Xây dựng một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường cao đẳng nghề kinh tế kỹ thuật vinatex - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

PHAN THỊ THANH LAN

XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO
TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT
VINATEX

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ TRẦN ÁNH

HÀ NỘI - 2010


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ:

PHAN THỊ THANH LAN

HÀ NỘI - 2010



là thời cơ và cũng là thách thức lớn, mở ra cơ hội giao lưu và phát triển. Các
quốc gia kém phát triển có thể tranh thủ thời cơ, bằng chiến lược đi tắt đón
đầu để tiếp cận, tiếp nhận khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến và học tập
những kinh nghiệm quản lý, điều hành của các quốc gia phát triển. Các nước
phát triển mở rộng thị trường, thị phần và giảm chi phí sản xuất bằng việc sử
dụng nhân công bản địa với giá rẻ, tăng dịch vụ bán và chuyển giao công
nghệ, chuyên gia. Trong bối cảnh đó, để trở thành cường quốc chính là đào
tạo được, sở hữu được lực lượng lao động có trình độ cao, thích ứng nhanh
với sự thay đổi của khoa học công nghệ và nền kinh tế toàn cầu hướng vào thị
trường.
Việt Nam là một đất nước đang phát triển ở trình độ thấp. Đảng và nhà
nước ta ý thức được tầm quan trọng của phát triển giáo dục và khoa học công
nghệ. Bước vào thế kỷ mới, do bước tiến nhảy vọt của khoa học - công nghệ,
đặc biệt là công nghệ thông tin, thế giới đi vào nền văn minh trí tuệ với sự
hình thành và phát triển của kinh tế tri thức. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế vừa mở ra thời cơ vừa đặt các nước đang phát triển đứng trước những
thách thức lớn của quá trình cạnh tranh mang tính toàn cầu. Trong bối cảnh
chung đó, các nước đều coi trọng nguồn lực con người và coi giáo dục là quốc
sách hàng đầu, điều này đã được khẳng định tại điều 35 Hiến pháp (1992) và
đầu tư cho giáo dục được coi như đầu tư cho sự phát triển bền vững. Chủ tịch
Học viên: Phan Thị Thanh Lan

1

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội


2

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo hiện nay tại Trường
CĐN kinh tế - kỹ thuật Vinatex.
Xây dựng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng Trường CĐN
kinh tế - kỹ thuật Vinatex.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nâng cao chất lượng đào tạo là một đề tài rộng lớn và phức tạp mang
tính thời đại. Do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, luận văn
này chỉ tập trung vào việc phân tích đánh giá chất lượng đào tạo và đề ra một
số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Trường CĐN kinh tế kỹ thuật Vinatex.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
5. Ý nghĩa của đề tài
Đối với nhà trường có ý nghĩa thiết thực trong việc giám sát, đánh giá,
đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo.
Giúp cho các phòng ban chức năng liên quan có những căn cứ và

em được hoàn thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!

Học viên: Phan Thị Thanh Lan

4

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
1.1. Các khái niệm cơ bản về chất lượng và chất lượng dịch vụ.
1.1.1. Quan niệm về chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con
người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Và ngày nay
người ta hay nói nhiều đến việc nâng cao chất lượng, đây được xem là một
trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ một cơ sở hoạt động nào.
Vậy “chất lượng” là gì ? Thuật ngữ “chất lượng” có nhiều quan điểm khác
nhau trong cách tiếp cận và đã có nhiều định nghĩa khác nhau, từ định nghĩa
truyền thống đến các định nghĩa mang tính chiến lược, có cái nhìn toàn diện
hơn về chất lượng.
Theo từ điển tiếng Việt chất lượng là: “cái làm lên phẩm chất, giá trị
của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với
sự vật kia”.Như vậy chất lượng là: “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ
bản sự vật (sự việc)…làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự

