiều. Tuy
nhiên, thực tế gỗ Keo lai dễ bị các tác nhân gây hại như nấm, côn trùng. Từ thực
tế và những nghiên cứu trên là cơ sở để chúng tôi lựa chọn Keo lai là nguyên
liệu thí nghiệm cho đề tài.
2.1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thấm chế phẩm của gỗ
+ Loại gỗ:
- Độc hại cao với sinh vật hại lâm sản nói chung.
- Không độc hại với con người và gia súc.
- Khả năng ổn định của thuốc lâu dài trong lâm sản khi sử dụng trong các
môi trường khác nhau.
- Dễ thấm, thấm sâu vào lâm sản.
- Không làm ảnh hưởng đến tính chất của gỗ và giảm tối đa khả năng bén
cháy của gỗ, không làm ảnh hưởng đến độ bền cơ học của gỗ.
- Không ảnh hưởng đến màng keo dán và quá trình trang sức bề mặt.
- Không ăn mòn kim loại.
- Không gây ô nhiễm môi trường.
10
- Giá thành rẻ, thông dụng, dễ sử dụng.
+ Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản với nấm
Mỗi loài nấm có một ngưỡng độ ẩm thích hợp cho quá trình phát triển,
ngoài ra còn các điều kiện khác như oxy, nhiệt độ, ánh sáng và độ pH. Để phòng
chống nấm gây hại lâm sản, người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm
thay đổi điều kiện sống của nấm hoặc làm độc hóa nguồn thức ăn của nấm bằng
các loại thuốc bảo quản lâm sản. Chế phẩm bảo quản có hiệu lực đối với nấm khi
được tẩm vào gỗ, trước hết nó đã tạo ra một môi trường khác hẳn với gỗ không
tẩm chế phẩm, nó tước bỏ những điều kiện thuận lợi cho việc nảy mầm của các
bào tử nấm, hơn thế nữa chế phẩm bảo quản còn phá hoại ngay các bào tử nấm,
các hoạt chất của chế phẩm bảo quản thấm vào các bào tử phản ứng với các
thành phần chủ yếu của bào tử làm cho bào tử không nảy mầm được. Kết quả
tổng hợp các tác động nói trên của chế phẩm bảo quản là làm cho nấm bị biến
dạng về hình thái, hoặc bị tiêu diệt ngay trên gỗ tẩm chế phẩm bảo quản.
+ Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản với côn trùng
Chế phẩm bảo quản dùng để phòng trừ côn trùng có thể xử lý diệt trực
khác khi hai pha tiếp xúc trực tiếp với nhau. Trong dung dịch quá trình khuếch
tán làm cho dung dịch đồng nhất về khối lượng riêng và áp suất. Do vậy, các
phần tử ion dung dịch bảo quản hòa tan trong nước sẽ chuyển động với một động
năng trung bình của chuyển động tịnh tiến vào, áp suất đó do các phần tử gây
lên. Áp suất này gọi là áp suất thẩm thấu. Trong ngâm tẩm gỗ vách tế bào gỗ có
thể coi là màng bán thấm. Vận tốc chuyển động của các phân tử hoặc ion phụ
thuộc vào nhiệt độ, khi nhiệt độ càng cao thì vận tốc chuyển dịch tăng lên. Bằng
các phép đo chính xác, người ta đo được tốc độ chuyển động tỷ lệ với T (T là
nhiệt độ). Áp suất thấm thấu phụ thuộc vào T, nếu T tăng thì áp suất tăng.
Đối với gỗ có độ ẩm cao, khi tẩm thuốc bảo quản, nước ở trong gỗ có xu
hướng dịch chuyển ra dung dịch tẩm và các phân tử hoặc ion chất bảo quản sẽ
dịch chuyển vào gỗ.
+ Thấm do áp lực từ bên ngoài:
12
Quá trình thấm này là do có áp lực được tạo ra từ bên ngoài tác động lên
bề mặt dung dịch bảo quản hoặc bề mặt gỗ. Áp lực này có thể được tạo ra bằng
những hình thức sau:
Dùng thiết bị tạo áp suất nén áp lực lên bề mặt dung dịch chế phẩm.
Trong thực tế người ta có thể kết hợp với rút chân không cho gỗ để tăng thêm độ
chênh lệch áp suất.
Tạo ra chênh lệch cột áp giữa dung dịch chế phẩm và bề mặt gỗ bằng cách
nâng độ cao của bình đựng chế phẩm lên so với bề mặt gỗ một độ cao nhất định.
Làm cho áp suất trong gỗ thấp hơn so với dung dịch chế phẩm ở bên
ngoài bằng cách đun nóng gỗ lên cho nước và không khí trong gỗ thoát ra ngoài
sau đó làm lạnh đột ngột trong dung dịch.
Vì vậy trong thực tế của công tác bảo quản lâm sản, cần chọn loại chế
phẩm bảo quản và dung môi có khối lượng riêng nhỏ để cho quá trình thuốc
thấm vào gỗ được thuận lợi.
loại. Các công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái... đã làm tiền đề
cho các nhà hoá học, công nghệ, nghiên cứu mở rộng các chế phẩm bảo quản,
các biện pháp kỹ thuật xử lý bảo quản gỗ và lâm sản. Một trong những thành tựu
nổi bật về sự kết hợp hữu hiệu này của các nhà nghiên cứu cơ bản và các nhà
nghiên cứu kỹ thuật giữa thế kỷ 20 này là nghiên cứu diệt mối gây hại lâm sản
trong các công trình xây dựng bằng phương pháp lây truyền để diệt mối tận tổ.
