Bài Tập Cá Nhân
Môn : Quản Trị Chiến Lược
SVTH : Võ Thị Thu Oanh _ Lớp K13KKT3
Trang
1
Mở Đầu
Ngày nay môi trường kinh doanh có sự ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh
doanh của công ty, nó luôn thay đổi, phá vỡ sự cứng nhắc của các kế hoạch sản
xuất của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là phải hoạch định và triển khai một công cụ
kế hoạch hoá hữu hiệu đủ linh hoạt ứng phó với những thay đổi của môi trường
kinh doanh, đó là chiến lược kinh doanh. Đặc biệt trong xu hướng hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới thì muốn tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp không những
phải đủ sức cạnh tranh trên thị trường nội địa mà phải có khả năng vươn ra thị
trường quốc tế. Vậy làm thế nào để có ưu thế cạnh tranh hơn đối thủ cạnh tranh và
cạnh tranh được với các đối thủ khi họ có lợi thế cạnh tranh dài hạn mà mình
không có? Không chỉ với các doanh nghiệp Việt Nam mà cả đối với các công ty
lớn trên thế giới trong suốt quá trình đặt tình huống và tìm giải pháp, có một câu
hỏi luôn đặt ra là: làm sao doanh nghiệp có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa
một bên là khả năng có hạn của mình và đòi hỏi vô hạn của thị trường không chỉ
bây giờ mà cả cho tương lai. Giải quyết được mâu thuẫn ấy là mục tiêu của hoạch
định chiến lược kinh doanh. Trong chiến lược chung của toàn doanh nghiệp, chiến
lược sản phẩm có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, nó là cơ sở để xây dựng và
thực hiện các chiến lược và kế hoạch khác như: chiến lược đầu tư phát triển, chiến
lược giá, chiến lược phân phối và các hoạt động xúc tiến hỗn hợp…
Công ty bánh kẹo Hải Hà là một trong các doanh nghiệp nhà nước chuyên sản
xuất kinh doanh các loại bánh kẹo. Trong những năm qua, công ty đã biết chăm lo
phát huy các nhân tố nội lực để vượt qua các thử thách của thời kỳ chuyển đổi,
phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả. Với mục tiêu trở thành một
trong những doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn nhất tại Việt Nam thì công ty
Quản trị chiến lược “ là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lược, tình hình
hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm nhân lực, lãnh đạo, kỹ thuật và cả
phương pháp xử lý”. Quản trị chiến lược bao gồm các hành động liên tục: soát xét môi
trường (cả bên trong lẫn bên ngoài); xây dựng chiến lược; thực thi chiến lược và đánh
giá kiểm soát chiến lược. Do đó, nghiên cứu chiến lược nhấn mạnh vào việc theo dõi và
đánh giá các cơ hội và đe dọa bên ngoài trong bối cảnh của các sức mạnh và điểm yếu
bên trong.Quản trị chiến lược có nguồn gốc là các chính sách kinh doanh, quản trị chiến
lược kết hợp các chủ đề hoạch định dài hạn với chiến lược. Tuy nhiên, trái với quản trị
chiến lược chính sách kinh doanh có định hướng quản trị chung, chủ yếu hướng vào
bên trong quan tâm đến sự tích hợp hoạt động giữa các chức năng của tổ chức. Trong
khi đó, quản trị chiến lược không chỉ quan tâm đến sự tích hợp các chức năng bên trong
giống như chính sách kinh doanh mà còn nhấn mạnh hơn vào môi trường và chiến
lược. Do đó, người ta sử dụng thuật ngữ trị chiến lược thay cho chính sách kinh doanh.
2. Vai trò và ý nghĩa của Quản trị chiến lược:
2.1 Vai trò :
Trong điều kiện biến động của thị trường hiện nay hơn bao giờ hết chỉ có
một điều mà các doanh nghiệp có thể biết chắc chắn đó là sự thay đổi. Quản trị
chiến lược như một hướng đi, một hướng đi giúp các tổ chức này vượt qua sóng
gió trong thương trường, vươn tới tương lai bằng chính nỗ lực và khả năng của
chúng. Chiến lược chiến lược được xây dựng nhằm mục tiêu giúp doanh nghiệp
tập trung thích ứng một cách tốt nhất đối với những thay đổi trong dài hạn.
