BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC NINH
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ KHAI THÁC TINH DẦU VÀ CÁC
CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC TỪ QUẢ MÁC MẬT
(CLAUSENA EXCAVATA)
NGÀNH: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.TS. BÙI QUANG THUẬT
2.TS. CUNG THỊ TỐ QUỲNH
HÀ NỘI-2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan trước Hội đồng chấm luận văn cao học, các nghiên cứu
và kết quả đạt được trong đề tài này là hoàn toàn trung thực. Do chính tôi tiến
hành nghiên cứu. Các số liệu, kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu
khác được tham khảo đã có trích dẫn tài liệu tham khảo đầy đủ.
Hà Nội, tháng 10 năm 2010
Người viết cam đoan
Nguyễn Đức Ninh
Trang
1
Bảng 1.1. Phân bố các loài thuộc chi Clausena bắt gặp ở VN và trên thế giới
4
2
Bảng 1.2. Các thành phần chính trong tinh dầu từ hạt mác mật Benin
9
3
Bảng 1.3. Các thành phần chính trong tinh dầu chiết xuất từ hạt Mác
Mật ở Cameroon
10
4
Bảng 1.4. Các thành phần chính trong tinh dầu từ lá mác mật tại
Zimbabwe
11
5
12-13
10
Bảng 3.1: Hàm lượng các thành phần chính trong nguyên liệu mác mật
65
11
Bảng 3.2. Xác định các thành phần cơ lý và hàm lượng tinh dầu trong
các thành phần của quả mác mật
66
12
Bảng 3.3. Kết quả thu nhận tinh dầu và các hoạt chất sinh học từ quả
mác mật theo các phương pháp khác nhau
67
STT
13
14
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của thời gian lưu trữ nguyên liệu đến hàm lượng
tinh dầu trong nguyên liệu
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của nhiệt độ nước ngưng đến quá trình chưng cất
tinh dầu mác mật
74
19
Bảng 3.10. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chưng cất đến
quá trình chưng cất tinh dầu mác mật
75
20
Bảng 3.11 . Khoảng biến đổi của các yếu tố ảnh hưởng
76
21
Bảng 3.12. Giá trị của các yếu tố cố định
76
22
Bảng 3.13. Ma trận qui hoạch thực nghiệm
77
83
28
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của số lần trích ly đến quá trình tinh chế hoạt
chất sinh học
84
29
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của tỉ lệ sản phẩm thô/dung môi đến quá trình
tinh chế hoạt chất sinh học
84
30
Bảng 3.21. Kết quả phân tích và đánh giá chất lượng sản phẩm tinh dầu
mác mật
86
31
Bảng 3.22. Các thành phần hóa học của tinh dầu quả mác mật
87
39
5
Hình 1.5. Thiết bị phân ly
40
6
Hình 2.1. Quả mác mật
47
7
Hình 2.2: Thiết bị cô quay Buchi B-480
49
8
Hình 2.3: Bộ chưng cất tinh dầu
49
9
Hình 2.4. Phương pháp 1: Thu nhận tinh dầu và các hoạt chất sinh học
từ quả mác mật bằng phương pháp kết hợp chưng cất + trích ly
14
Hình 3.4. Ảnh hưởng của tốc độ chưng cất đến hiệu suất thu nhận tinh
dầu mác mật
73
15
Hình 3.5. Ảnh hưởng của tốc độ chưng cất đến hiệu suất thu nhận tinh
dầu mác mật
74
16
Hình 3.6. Ảnh hưởng của thời gian chưng cất đến hiệu suất thu nhận
tinh dầu
75
17
Hình 3.7. Biểu đồ bề mặt đáp ứng giữa hiệu suất thu nhận tinh dầu quả
mác mật với tỷ lệ nguyên liệu/ thể tích thiết bị và thời gian chưng cất
79
1.1. GIỚI THIỆU VỀ MÁC MẬT
3
1.1.1. Giới thiệu chung
3
1.1.2. Đặc tính thực vật, sinh thái và trồng trọt của cây mác mật
5
1.1.3. Thu hoạch và bảo quản nguyên liệu
7
1.1.4. Thành phần hoá học của mác mật
8
1.2. GIỚI THIỆU VỀ TINH DẦU VÀ CÁC CHẤT CÓ HOẠT TÍNH
