Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời gian bón phân đạm đến tồn dư nitrat trong rau cải xanh ở vụ đông năm 2015 hà giang - Pdf 42

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------------

NGUYỄN THANH TÙNG
Đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA LIỀU LƢỢNG VÀ THỜI GIAN
BÓN PHÂN ĐẠM ĐẾN TỒN DƢ NITRAT TRONG RAU CẢI XANH
Ở VỤ ĐÔNG NĂM 2015 HÀ GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo :

Chính quy

Chuyên ngành:

Khoa học Môi trƣờng

Lớp:

K44 – KHMT - N01

Khoa:

Môi trƣờng

Khóa học:

K44 – KHMT - N01

Khoa:

Môi trƣờng

Khóa học:

2012 – 2016

Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Phan Thị Thu Hằng

Thái Nguyên - Năm 2016


iii

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình
học tập, rèn luyện của mỗi sinh viên. Với phương châm “học đi đôi với hành, lý
thuyết gắn liền với thực tiễn”, thực tập tốt nghiệp sẽ giúp cho sinh viên củng cố và
hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học, áp dụng một cách sáng tạo, linh hoạt vào
thực tế nhằm nâng cao năng lực chuyên môn để sau khi ra trường có thể đáp ứng
được nhu cầu của xã hội.
Được sự nhất trí của BGH nhà trường, BCN khoa Quản lí tài nguyên em đã
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời

gian bón phân đạm đến tồn dư Nitrat trong rau cải xanh ở vụ đông năm
2015 Hà Giang”.
Để hoàn thành khóa luận này, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân, em


not

defined.
Bảng 3.4 : Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất cải xanh ........... 41
Bảng 3.5 : Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến tồn dư nitrat trong cây cải
xanh ................................................................................................................. 43
Bảng 3.6 : Ảnh hưởng của thời gian bón đạm lần cuối đến tồn dư hàm lượng
NO3- trong rau cải xanh. .................................................................................. 44


v

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp ở Bắc Quang năm 2015……34
Hình 3.2. Biểu đồ thể hiện hiện trạng sử dụng phân bón cho rau ở huỵện Bắc
Quang
......................................................................................................................... 38


vi

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

AND

: Axit đêoxiribonucleic

ARN


NO3-

: Nitrat

TCQĐ

: Tiêu chuẩn quy định

Pb

: Chì

Zn

: Kẽm

WHO

: Tổ chức Y tế Thế giới

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới


vii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................. iv

2.4.4. Phương pháp lấy mẫu kiểm tra hàm lượng NO3- .................................. 33
2.4.5. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ................................ 33
2.5. Phương pháp xử lý số liệu........................................................................ 34
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 35
3.1. Đánh giá hiện trạng sử dụng phân bón cho rau ....................................... 35
3.2. Ảnh hưởng của các liệu lượng bón đạm khác nhau đến năng suất và tồn
dư nitrat trong cây cải xanh ............................................................................ 40
3.2.1. Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất cải xanh ................... 40
3.2.2. Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến tồn dư nitrat trong cây cải xanh ..... 42
3.3. Ảnh hưởng của thời gian bón đạm lần cuối đến tồn dư hàm lượng NO 3trong rau cải xanh. ........................................................................................... 44
3.4. Đề xuất biện pháp hạn chế tồn dư NO3- trong rau cải xanh. .................... 45
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ .......................................................................... 46
1. Kết luận ....................................................................................................... 46
2. Kiến nghị ..................................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................
PHỤ LỤC ẢNH .................................................................................................


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày
của con người, rau cung cấp nhiều vitamin, chất khoáng, chất xơ… cho cơ thể
và rau có tính dược lý cao mà các thực phẩm khác không thể thay thế được.
Đồng thời, rau còn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, là mặt hàng
xuất khẩu quan trọng của nhiều nước. Vì thế, đây là loại thực phẩm rất cần
thiết và có vai trò quan trọng đối với sức khỏe của con người.
Trước tình hình thế giới hiện nay, dân số ngày càng tăng nhu cầu
về lương thực, thực phẩm ngày càng lớn. Cùng với sự phát triển của nền kinh

tồn dư NO3- trong rau. Từ đó lựa chọn mức bón rau an toàn và loại phân bón
phù hợp để áp dụng vào sản xuất rau an toàn.
3. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp cơ sở khoa học cho việc hạn chế ảnh hưởng phân bón đến
tồn dư NO3- trong rau xanh.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đóng góp cơ sở để xây dựng qui trình sản xuất rau an toàn
- Góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất cải xanh an toàn theo hướng
VietGAP, có hiệu quả trong điều kiện huyện Bắc Quang, Hà Giang.