Quản trị chiến lược giúp cho một tổ chức có thể chủ động hơn thay vì bị
động trong việc vạch rõ tương lai của mình, nó cho phép một tổ chức có thể tiên
phong và gây ảnh hưởng trong môi trường nó hoạt động và vì vậy, vận dụng hết
khả năng của nó để kiểm soát vượt khỏi những gì thiên biến.
Quản trị chiến lược tạo cho mỗi người nhận thức hết sức quan trọng. Cả
ban giám đốc và người lao động đều thấu hiểu và cam kết sẽ thực hiện mục tiêu
Bài Tập Cá Nhân
Môn : Quản Trị Chiến Lược
SVTH : Võ Thị Thu Oanh _ Lớp K13KKT3
với chiến lược dài hạn để thực hiện mục tiêu tổng thể, bên cạnh đó còn giúp xác
Bài Tập Cá Nhân
Môn : Quản Trị Chiến Lược
SVTH : Võ Thị Thu Oanh _ Lớp K13KKT3
Trang
4
định được những hướng phát triển cần ưu tiên, để tập trung nguồn lực phát triển tổ
chức một cách hiệu quả, chiến thắng đối thủ cạnh tranh, giành vị trí xứng đáng
trên thương trường.
Tóm lại, quản trị chiến lược :
- Giúp tổ chức xác định được rõ hướng đi của mình trong tương lai.
- Giúp các quản trị gia thấy rõ được những điểm mạnh điểm yếu, cơ hội
nguy cơ của tổ chức.
- Giúp các quản trị gia đưa ra được các quyết định đúng đắn, các chiến lược
kinh doanh tốt hơn.
- Giúp tổ chức hoạt động hiệu quả hơn.
3. Nhân tố ảnh hưởng đến Quản trị chiến lược:
3.1. Môi trường vĩ mô:
Môi trường vĩ mô là môi trường bao trùm lên hoạt động của tất cả các doanh
nghiệp,có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động của tất cả các doanh
nghiệp.Môi trường này được xác lập bởi các yếu tố vĩ mô,như: các điều kiện kinh
tế, chính trị_pháp luật,văn hóa _xã hội, tự nhiên, nhân khẩu học, kỹ thuật_công
nghệ.
a. Các môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế chỉ bản chất, mức độ tăng trưởng và định hướng phát triển
của nền kinh tế, trong đó doanh nghiệp hoạt động. Phân tích môi trường kinh tế có
ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì nó bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và
kết cấu tiêu dùng.Mà chiến lược của mọi doanh nghiệp đều liên quan đến đầu ra,
đến thị trường. Thị trường cần đến sức mua và lẫn con người.Vì vậy, các yếu tố
b. Môi trường chính trị và hệ thống pháp luật:
Mọi quyết định của doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố
của môi trường chính trị.
Để hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp người ta
không thể không phân tích môi trường này.
Môi trường chính trị – pháp luật bao gồm các hệ thống quan điểm đường lối
chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật hiện hành, các xu hướng chính trị,
ngoại giao của chính phủ và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực
và trên toàn thế giới.
Pháp luật là hệ thống các qui tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật)do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà
Bài Tập Cá Nhân
Môn : Quản Trị Chiến Lược
SVTH : Võ Thị Thu Oanh _ Lớp K13KKT3
Trang
6
nước bảo đảm thực hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh quan hệ
xã hội,duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị.Trong điều kiện
hội nhập và toàn cầu hoá, khi các mối quan hệ xã hội ngày càng mở rộng và phức
tạp, khi nhân loại dần tiến tới thực sự “sống và làm việc theo pháp luật” thì các
nhà quản trị chiến lược lại càng phải chú trọng nghiên cứu môi trường pháp luật.
c. Môi trường văn hoá _xã hội :
Cùng với quá trình hội nhập các yếu tố văn hoá ngày càng có ảnh hưởng sâu
sắc đến hoạt động của doanh nghiệp.Vì vậy,nghiên cứu môi trường văn hoá xã hội
là nội dung không thể thiếu trong nghiên cứu môi trường vĩ mô.