SINH HỌC TỪ QUẢ MÁC MẬT
10
1.2.1. Tinh dầu mác mật
10
1.2.2. Hoạt chất sinh học trong quả mác mật
2.1. ĐỐI TƯỢNG, HOÁ CHẤT VÀ THIẾT BỊ
38
2.1.1. Đối tượng
38
2.1.2. Hoá chất
38
2.1.3. Thiết bị và dụng cụ
2.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Nghiên cứu đánh giá chất lượng nguyên liệu
39
41
41
2.2.2. Nghiên cứu lựa chọn phương pháp khai thác tinh dầu và các hoạt
chất sinh học từ quả mác mật
47
2.2.3. Nghiên cứu chế độ xử lý nguyên liệu trước khi khai thác tinh dầu
và các hoạt chất sinh học
56
3.2. NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC TINH
DẦU VÀ CÁC HOẠT CHẤT SINH HỌC TỪ QUẢ MÁC MẬT
57
3.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ KHAI THÁC TINH DẦU
TỪ QUẢ MÁC MẬT
58
3.3.1. Nghiên cứu chế độ xử lý nguyên liệu trước khi chưng cất
58
3.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ đến quá trình
chưng cất
60
3.3.3. Tối ưu hoá quá trình khai thác tinh dầu từ quả mác mật bằng quy
hoạch thực nghiệm
67
3.4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ KHAI THÁC VÀ TINH
CHẾ CÁC CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC
72
PHỤ LỤC
95
MỞ ĐẦU
Tinh dầu và các loại cây chứa tinh dầu là sản vật tự nhiên đã được loài người biết
đến từ rất lâu. Ngay từ thời thượng cổ, người dân thường khai thác và sử dụng các loại
cây có tinh dầu ở dạng phơi khô. Thời kỳ trung cổ khoảng thế kỷ thứ 15 người ta biết
dùng các loại rễ cây có tinh dầu để thờ cúng. Từ thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 17, tinh
dầu đã được sử dụng để làm thơm cho tóc và da mặt, dùng chữa bệnh và dùng trong đời
sống hàng ngày của con người. Từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, tinh dầu được dùng nhiều để
làm mỹ phẩm, làm thuốc và dùng trong công nghiệp với phạm vi rộng hơn.
Từ thế kỷ 20 đến nay, cùng với sự tiến bộ của nhân loại và sự phát triển của khoa
học kỹ thuật, ngành công nghiệp sản xuất tinh dầu đã dần phát triển, tinh dầu trở thành
một sản phẩm không thể thiếu trong đời sống con người và được ứng dụng rộng rãi
trong các ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, ….
Trong những năm gần đây, trên thế giới người dân có xu hướng thích sử dụng
những sản phẩm thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên, không
độc hại nhằm hạn chế tối đa việc đưa hoá chất vào cơ thể. Do vậy, những loại cây cho
tinh dầu quí, có tính ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống đã được
các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu khai thác và chế biến nhằm nâng cao giá trị sử
dụng của chúng.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, cây
cối tươi tốt quanh năm, thảm thực vật rất đa dạng và phong phú. Trong số hơn 550 loại
cây có chứa tinh dầu ở nước ta thì mác mật là một trong những cây có giá trị và là một
thứ gia vị quan trọng, không thể thiếu trong nhiều món ăn truyền thống của nhân dân
vùng núi phía Bắc nước ta. Trong y học mác mật là một dược liệu quý báu, là vị thuốc
trong y học cổ truyền của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước Châu Á. Hơn
nữa, các công bố khoa học về công dụng mới của mác mật như: chữa ung thư, chống
- Nghiên cứu công nghệ khai thác và tinh chế các chất có hoạt tính sinh học từ
quả mác mật.
- Phân tích và đánh giá chất lượng sản phẩm của đề tài.