3

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Cơ sở khoa học của đề tài
Bằng kinh nghiệm sản xuất của mình nhân dân ta đã đúc kết “nhất
nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” câu nông dao trên đã khẳng định vai trò
của phân bón trong hệ thống liên hoàn tăng năng suất cây trồng. Phân hóa học
không chỉ có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng, phát
triển mà còn có tác dụng tăng chất hữu cơ cho đất thông qua việc làm tăng
sinh khối cây trồng. Nếu toàn bộ sản phẩm của cây trồng được trả lại cho đất
thì độ phì của đất được ổn định và nâng cao dần. Trong mấy thập kỉ qua, năng
suất cây trồng không ngừng tăng lên, ngoài vai trò của giống mới, phân bón
cũng có vai trò quyết định. Giống mới chỉ có thể phát huy được tiềm năng,
cho năng suất cao nhất khi được bón đầy đủ và hợp lí.Khi bón phân phải kết
hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ thì mới phát huy được hiệu quả cao và
bền vững. Việc sử dụng phân bón thông thường cây hấp thu nhờ lông hút của
bộ rễ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đất, nước, giống, thời tiết, vi sinh vật,

- Chỉ tiêu nội chất: Chỉ tiêu nội thất được quy định cho rau tươi bao
gồm: Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật; Hàm lượng Nitrat (NO3-); Mức độ
nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Salmonella…), và ký sinh trùng
đường ruột; Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu như ( Cd, Pb, Cu,
Zn,..). Tất cả các chỉ tiêu trong từng loại rau phải đạt mức cho phép theo tiêu
chuẩn của FAO/WHO.
1.1.1.3. Giá trị của cây rau
a. Giá trị dinh dưỡng
- Rau là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể con người.
- Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau
bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm. Rau cung cấp cho cơ thể con


5

người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng,
axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ, vv...Trong
rau xanh hàm lượng nước chiếm 85-95%, chỉ có 5-15% là chất khô. Trong
chất khô lượng cacbon rất cao (cải bắp 60%, dưa chuột 74-75%, cà chua 7578%, dưa hấu 92%). Giá trị dinh dưỡng cao nhất ở rau là hàm lượng đường
(chủ yếu đường đơn) chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần cacbon. Nhờ khả năng
hoà tan cao, chúng làm tăng sự hấp thu và lưu thông của máu, tăng tính hoạt
hoá trong quá trình ôxy hoá năng lượng của các mô tế bào. Một số loại rau
như khoai tây, đậu (nhất là đậu ăn hạt như đậu Hà Lan, đậu Tây), nấm, tỏi
cung cấp 70 - 312 calo/100g nhờ các chất chứa năng lượng như protit, gluxit.
(theo Hồ Thanh Sơn, Đào Thế Anh (2005) [8]).
- Rau là nguồn cung cấp vitamin phong phú và rẻ tiền.
Rau có chứa các loại vitamin A (tiền vitamin A), B1, B2, C, E và PP
vv... Trong khẩu phần ăn của nhân dân ta, rau cung cấp khoảng 95 - 99%
nguồn vitamin A, 60-70% nguồn vitamin B (B1, B2, B6, B12) và gần 100%
nguồn vitamin C.

dưỡng cao, đồng đều về hàm lượng caroten, vitamin C, sắt, giàu muối
khoáng, vi khoáng, lượng protein cao gấp 3-5 lần các loại rau khác. Rau là
nguồn cung cấp vitamin, khoáng chất và chất xơ giúp đào thải chất độc
cholesterol ra khỏi cơ thể và chống táo bón. Một số rau gia vị còn có tác dụng
chữa bệnh nhờ có các tinh dầu và kháng sinh thực vật. Hàm lượng các sinh tố
và chất xơ trong rau lại cao hơn so với trái cây. .(theo Đặng Thị Vân, Vũ Thị
Hiển. [11])
b. Giá trị kinh tế
- Rau là một mặt hàng xuất khẩu giá trị và có ý nghĩa chiến lược
Rau là cây trồng đem lại nhiều lợi nhuận góp phần phát triển kinh tế
quốc dân đáng kể, ngoài ra rau còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao.