Môi trường văn hóa xã hội bao gồm các chuẩn mực và các giá trị được chấp
thuận và tôn trọng bởi một văn hóa hoặc một văn hóa cụ thể. Sự thay đổi của các
yếu tố văn hoá xã hội một phần là hệ quả của sự tác động lâu dài của các yếu tố vĩ
- Những yếu tố cần nghiên cứu trong môi trường này :
+ Các loại tài nguyên, khoán sản và trữ lượng.
+ Nguồn năng lượng
+ Tình hình khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
+ Vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường, sự quan tâm của chính phủ và
cộng đồng đến môi trường…
f. Môi trường công nghệ:
Môi trường công nghệ là những lực lượng tạo nên các công nghệ mới, tạo nên
sản phẩm mới và các cơ may thị trường.
Những yếu tố cần quan tâm khi nghiên cứu môi trường công nghệ :
+ Sự ra đời của công nghệ mới
+ Tốc độ phát minh và ứng dụng công nghệ mới
+ Những khuyến khích và tài trợ của chính phủ cho hoạt động nghiên cứu và phát
triển.
+ Áp lực và chi phí cho việc phát triển và chuyển giao công nghệ mới ….
Đây là những yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và nguy cơ đối với
doanh nghiệp.
g. Môi trường toàn cầu :
Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá, không có một quốc gia, doanh
nghiệp nào lại không có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nền kinh tế thế
giới, Những mối quan hệ này đang hàng ngày hàng giờ phát triển mạnh mẽ, đa
dạng, phức tạp và tác động lên doanh nghiệp.Vì vậy sẽ là khuyết điểm, nếu phân
tích môi trường vĩ mô của một doanh nghiệp mà lại chỉ giới hạn ở phân tích môi
Bài Tập Cá Nhân
Môn : Quản Trị Chiến Lược
SVTH : Võ Thị Thu Oanh _ Lớp K13KKT3
Trang
8
Môn : Quản Trị Chiến Lược
SVTH : Võ Thị Thu Oanh _ Lớp K13KKT3
Trang
9
+ Trung gian phân phối: các tổ chức hay cá nhân mua sản phẩm với mục đích
bán lại để kiếm lời.
+ Cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp phi lợi nhuận:những tổ chức mua
sản phẩm để sử dụng trong cơ quan công quyền hoặc chuyển giao cho những
người cần đến nó với mục đích xã hội.
+ Khách hàng quốc tế: những người mua ở nước ngoài,bao gồm người tiêu
dùng, nhà sản xuất, người mua bán trung gian và các tổ chức chính phủ.
c. Nhà cung cấp:
Nhà cung cấp là những cá nhân hoặc tổ chức cung cấp các nguồn lực cần
thiết cho hoạt động của doanh nghiệp.Nhà cung cấp có thể tạo cơ hội cho doanh
nghiệp khi giảm giá bán, tăng chất lượng sản phẩm, tăng chất lượng các dịch vụ
kèm theo, ngược lại có thể gây ra các nguy cơ cho doanh nghiệp khi tăng giá bán,
giảm chất lượng sản phẩm…
Nhà cung cấp bao gồm những người cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh
nghiệp như: những nhà cung ứng trang thiết bị, vật tư, cung ứng tài chính hay các
nguồn lao động.Những lợi thế của nhà cung cấp:
– Có ít nhà cung cấp
– Sự khác biệt của sản phẩm.
– Chi phí thay đổi nhà cung cấp cao.
– Khó có khả năng kết hợp dọc ngược chiều về phía sau để tự cung cấp các
yếu tố đầu vào.
– Nhà cung cấp có khả năng tự chủ cao…
d. Đối thủ tiềm ẩn:
Đối thủ cạnh tranh tiềm năng là những đối thủ cạnh tranh có thể sẽ tham gia
thị trường của ngành trong tương lai hình thành những đối thủ cạnh tranh
lợi nhuận giảm,kinh doanh có lãi.