Nguyễn Đức Ninh
2
Luận văn thạc sỹ khoa học
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1. GIỚI THIỆU VỀ MÁC MẬT
1.1.1. Giới thiệu chung
Mác mật có tên khoa học là Clausena excavata Burm.f. thuộc họ cam quýt
(Rutaceae), chi Clausena (chi hồng bì). Chi Clausena là chi nhỏ thuộc họ Cam. Trên
thế giới chi Clausena có khoảng 50 loài, phân bố rộng ở các nước Đông Nam Á như
Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia và
Philippin. Ở Việt Nam, mác mật còn có tên gọi là Châm châu, Nhâm hôi, Gổi, Hồng bì
dại - được mọc chủ yếu từ Bắc vào Nam (Lạng sơn, Mai châu, Ninh bình, Tây
nguyên,…). Thường gặp trên các đồi cây bụi, nương rẫy cũ và cũng thường được trồng
trong vườn các gia đình miền núi. Nó thích hợp với khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới và
sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao tại các vùng có độ cao từ 200 - 600 m so
với mặt biển, nhiệt độ không khí bình quân năm từ 20 - 25oC, nhiệt độ cao nhất 3537oC, lượng mưa trung bình 1000 - 1900mm/năm [4, 9, 14].
Mác mật có vị thơm ngon đặc trưng, được con người sử dụng để chế biến các
món ăn truyền thống như lợn quay, gà quay, vịt quay, thịt kho tầu,…. Tất cả các bộ
phận của cây đều có thể sử dụng được. Ngoài ra, mác mật còn được xem như 1 loại
thuốc dùng trong y dược. Theo kinh nghiệm dân gian Việt Nam, cây mác mật được
xem như là một loại thuốc đắng và chát dùng khi ăn uống kém tiêu, đau bụng, còn
3.
C. dimidiana Tanaka.
Mơ-rây
4.
C. indica (Dalz.) Oliv.
Hồng bì dại
5.
6.
7
C. harmandiana (Pierre) Pierre
ex Guillaum
Giối harmand
C. heptaphylla (DC) Steud.
Giối bảy lá
C. excavata Burm F
Mắc mật
8
C. laevis Drake.
9.
C. lasnium (Lour.) Skeels.
Hồng bì
Việt Nam, Trung Quốc
Thành phần hoá học chủ yếu của mác mật rất đa dạng và phong phú, theo thống
kê đến năm 2005 đã có trên 100 chất được phân lập từ hầu hết các bộ phận của cây,
trong đó đến 75 chất mới, chủ yếu là carbazol alcaloid, coumarin; ngoài ra còn có
limonoid, flavonoid và lactam [2].
Về thành phần dinh dưỡng, trong lá và quả có hàm lượng các nguyên tố vi
lượng và đa lượng khá cao, Trong đó, lá có hàm lượng protein, sắt, mangan, can xi cao
hơn quả và hạt. Quả mác mật rất giàu hàm lượng vitamin C [9].
Nguyễn Đức Ninh
4
Luận văn thạc sỹ khoa học
Trước đây, con người thường sử dụng mác mật ở dạng tươi hoặc phơi khô. Tuy
nhiên, các sản phẩm này mới chỉ dừng lại ở dạng sơ khai. Ngày nay, các nhà khoa học
đã tiến hành chưng cất để thu được tinh dầu và các chất có hoạt tính sinh học có giá trị
cao, được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm, y học, dược phẩm, mỹ
phẩm,…Thành phần của tinh dầu mác mật từ lá và vỏ quả có sự khác nhau cơ bản về
hàm lượng một số thành phần chính nên mùi thơm của quả khác với mùi thơm của lá.
Trong tinh dầu lá mác mật có 11 thành phần chất, trong đó, có 2 thành phần chính là
myristicin (40,37-56,04%) và P-cymen-8-ol (18,58-22.45%). Trong tinh dầu của vỏ
quả có 9 thành phần chất, trong đó chủ yếu là beta-myrcen (70%) [9].
1.1.2. Đặc tính thực vật, sinh thái và trồng trọt của cây mác mật
Mác mật là cây thân gỗ nhỏ, bao giờ cũng xanh, cao từ 1-7m, cành non có màu
xanh nhạt, có lông rải rác về sau nhẵn, vỏ thân màu xám đen, có những nốt sần. Vỏ
thân, cành, lá, hoa, quả có tích dầu thơm. Lá chét lông chim lẻ mọc so le, mang 15-21
đều, quả to, tròn, nhiều hạt, ăn ngọt và sai đều hàng năm.