Từ việc phát hiện ra đặc tính của mối: chúng mớm thức ăn cho nhau, liếm lẫn
nhau, một số nhà khoa học của ấn Độ, Inđônexia đã nghĩ đến biện pháp dùng các
chất hoá học xử lý lên con mối, nhờ đặc tính sinh học nói trên, mối sẽ truyền
chất độc về tận tổ, tận hoàng cung của mối chúa. Feytand (1949) cho biết cụ thể
thêm rằng các hợp chất có gốc là asenic hoặc fluo ở dạng bột mịn có thể dùng
làm thuốc để gây cho mối chết bằng cách lây truyền [18].
Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn
các cơ sở lý luận để từ đó nghiên cứu các giải pháp phù hợp trong việc bảo quản
lâm sản.
14
Christebsen (1951) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ với khả năng
khuếch tán của thuốc bảo quản gỗ và nhận định rằng: nhiệt độ tăng thì khả năng
khuếch tán tăng, do khi nhiệt độ tăng thì khả năng linh động của điện tử phân ly
của thuốc bảo quản cũng sẽ tăng và do đó dễ khuếch tán vào gỗ [18].
Smith và Wiliam (1969) đã nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến khả
năng khuếch tán của dung dịch thuốc bảo quản và có kết luận: độ ẩm gỗ là yếu tố
quan trọng nhất ảnh hưởng đến quá trình khuếch tán của dung dịch thuốc bảo
quản vào gỗ. Khi độ ẩm gỗ thấp hơn 50% thì quá trình khuếch tán xảy ra chậm.
Becker (1976) và Tamblyn (1985) đã tiến hành quan sát những nhân tố
ảnh hưởng đến khuếch tán.Vinden (1984) và Dickinson (1989) đã tiến hành
nghiên cứu quá trình phòng mục gỗ bằng phương pháp khuếch tán và lưu ý cần
phải đo đạc một cách tỷ mỷ độ ẩm của gỗ, nhiệt độ xử lý, nồng độ của dung dịch
thuốc sẽ tăng khi tăng độ ẩm. Tác giả cũng kết luận sức thấm thuốc theo chiều
xuyên tâm lớn hơn chiều tiếp tuyến, gỗ giác lớn hơn gỗ lõi [2].
Nguyễn Chí Thanh (1985) [9], đã tiến hành thử hiệu lực của thuốc bảo
quản và độ bền của gỗ trong điều kiện trên bãi thử tự nhiên. Tác giả đã dùng 5
loại thuốc là XM-5B, LN3 , XM-5A, FBB và FBC để thử hiệu lực đối với 16
loài gỗ tự nhiên bằng 2 phương pháp: ngâm thường và áp lực chân không. Tác
giả kết luận: Hiệu lực của thuốc phụ thuộc vào lượng thuốc thấm và điều kiện sử
dụng. Ngâm thường ở 48 giờ lượng thuốc thấm đạt từ 1 – 1,3 kg/m3, nếu đem
chôn ngoài trời sau 18 đến 20 tháng chỉ số độ bền giảm đi rất nhanh, nhưng cũng
cùng loại thuốc trên nếu dùng dưới mái che, sau 3 năm vẫn chưa bị sinh vật phá
hoại. Ông cho biết, trong điều kiện dùng dưới mái che và môi trường không ẩm
ướt, với nồng độ thuốc 5% và ngâmthường trong 48 giờ 16 loài gỗ rừng tự nhiên
chống chịu được các sinh vật phá hoại. Đây là kết luận có ý nghĩa quan trọng
giúp các nhà nghiên cứu về bảo quản sau này có thể tham khảo định hướng được
nồng độ một số thuốc bảo quản và thời gian ngâm hợp lý trong ngâm thường.
Theo tác giả trên, thí nghiệm bảo quản gỗ mau mục bằng phương pháp tẩm cây
đứng. Tác giả đã xác định, lượng thuốc mà cây hút có quan hệ mật thiết với nhiệt
16
độ, độ ẩm không khí. Khi ẩm độ không khí tăng, lượng thuốc cây hút được giảm
và ngược lại. Ngoài ra, loại thuốc và nồng độ của thuốc có ảnh hưởng đến tốc độ
hút thuốc của cây. Khi tẩm bằng CUSO4 có độ hòa tan tối đa là 40% thì thời
gian xử lý có cây chỉ hết 5 giờ. Trong khi đó, tẩm bằng LN 1 có độ hòa tan là 4%
thì thời gian xử lý thuốc phải mất 25 giờ. Nguyên nhân của hiện tượng này là do
loại thuốc tan ít còn lẫn dạng huyền phù nên khả năng dẫn truyền kém hoặc khi
nồng độ dung dịch 3 thấp thì lượng dung dịch cây hút được khi tẩm phải lớn thì
mới đảm bảo lượng thuốc bột quy định cho 1m3 gỗ.
Lê Văn Lâm (1987)đã bước đầu nghiên cứu bảo quản cho ván dán ba lớp
gỗ trám trắng. Tác giả tiến hành ngâm tẩm gỗ bóc bằng phương pháp nhúng với