Theo GS Philip B.Gosby người Mỹ: “Chất lượng là là sự phù hợp với
những yêu cầu hay đặc tính nhất định”. [6, tr21]
Theo J.Juran người Mỹ: “Chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu thị trường
với chi phí thấp nhất”. [6, tr21]
Theo tổ chức kiểm tra chất lượng của Châu Âu "Chất lượng sản phẩm
là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thoả mãn những nhu cầu của
người sử dụng” [6, tr21]
Theo tiêu chẩn của Pháp NFX 50-109 “Chất lượng là tiềm năng của
một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng”. [4, tr257]
Theo ISO 8402(1994): “Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một
thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thoả mãn nhu cầu đã xác định hoặc
tiềm ẩn”. [4, tr257]
Chất lượng phải dựa trên căn bản là đào tạo, huấn luyện và giáo dục
thường xuyên. Chính vì vậy trách nhiệm về chất lượng phụ thuộc 80 - 85%
vào ban lãnh đạo.
Trên đây là một định nghĩa tiêu biểu về chất lượng. Mỗi định nghĩa
được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng và
do đó mỗi một quan niệm đều có mặt mạnh mặt yếu riêng. Mặc dù vậy tổ
chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO đưa ra định nghĩa trong ISO 5841:1994:
“Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của một thực thể, tạo
cho nó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm
ẩn”. Đây là một định nghĩa khá hợp lý, hoàn chỉnh và thông dụng nhất hiện
nay.
1.1.2. Chất lượng dịch vụ và mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ

Học viên: Phan Thị Thanh Lan

6

Lớp: Cao học QTKD Nam Định



Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

Thông tin
truyền

Nhu cầu cá
nhân

Kinh
nghiệm

Kỳ vọng về dịch vụ của
khách hàng
Khoảng
trống 5
Cảm nhận chất lượng dịch
vụ

Khách hàng
Nhà Marketing

Cung cấp dịch vụ( bao gồm các mối liên
hệ trước và sau thực hiện)

Khoảng trống 1
Khoảng

Học viên: Phan Thị Thanh Lan

8

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

Nhân viên cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng dịch vụ mà
khách hàng cảm nhận được. Quá trính thực hiện và chuyển giao dịch vụ của
nhân viên không đồng đều và khó có thể tiêu chuẩn hóa được.
- Khoảng trống giữa thực tế cung ứng dịch vụ và thông tin đối ngoại
với khách hàng: Phương tiện quảng cáo và các hình thức truyền thông khác
của doanh nghiệp về dịch vụ sẽ ảnh hưởng tới sự mong đợi của khách hàng.
Nếu sự mong đợi giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận chất lượng dịch
vụ của khách hàng thì doanh nghiệp không nên hứa hẹn nhiều bằng giao tiếp
mà phải phân phối nó trên thực tế.
- Khoảng trống giữa dịch vụ nhận thức và dịch vụ kỳ vọng: Khoảng
trống này phát sinh khi khách hàng lượng định kết quả thực hiện của doanh
nghiệp theo một cách khác và nhận thức sai chất lượng dịch vụ. Vấn đề mấu
chốt bảo đảm chất lượng dịch vụ là những giá trị khách hàng cảm nhận được
trong hoạt động chuyển giao phải đạt được hoặc vượt quá những gì mà khách
hàng chờ mong.
Như vậy, sự đánh giá chất lượng dịch vụ cao hay thấp phụ thuộc vào
khách hàng đã nhận được dịch vụ thực tế như thế nào và trong bối cảnh họ
mong đợi những gì.
1.1.3. Những khái niệm liên quan đến chất lượng giáo dục.

hay không. Thanh tra chất lượng thường không quan tâm tới sứ mạng, mục
tiêu của các cơ sở đào tạo, hoặc những mục tiêu này đạt được như thế nào mà
duy nhất chỉ quan tâm tới quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược tại một thời
điểm nhất định.
1.1.3.4. Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation)
Kiểm định chất lượng có thể được áp dụng cho một cơ sở đào tạo, hoặc
chỉ cho chương trình đào tạo của môn học. Kiểm định đảm bảo với cộng đồng
cũng như với các tổ chức hữu quan rằng một cơ sở đào tạo có những mục tiêu
đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp, có được những điều kiện để đạt
được những mục tiêu đó và khả năng phát triển bền vững.
1.1.3.5. Kiểm toán chất lượng (Quality Audit)
Là hình thức kiểm tra mang tính độc lập và có hệ thống xác định xem
các hoạt động đảm bảo chất lượng và kết quả của các hoạt động đó có tuân
thủ theo đúng kế hoạch đã lập ra từ trước hay không và liệu kế hoạch này có
được thực hiện đúng hiệu quả và phù hợp để đạt được mục tiêu đã đề ra hay
không.
Kiểm toán chất lượng đào tạo không quan tâm tới giá trị của các mục
tiêu của cơ sở đào tạo mà quan tâm tới việc điều hành các hoạt động của các
Học viên: Phan Thị Thanh Lan