Nên trồng vào vụ xuân, mỗi ha trồng từ 400 - 450 cây, khoảng cách trồng 4,5m
x 5 m hoặc 5 m x 5 m. Có thể trồng hỗn giao với trám trắng hoặc cam, quýt, …. Hố
trồng cây có kích thước 60 cm x 60 cm x 50 cm. Bón lót 5 kg hỗn hợp phân chuồng
với phân lân đã trộn ủ kỹ theo tỷ lệ 1/10. Phân và đất tầng mặt được trộn đều 2/3 hố,
bên trên lấp lớp đất mặt nhô cao hình mai rùa. Hố được bón phân và lấp hố trước khi
trồng 3-4 tuần. Khi hố trồng đủ ẩm, thời tiết râm mát thì đem trồng. Dùng cuốc moi
một hố nhỏ ở tâm hố, bọc nylon bọc bầu cây con, cho cây xuống hố và vun đất nhỏ
xung quanh, lèn chặt, tạo một gờ xung quanh để cây giữ nước khi mưa, tủ gốc giữ ẩm
bằng rơm, rạ, cỏ khô. Cắm 3 cọc cây cố định và buộc giữ cây chống gió, bão. Trồng
xong, nếu gặp khô hạn phải tưới nước cho cây trồng hơn 1 tháng để cây có khả năng
phục hồi. Sau khi trồng 3 - 4 tháng, cây bén rễ cần bón phân urê pha loãng 1 - 2%
khoảng 1 - 2 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng để cây chóng phục hồi. Làm cỏ xung
quanh gốc theo đường kính tán cây để chống cạnh tranh dinh dưỡng và phòng trừ sâu
bệnh. Hàng năm, sau khi thu quả cần bón 1 lượng phân từ 10 - 50 kg phân chuồng hoại
trộn 5% vôi bột, bón xung quanh gốc bằng cách đào rãnh sâu 20 - 30 cm theo chiều tán
Nguyễn Đức Ninh
6
Luận văn thạc sỹ khoa học
cây. Bón phân xong lấp đất, tạo gờ, tưới đủ nước để cây hấp thụ tốt. Cây mác mật ít bị
sâu bệnh, hàng năm chú ý làm cỏ ít nhất 2 lần/năm, quét vôi vào thân để chống sâu
đục thân [38, 39].
1.1.3. Thu hoạch và bảo quản nguyên liệu
Khi sử dụng một loại nguyên liệu nào đó, ta cần phải chú ý tới độ tươi của
nguyên liệu, vì phần lớn nguyên liệu càng tươi thì càng có nhiều chất thơm hơn. Nếu
Sau khi thu hái, quả mác mật được dàn đều thành từng lớp mỏng và bảo quản
trong kho, kho chứa phải đảm bảo thoáng gió, nhiệt đọ và độ ẩm thích hợp. Trong quy
mô sản xuất nhỏ, tốt nhất nên dùng bảo quản lạnh sẽ giúp nguyên liệu tươi lâu, đồng
thời ức chế được các sự phát triển của các vi sinh vật và sâu bệnh, giúp giữ được phẩm
chất nguyên liệu. Tuy nhiên, các cách bảo quản trên chỉ có thể giúp chúng ta giữ cho
nguyên liệu khỏi hư hỏng trong một khoảng thời gian ngắn. Chính vì vậy, để có thể có
nguyên liệu dùng khi đã hết mùa thu hái, nhiều cơ sở sơ chế nguyên liệu tại vùng
nguyên liệu đã ra đời để phục vụ nhu cầu ngày càng nhiều của thị trường về mác mật,
áp dụng nhiều phương pháp bảo quản như: phơi khô, sấy khô, ngâm hoặc ướp
muối,….
1.1.4. Thành phần hoá học của mác mật
Mác mật là cây có giá trị cao. Tất cả các bộ phận của cây đều dùng được. Tuy
nhiên, các sản phẩm từ cây mác mật mới dừng lại ở mức sơ khai. Ngày nay, các nhà
khoa học trên thế giới đã tiến hành chưng cất để thu được tinh dầu và các chất có hoạt
tính sinh học từ cây mác mật, được ứng dụng rộng rãi trong y học, dược phẩm, công
nghệ thực phẩm, ….