4. Sự cần thiết khách quan phải thực hiện Quản trị chiến lược:
Một là, chiến lược kinh doanh phải đạt được mục tiêu tăng thế lực của doanh
nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh. Vì chiến lược kinh doanh chỉ thật sự cần thiết
khi có sự cạnh tranh trên thị trường. Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần
chiến lược kinh doanh. Muốn đạt được yêu cầu này khi xây dựng chiến lược phải
triệt để khai thác lợi thế so sánh của doanh nghiệp mình, tập trung các biện pháp
tận dụng thế mạnh chớ không dùng quá nhiều sức lực cho việc khắc phục các điểm
yếu tới mức không đầu tư gì thêm cho các điểm mạnh.
Hai là, Nhiều công ty Việt Nam, nhất là những công ty nhỏ nhưng phát triển
nhanh, thường bị cuốn vào vòng xoáy của công việc phát sinh hàng ngày - những
công việc liên quan đến sản xuất hoặc mua hàng, tìm kiếm khách hàng, bán hàng,
Bài Tập Cá Nhân
Môn : Quản Trị Chiến Lược
SVTH : Võ Thị Thu Oanh _ Lớp K13KKT3
Trang
11
giao hàng, thu tiền, quản lý hàng tồn, công nợ… Hầu hết những việc này được giải
quyết theo yêu cầu phát sinh, xảy ra đến đâu, giải quyết đến đó, chứ không hề
được hoạch định một cách bài bản, quản lý một cách có hệ thống hoặc đánh giá
hiệu quả một cách khoa học. Vì vậy, chiến lược kinh doanh đảm bảo an tòan kinh
doanh cho doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh chứa đựng trong lòng nó yếu tố
mạo hiểm mà các doanh nghiệp phải đương đầu. Do vậy sự an toàn trong kinh
doanh nhiều khi là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Để đạt được yêu cầu
này chiến lược kinh doanh phải có vùng an toàn, trong đó khả năng rủi ro có thể
xảy ra nhưng chỉ là thấp nhất, phải luôn đề phòng chiến lược được ăn cả ngã về
không, do chưa hiểu kỹ luận thuyết kinh doanh mạo hiểm.
Ba là, Mục tiêu tổ chức được xác định trên cơ sở các phân tích rất cẩn trọng và
khoa học về tình hình thị trường, khách hàng, xu thế tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh,
con dấu riêng, trực thuộc Bộ công nghiệp.
Công ty được chính thức thành lập theo quyết định số 216/CN/CLĐ ngày
24/12/1993 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp nhẹ. Đăng ký kinh doanh số 106286 do
trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội cấp ngày 7/4/1993. Ngày 12/4/1997 Công ty
đã được Bộ thương mại cấp giấy phép xuất nhập khẩu số1011001.
1.2 Tên địa chỉ của Công ty.
Tên Công ty: Công ty bánh kẹo Hải Hà
Tên giao dịch: Hai Ha Confectionery Company
Viết tắt: HAIHACO
Công ty nhà nước
Kinh doanh các sản phẩm về bánh kẹo và thực phẩm
Trụ sở: Số 25 đường Trương Định Hà Nội
1.3. Đặc điểm về sản phẩm
Hiện tại công ty đang cung ứng ra thị trường bánh kẹo khoảng 140 chủng loại
sản phẩm bánh kẹo khác nhau, với những nhãn hiệu, bao bì, đặc tính riêng:
+ Nếu căn cứ vào đặc tính của sản phẩm có thể chia sản phẩm của công ty
thành 3 chủng loại:
- Chủng loại bánh gồm 2 mặt hàng: Bánh ngọt và bánh mặn
- Chủng loại kẹo bao gồm 3 mặt hàng: Kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo dẻo
Chủng loại bột gia vị gồm: Loại thông thường và loại cao cấp (mặt hàng này
chủ yếu sản xuất dùng để khuyến mại)
+ Căn cứ vào chất lượng và giá trị sản phẩm:
- Sản phẩm chất lượng cao: Bánh kem xốp phủ Sôcôla, kem xốp thỏi, bánh
dạ lan hương, kẹo Jelly, keọ Caramen, kẹo Chew...
- Sản phẩm có chất lượng trung bình: Một số kẹo cứng, kẹo mềm, bánh
Biscuit...