10

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

cơ sở đó có ảnh hưởng đến chất lượng. Nó cũng không trực tiếp quan tâm đến


Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

Ngày nay vẫn còn những cách hiểu khác nhau về khái niệm chất lượng
đào tạo, do từ “chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan niệm, chất
lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối.
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho
những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những
tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được. Nó được dùng với định nghĩa
chất lượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu.
Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ “chất lượng” dùng để chỉ
một số thuộc tính mà người ta “gán cho” sản phẩm, đồ vật. Theo quan điểm
này thì một vật, một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng
khi nó đáp ứng được các mong muốn mà người sản xuất định ra, và các yêu
cầu người tiêu thụ đòi hỏi. Từ đó nhận rằng chất lượng tương đối có hai khía
cạnh:
Thứ nhất: Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản
xuất đề ra. Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”.
Thức hai: Chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi
của người dùng, khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên
ngoài”.
Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, là chất lượng
người học được hình thành từ các hoạt động giáo dục theo những mục tiêu
định trước. Sự phù hợp được thể hiện thông qua mục tiêu giáo dục, phù hợp
với nhu cầu người học, với gia đình cộng đồng và xã hội.

rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài. Sẽ khó giải thích một trường
hợp có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng lại có những hoạt động đào tạo
hạn chế, hoặc một trường có nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho
sinh viên một chương trình hiệu quả. [1, tr23]
1.1.4.2. Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”
Một quan điểm khác về chất lượng trong đào tạo lại cho rằng “đầu ra”
của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào”. “Đầu ra”
chính là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công
việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo
của trường đó.
Có thể hiểu là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện ở các
phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương
ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo. Với yêu cầu đáp ứng nhu
cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không
chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường mà còn phải tính
Học viên: Phan Thị Thanh Lan

13

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

đến mức độ thích ứng và phù hợp của người tốt nghiệp với thị trường lao
động như tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường, khả năng làm chủ và vị trí của
người đó trong doanh nghiệp. [1, tr24]
Với quan niệm này, hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

thống nhất để đánh giá chất lượng “Đầu vào” và “Đầu ra” để tìm ra được hiệu
số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó. Hơn nữa trong các trường
hệ thống giáo dục lại rất đa dạng không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất
cho tất cả các trường, các bậc đào tạo khác nhau. [1, tr24]
1.1.4.5. Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, chủ
yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ
giảng viên trong từng trường trong quá trình thẩm định, công nhận chất lượng
đào tạo của trường. Điều này có ý nghĩa là trường nào có nhiều giảng viên có
học vị, học hàm cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất
lượng cao.
Hạn chế của quan niệm này, cho dù năng lực học thuật có thể được
đánh giá một cách khách quan, thì cũng có thể đánh giá những cuộc cạnh
tranh của các trường để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi
trường không thuần học thuật. Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực
chất xám của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu có xu hướng chuyên ngành
hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng. [1, tr25]
1.1.4.6. Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”
Quan điểm này về chất lượng trong đào tạo được xem trong quá trình
bên trong của một trường và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định.
Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài
chính hợp lý không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem xét các trường có
thu thập đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định
về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không. Quan niệm này cho rằng, nếu một
cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác,

cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được chất lượng bên
ngoài, đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm đạt
được mục tiêu đó, đạt chất lượng bên trong.
Nhìn một cách thực tiễn, sản phẩm cuối cùng và cũng là sản phẩm quan
trọng nhất của quá trình giáo dục là nhân cách, phẩm chất, năng lực nghề
nghiệp của người học. Nhưng không phải chỉ có một loại sản phẩm đó. Có
sản phẩm cuối cùng thì trước đó cũng phải có các sản phẩm bộ phận, trung
gian cùng nằm trong chuỗi quá trình đào tạo. Nhờ chất lượng của hệ thống
các sản phẩm bộ phận ấy đóng góp và tác động mà hình thành nên chất lượng
của sản phẩm cuối cùng là nhân cách của người học. Nói như vậy bởi khi xem
xét việc đào tạo là một quá trình tổng thể thì quá trình ấy phải bao gồm rất

Học viên: Phan Thị Thanh Lan

16

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

nhiều hoạt động. Mỗi hoạt động, một quá trình tạo ra một kết quả và cho ta
một sản phẩm.
Như vậy, khi nói đến chất lượng giáo dục của một nhà trường, ta vừa
nói đến chất lượng của người học, đồng thời cũng phải tính đến chất lượng
của hệ thống các sản phẩm trung gian cấu thành lên sản phẩm cuối cùng đó.
Ta vẫn khẳng định chất lượng của cơ sở vật chất, của trang thiết bị, của đội
ngũ những người thầy, của phương pháp dạy học, chất lượng của mỗi bài học,

Đai học Bách khoa Hà Nội

Phần 2: Áp dụng chủ yếu cho các tổ chức khác nhau trong đó có các cơ sở
giáo dục.
Phần 3: Áp dụng cho các tổ chức chuyên kiểm tra hay thực nghiệm sản phẩm.
Phần 4: Hướng dẫn sử dụng cho ba phần trên.
Bản chất của mô hình BS 5750/ISO 9000 là một hệ thống các văn bản
quyết định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của
quá trình sản xuất đảm bảo cho sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp với mẫu
mã quy cách các thông số kỹ thuất quy định trước đó với mục tiêu là tạo một
đầu ra phù hợp với mục đích.
BS 5750/ISO 900 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt đới với những người
sử dụng đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực và thời gian, mọi
người phải nắm được các yêu cầu đặt ra và tuân thủ các quy trình một cách
nghiêm túc.
BS 5750/ISO 9000 còn xa lạ với giáo dục. Do có nguồn gốc từ lĩnh vực
sản xuất nên ngôn ngữ dùng trong bộ tiêu chuẩn này không phù hợp.
Một trong những quan điểm cơ sở của BS 5750/ISO 9000 là hệ thống
chất lượng phải có khả năng tạo ra các sản phẩm có chất lượng nhất quán,
điều này khó có thể áp dụng trong giáo dục bởi lẽ khó có thể gọi người học
hay người thụ hưởng giáo dục là sản phẩm, hơn nữa cho dù có định nghĩa thế
nào về sản phẩm của giáo dục đi chăng nữa thì cũng khó có thể tạo ra được
nhiều sản phẩm có chất lượng như nhau. Tất cả các giáo viên đều thấy rõ rằng
không có hai lớp học nào hoàn toàn giống nhau bởi các cá nhân của hai lớp đó
là khác nhau, các mối tác động qua lại giữa thầy và trò, giữa trò với nhau,
động lực, thái độ, năng lực của họ cũng rất khác khau. [1, tr47]
1.2.2. Mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM - total Quality
Management)
Mô hình quản lý chất lượng tổng thể - một mô hình có những xuất xứ
từ thương mại và công nghiệp nhưng tỏ ra phù hợp hơn với giáo dục. Đặc

Để giải đáp vấn đề này nhiều học giả cho rằng không nên xem giáo dục
như một quá trình sản xuất, mà tốt hơn là coi giáo dục như một công nghệ
cung ứng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ:
Sự khác nhau cơ bản giữa sản xuất ra sản phẩm và cung ứng dịch vụ là
ở chỗ, cung ứng dịch vụ bao gồm cả các yếu tố chủ quan. Sản phẩm bị xem là
phế phẩm là do lỗi của nguyên liệu hay thiết kế sản phẩm, máy móc hư
hỏng.v.v… Còn dịch vụ có chất lượng thấp thường do thái độ, hành vi của
người cung ứng dịch vụ. Hơn nữa, cung ứng dịch vụ bao gồm giao tiếp trực
Học viên: Phan Thị Thanh Lan