Qua các nghiên cứu về mác mật của một số nhà khoa học cho biết hai loại tinh
dầu lấy từ quả và lá cây mác mật có sự khác biệt về mùi vị và thành phần, tỷ lệ các
hợp chất bay hơi. Nhìn chung, tinh dầu quả mác mật có mùi vị thơm ngọt và có giá trị
hơn tinh dầu lá mác mật [24].
Cây mác mật có thành phần hóa học hết sức đa dạng và phong phú, theo thống
kê đến nay đã có trên 100 chất được phân lập từ hầu hết các bộ phận của cây, trong đó
có hơn 80 chất mới, chủ yếu là các hợp chất carbazol alkaloid và cumarin. Đặc biệt
trong những năm gần đây, rất nhiều chất mới có cấu trúc thú vị và hoạt tính sinh học
cao đã được phát hiện ở cây này. Ở Việt Nam, Trịnh Thị Thuỷ, Trần Văn Sung và
cộng sự đã phân lập và xác định được cấu trúc 17 hợp chất cumarin trong đó có 13
chất mới, một carbazol alcaloid và 3 hợp chất limonoid. Nghiên cứu tinh dầu từ cây
mác mật tại Cúc Phương (Ninh Bình), người ta đã xác định được khoảng 50 hợp chất.
Trong đó chủ yếu là β-phelandren (9,2%); β-caryophyllen (25,3%); germacren B
FID
Hợp chất
FID
(Z)-tagetenon
15.2%
β-caryophyllen
7.4%
(E )-tagetenon
14.8%
∆3-caren
3.9%
(E )-nerolidol
10.3%
Α-humulen
3.5%
10
Luận văn thạc sỹ khoa học
Ngoài ra, thành phần chất thơm của tinh dầu mác mật còn phụ thuộc rất nhiều
vào loại giống, khí hậu đất đai, kỹ thuật chăm bón. Điều này được thể hiện trong các
bảng 1.4, 1.5, 1.6, 1.7, 1.8 và 1.9 với các loại tinh dầu mác mật trong và ngoài nước.
Bảng 1.4. Các thành phần chính trong tinh dầu từ lá mác mật tại Zimbabwe [11]
Hợp chất
Hàm lượng
Hợp chất
Hàm lượng
Sabine
33 %
Germacren B
5.5%
Germacren D
17%
19.2%
Germacren D
9.2%
Bảng 1.6. Các thành phần chính trong tinh dầu từ hạt mác mật Benin [11]
Hợp chất
Hàm lượng
Hợp chất
Hàm lượng
Metyl chavicol
40.8%
(E)-Tagetenon
16.3%
Myrcen
22.2%
Limonen
Α-Humulen
3.5%
Mycren
7.4%
Nguyễn Đức Ninh
11
Luận văn thạc sỹ khoa học
Bảng 1.8. Thành phần hóa học của tinh dầu lá cây mác mật ở vườn quốc gia Cúc
Phương, Ninh Bình [26]
Hợp chất
FID
Hợp chất
FID
Hợp chất
FID
α- Terpineol
0.1
β-Pinen
0.2
Allo-Aromadendren
1.1
(Z)-3-Hexenyl
Butanoat
0.2
Mycren
0.5
β-Cubeben
2.0
Cuminandehit
0.2
α-Phellandren
1.2
(Z)-β-Ocimen
0.3
α-Cedren
0.2
β-Elemen
5.8
(E)-β-Ocimen
1.3
Nerolidol
4.7
Globulol
0.9
γ-Terpinen
0.1
0.3
Benzyn benzoat
2.5
Juniper Camphor
0.2
Bảng 1.9. Thành phần hóa học của tinh dầu lá mác mật được thu hái từ Nghệ An [2]
Hợp chất
3-Hexen-1-ol
β-Pinen
α-Terpinen
(Z)-β-Ocimen
FID
vết
vết
0.17
0.23
Hợp chất
α-Pinen
β-Myrcen
p-Cymen
Nonanal
FID
Hợp chất
Sabinen
α-Phellandren
β-Phellandren
(E)-4,8-Dimathyl1,3,7-Nonatrien
Chưa xác định
Methyl salisilat
FID
vết
0.76
2.25
0.16
Vết
Cis-3-Hexenyl
isovalerat
0.25
0.21
Vitispiran
Vết
Vết
0.1
ι-Cadiol
3-(2-aminophenyl)