7

Trong những năm gần đây thị trường xuất khẩu rau được mở rộng. Theo Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), năm 2014, xuất khẩu rau
quả đạt 1,49 tỉ USD, tăng 36,2% so với năm 2013. Đây cũng là năm thứ 3 liên
tiếp ngành rau quả xuất khẩu lọt Top hàng xuất khẩu 1 tỉ USD. Theo
Vinafruit, xuất khẩu rau quả năm 2015 có triển vọng tăng lên 2 tỉ USD nhờ
các cú hích từ chính sách mở cửa thị trường của các đối tác nhập khẩu lớn
như Nhật Bản, EU, Mỹ với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: hoa quả tươi
(thanh long, vải, nhãn, chôm chôm…) rau xanh Đà Lạt. Thị trường xuất khẩu
rau chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Australia,
Singapore, Hàn Quốc, Mỹ.. và các nước châu Âu. Hàng năm lượng rau được
xuất khẩu rất nhiều cả dạng rau tươi và qua chế biến như rau đóng hộp, rau
gia vị, rau muối... trong đó rau tươi là hơn trên 200.000 tấn/năm.(Hồ Thanh
Sơn, Đào Thế Anh (2005),[8].)
- Rau là nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm.
Những loại rau được sử dụng trong công nghiệp chế biến xuất khẩu

26,8 triệu/ha bình quân của ngành trồng trọt. (theo Đinh Văn Hùng (2005)
[6]). Nông dân trồng rau có xu hướng tạo thu nhập cao hơn nông dân trồng
cây khác vì năng suất và giá trị của cây rau cao hơn một cách đáng kể. Vì vậy
đây là điều kiện thuận lợi để người nông dân đầu tư mở rộng diện tích trồng
rau.
c. Giá trị khác
* Giá trị y học:
Một số loại rau còn được sử dụng để làm thuốc, được truyền miệng từ
đời này qua đời khác, đặc biệt cây tỏi được xem là dược liệu quý trong nền y
học cổ truyền của nhiều nước như Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam... Dùng
nhánh tỏi để chữa bệnh huyết áp cao và bệnh thấp khớp. Một số loại rau có


9

tính trừ sâu như xà lách, một số loại rau lại có giá trị cho giá trị thẩm mỹ như
ớt đỏ, dưa leo, cà chua, mướp đắng.
* Giá trị xã hội:
Vị trí cây rau trong đời sống - xã hội ngày càng được coi trọng nên diện
tích gieo trồng và sản lượng rau ngày càng tăng. Ngành sản xuất rau phát triển
sẽ góp phần tăng thu nhập, sử dụng lao động hợp lý, mở rộng ngành nghề,
giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động ở các vùng nông
thôn, ngoại thành và các lĩnh vực kinh doanh khác như marketting, chế biến
và vận chuyển. Ngoài ra ngành sản xuất rau còn thúc đẩy các ngành khác
trong nông nghiệp phát triển như cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến.
Khi ngành sản xuất rau được phát triển một cách nhanh chóng và vững
chắc sẽ góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động, thỏa mãn nhu cầu
ngày càng cao của người tiêu dùng đồng thời đáp ứng nhu cầu của công cuộc
xây dựng đất nước. Khi sản xuất rau được coi là một nghề thì những khu

được bón đầy đủ và hợp lí. FAO đã tổng kết bón phân không cân đối làm
giảm hiệu suất sử dụng 20-50%. Kết quả trong thí nghiệm và mô hình ở nước
ta trong mấy năm qua cho thấy nếu NPK cân đối so với chỉ bón đạm, năng suất
lúa trên đất bạc màu có thể tăng 100 – 200%. Kỹ nghệ phân bón không chỉ chú ý
đến đạm, lân, kali mà phải chú ý đầy đủ đến các nguyên tố khác như lưu huỳnh
(S), magie (Mg), với các nguyên tố vi lượng như: Mo, Bo, Mn, Fe…
Cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất và từ phân bón để tạo nên sản
phẩm của mình sau khi kết hợp với sản phẩm của qúa trình quang hợp, cho
nên sản phảm nông ngiệp phản ánh tình hình đất đai và việc cung cấp thức ăn
cho cây. Nhờ có phân bón mà phẩm chất nông sản được nâng cao. Bón phân
không cân đối làm giảm chất lượng nông sản. Bón phân cũng làm thay đổi