isocoumarin
Benzyn benzoat
Chưa xác định
Phytol
1.07
Chưa xác định
Naphthalen,1,
2-dihydro1,1,1-trimethyl
Cis-3-hexanyl
caproat
α-Gurjumen
Aromadendren
đồng phân của
aromadendren
Eudesma4(14),11-dien
γ-Cadinen
Vết
0.66
1.25
Chưa xác định
3,4,-dimethyl-4hydroxynaphtaln1(4H)-on
Chưa xác định
a-Cadinen
Chưa xác định
Chưa xác định
Chưa xác định
0.21
0.96
2.39
Vết
1.50
1.32
1.64
0.14
0.67
Chưa xác định
0.3
0.32
Mintsulfiid
0.27
α-cadiol
Globulol
Chưa xác định
0.14
1.20
0.31
Từ bảng 1.8 cho thấy tinh dầu lá cây mác mật tại Cúc Phương – Ninh Bình có
khoảng 50 hợp chất. Trong đó chủ yếu là β-phellandren (9,2%), β-Caryophyllen
(25,3%), Germacren-B (11,8%), Spathulenol (7,0%), Elemen (5,8%), Humulen (4,3%).
Trong khi đó đối với loại tinh dầu lá cây mác mật tại Nghệ An có khoảng 60
cấu tử, chiếm 86,14% tổng hàm lượng tinh dầu đã được xác định (bảng 1.7). Thành
phần chính là β-Caryophyllen (28,64%), và Leden (12,05%). Hàm lượng các hợp chất
monoterpen hydrocacrbon khá thấp, khoảng 5,81 %. Các hợp chất sesquiterpen
Nguyễn Đức Ninh
13
Luận văn thạc sỹ khoa học
hydrocarbon chiếm hàm lượng lớn trong tinh dầu này. Các hợp chất chứa Oxy chiếm
khoảng 13,96 %.
Nhìn chung, qua các bảng trên có thể nhận rõ sự khác nhau về thành phần hóa
học cơ bản, hàm lượng các thành phần hóa học chính trong tinh dầu mác mật ở các
vùng khác nhau. Điều này dẫn đến mùi thơm và giá trị sử dụng, giá trị kinh tế của các
tinh dầu này cũng khác nhau. Chứng tỏ các loại giống, khí hậu và đất đai có ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng tinh dầu mác mật. Ở nước ta, mác mật được trồng ở rất nhiều
địa phương, vì vậy việc nghiên cứu tinh dầu loại cây này cần được tiến hành trên nhiều
vùng nguyên liệu đặc biệt là những vùng có sản lượng và diện tích trồng cây mác mật
cao như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang....
1.2.1.2. Một số hợp chất chính trong tinh dầu mác mật
β-Myrcene là một monoterpen tự nhiên có thể tìm thấy trong tinh dầu hoàng
lan, tinh dầu lá long não. Nó có hương thơm dễ chịu, được sử dụng rộng rãi trong
ngành công nghiệp nước hoa với vai trò là chất trung gian quan trọng cho việc chuẩn
bị mùi vị và hương thơm của các chất hóa học như: bạc hà, chanh,…
*α-Terpinolene
- Công thức phân tử: C10H16
- Danh pháp IUPAC: 1-methyl-4-(methylethylidene-1)-Cyclohexen
- Công thức cấu tạo:
α-Terpinolene là chất lỏng không màu. Theo một số tài liệu mùi của αTerpinolene tại nồng độ 1% được mô tả giống mùi gỗ tươi và vỏ chanh với sắc thái
nhẹ,dịu. Ngoài ra, mùi của α-Terpinolene còn được xếp vào loại mùi thảo mộc với độ
mạnh trung bình.
Người ta có thể tìm thấy α-Terpinolene trong vỏ quýt và tinh dầu rau mùi.
Nguyễn Đức Ninh
15
Luận văn thạc sỹ khoa học