11

thành phần hóa học của hạt, việc bón phân thừa hay thiếu đạm làm giảm tỷ lệ
vitamin B2 trong rau. Và việc bón quá thừa đạm, bón gần đến ngày thu hoạch
dẫn đến tình trạng dư lượng NO3- trong sản phẩm vượt quá mức cho phép,
gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng. (Hồ Thanh Sơn, Đào Thế
Anh (2005),[8].)
Nền nông nghiệp thế kỷ 21 là nền nông nghiệp sạch, nền nông nghiệp
sinh thái. Nhiệm vụ của loài người là phải tạo nên một nền nông nghiệp bền
vững trong đó giảm tối đa các chất phế thải, cũng như giảm tối đa việc mất
chất dinh dưỡng để không làm ô nhiễm môi sinh (ngăn chặn việc thải nitotrat
vào nguồn nước uống, ngăn việc thải các chất oxit nito bắt nguồn từ quá trình
khử đạm trong nông nghiệp để làm phá hoại tầng ozon. Nông nghiệp thế kỷ
21 cùng với việc sử dụng tối thích phân hóa học phải làm cho đất phát huy
tích cực hơn. Đất trở thành nơi đồng hóa chất thải, biến chất thải thành nguồn
các chất dinh dưỡng. Trong việc nghiên cứu phân bón không chỉ chú ý đến
việc tăng năng suất mà phải đánh giá chất lượng sản phẩm. Biện pháp bón

khỏe mạnh năng suất cao.
Đối với rau, đạm là yếu tố tác động rất lớn đến sinh trưởng phát triển
như chiều cao cây, diện tích lá. Với cải bẹ xanh khi sử dụng lượng đạm từ
120N - 180 N/ha thì chiều cao cây, chỉ số diện tích lá tăng dần. Nghiên cứu
của Phạm Minh Tâm (2001)[9] với cải bẹ xanh trên nền đất xám cũng cho kết
quả tương tự, chiều cao cây cải tăng dần khi tăng lượng đạm bón, ở mức 120
kg N/ha chiều cao cây là 23,70cm so với 10,50 cm khi không bón đạm, động
thái ra lá, trọng lượng trung bình cây cũng tăng dần khi tăng lượng đạm bón,
đạt cao nhất ở mức bón 120 kg N/ha.
Cây thiếu đạm lá có màu vàng, sinh trưởng kém, còi cọc, có khi bị thui
chột, thậm chí rút ngắn thời gian tích luỹ hoàn thành chu kỳ sống. Bón thừa
đạm lá cây có màu xanh tối, thân lá mềm, tỷ lệ nước cao, dễ mắc sâu bệnh, dễ


13

lốp đổ và thời gian sinh trưởng kéo dài. Bón nhiều đạm và không cân đối thì
dẫn đến sự tích luỹ nitrat trong cây và làm ô nhiễm nitrat trong nước ngầm.
1.1.2.2. Quá trình chuyển hóa đạm trong cây
Việc cung cấp nitơ và các chu trình vật chất trong tự nhiên phụ thuộc
nhiều vào quá trình phân huỷ sinh học các hợp chất chứa nitơ trong môi trường.
Toàn bộ nitơ trong chu trình nitơ sinh học diễn ra chủ yếu qua hoạt
động cố định đạm của các vi khuẩn sống trong cây, các tảo lục và các vi
khuẩn cộng sinh trong rễ của một số loài thực vật (ví dụ như Rhizobium có ở
trong nốt sần của rễ một số loài họ đậu). Những sinh vật này có khả năng
chuyển hoá N2 thành N-NH4+, mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ dòng nitơ trên toàn
cầu, quá trình cố định đạm là nguồn cung cấp nitơ cao nhất cho cả sinh vật
trên cạn và sinh vật thủy sinh.
Cây trồng hút đạm ở cả hai dạng NH4+ và NO3-. Mức độ hấp thu nhiều
N-NH4+ hoặc N-NO3- của cây trồng phụ thuộc vào tuổi, loại cây trồng, môi

khử NO2- xuống N2 và NH3 rồi thải ra ngoài.
1.1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng hàm lượng NO3- trong rau xanh
Nitrat (NO3) là dạng chất đạm hiện diện trong cây rau. Sử dụng lượng
nitrat ít hoặc vừa đủ, giúp cho cây rau nhìn xanh, đẹp mắt. Lượng nitrat có thể
tích lũy trong mỗi loại rau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó liều lượng
phân đạm sử dụng cho cây trồng được đặc biệt quan tâm. Sự có mặt của nitrat
trong nông sản sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và dư lượng nitrat
trong mô thực vật vượt quá ngưỡng an toàn được xem như một độc
chất.Nitrat lần đầu được phát hiện như dạng độc chết tồn dư trong nông sản,
gây hại sức khỏe con người. Mặc dù nitrat không độc với thực vật nhưng nếu
sản phẩm cây trồng được người sử dụng , đặc biệt là bộ phận lá, nitrat được
khử thành nitrit trong quá trình tiêu hóa lại là một chất độc vì nitrit dễ phản


15

ứng với amin tạo thành nitrosamin , là chất gây ưng thư dạ dày. Mặt khác
trong cơ thể con người, do sự khử nitrat nhanh hơn sự chuyển đổi nitrit thành
ammonia, nitrit nhanh tróng bị tích tụ, gây bệnh Methemoglobinemia, làm
mất khả năng vận chuyển oxy trong máu, đồng thời hạ huyết áp. Nitrit không
chế sự sinh sản của một số vi khuẩn hiếu khí, yếm khí và ở nồng độ cao cũng
có thể gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và tăng nguy cơ sẩy thai ở
người. (theo Chiêng Hông (2003),[7].)Vì vậy nitrat trong rau ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe con người, nên nó luôn được xem là một trong những tiêu chuẩn
để đánh giá chất lượng rau quả.
a. Ảnh hưởng phân bón
Phân đạm: Trong các loại phân bón dùng cho cây trồng thì phân đạm được sử
dụng nhiều nhất và cũng là yếu tố then chốt quyết định năng suất cây trồng.
Thực tế cây trồng được cung cấp đủ đạm sẽ phát triển mạnh, tổng hợp được
nhiều chất tạo nên sinh khối và tăng sản phẩm. Nhưng bón nhiều đạm trong

Hồng cũng cho kết quả tương tự, tăng lượng đạm bón làm tăng sự tích luỹ
nitrat trong rau, với rau muống tăng mức đạm bón từ 120kg N/ha lên 180kg
N/ha thì hàm lượng NO3- trong rau tăng lên thêm 250 mg/kg rau. (Theo
Chiêng Hông (2003),[7] )
c. Ảnh hưởng của thời gian bón thúc đạm lần cuối đến thu hoạch tới
mức độ tích luỹ NO3- trong rau xanh.
Ngoài việc sử dụng một lượng lớn phân đạm thì thời gian kết thúc bón
đạm trước thu hoạch cũng là một hiện tượng rất phổ biến ở tất cả các vùng
trồng rau trong cả nước. Nông dân thường thu hoạch rau chỉ sau khi bón đạm
3 - 7 ngày (Đặng Thu Hòa, 2002 [4]), (Phạm Minh Tâm, 2001 [9]). Người


17

sản xuất hầu như không quan tâm đến tồn dư nitrat trong rau mà thời gian thu
hoạch do thị trường quyết định, đặc biệt vào mùa khan hiếm rau.
Nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Cương (2005) [2] năm 2001 - 2004
cho thấy: thời gian bón đạm lần cuối đến thu hoạch có ảnh hưởng tới dư
lượng NO3- trong rau. Khả năng tích lũy NO3- phụ thuộc vào từng loại cây.
Hầu hết các loại rau sau bón 3 - 5 ngày hàm lượng NO3- cao nhất và đều vượt
ngưỡng cho phép, sau đó lại giảm dần. Sau khi bón đạm lần cuối 10 ngày hàm
lượng NO3 - thấp nhất và đều đảm bảo độ an toàn cho phép, tồn dư NO3trong rau liên quan chặt chẽ tới sự cung cấp đạm và quá trình quang hợp trước
lúc thu hoạch. Nếu có đủ thời gian và điều kiện để cây quang hợp mạnh tạo ra
glucid và hô hấp tạo ra acetoacid thì hàm lượng NO 3- trong cây không đến
mức gây độc. Do đó thời gian bón đạm trước khi thu hoạch quyết định đến
tồn dư nitrat trong rau. Tuy vậy khả năng hấp thụ N và tích luỹ NO 3- nhanh
hay chậm còn phụ thuộc vào từng loại rau. Hầu hết các loại rau có hàm
lượng NO3- đạt cao nhất sau khi bón thúc đạm lần cuối từ 3 - 10 ngày.
Phạm Minh Tâm (2001) [9] khi nghiên cứu trên rau cải xanh tại thành
phố Hồ Chí Minh cũng cho kết quả: với mức bón 90 kg N/ha thì hàm lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status