19

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

tiếp giữa người cung ứng và người thụ hưởng. Vì thế chất lượng của dịch vụ
được quyết định bởi mối quan hệ qua lại giữa người cung ứng và người tiếp
nhận. Do vậy để phân tích khái niệm chất lượng quan điểm coi giáo dục là
ngành cung ứng dịch vụ đúng đắn hơn là coi nó như một quy trình sản xuất.
Hơn nữa đây là ngành cung ứng một loại dịch vụ đặc biệt, bởi lẽ ngành dịch
vụ này thường mang tính phúc lợi xã hội, phi lợi nhuận. Mức độ “phúc hợp”
trong ngành cung ứng loại dịch vụ đặc biệt này tuỳ thuộc và trình độ phát
triển KT-XH chế độ chính trị.
Hai là: Khách hàng trong giáo dục là ai? Edward Sallis trong quản lý
chất lượng tổng thể trong giáo dục (1993) đưa ra mô hình sau:

Thực chất của quản lý chất lượng tổng thể là:
Thứ nhất: Cải tiến liên tục, không ngừng và có thể đạt được do quần
chúng và thông qua quần chúng. Sự cải tiến liên tục này được thể hiện trong
Học viên: Phan Thị Thanh Lan

20

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Luận văn tốt nghiệp cao học

Đai học Bách khoa Hà Nội

kế hoạch chiến lược của một trường học bằng các chu kỳ cải tiến, nâng cao
dần theo vòng xoáy trôn ốc từ lợi ích trước mắt đến lợi ích lâu dài, từ trình độ
xuất phát ở một điểm nhất định tới trình độ cao hơn.
Thứ 2: Cải tiến từng bước, quản lý chất lượng tổng thể được thực hiện
bằng một loạt dự án quy mô nhỏ có mức độ tăng dần. Về tổng thể quản lý
chất lượng tổng thể có quy mô rộng, bao quát toàn bộ hoạt động của mỗi
trường học, song việc thực hiện nhiệm vụ đó trong thực tế lại có quy mô hẹp,
khả thi, thiết thực và có mức độ tăng dần. Sự can thiệp mạnh không phải là
phương sách tốt để tạo sự chuyển biến lớn trong quản lý chất lượng tổng thể.
Thứ 3: Hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng, chìa khoá của sự
thành công trong quản lý chất lượng tổng thể là tạo ra sự gắn bó hữu cơ giữa
cung và cầu, giữa các bộ phận trong trường với nhau và với xã hội.
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường, vai trò của các cán bộ quản lý
cấp trường là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo chức, sinh viên,
chứ không phải là lãnh đạo kiểm tra. Trong quản lý chất lượng tổng thể mô
hình cấp bậc trong hệ thống tổ chức quản lý nhà trường phải là mô hình đảo

lý vẫn giữ vai trò quyết định của quản lý chất lượng tổng thể. Đảo ngược thứ
bậc nhằm nhấn mạnh mối tương quan trong quá trình đào tạo hướng sinh viên
như nhân vật trung tâm. [1, tr49]
1.2.3. Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model)
Mô hình này đưa ra 5 yếu tố đánh giá như sau:
(1) Đầu vào: Sinh viên, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào
tạo, quy chế, luật định, tài chính.v..v.
(2) Quá trình đào tạo: Phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo.v..v.
(3) Kết quả đào tạo: Mức độ hoàn thành khoá học, năng lực đạt được và khả
năng thích ứng của sinh viên.
(4) Đầu ra: Sinh viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp
ứng nhu cầu kinh tế và xã hội.
(5) Kết quả: Kết quả của Giáo dụcvà ảnh hưởng của nó đối với xã hội.
Dựa vào 5 yếu tố đánh giá trên, các học giả đã đưa ra 5 khái niệm về chất
lượng giáo dục như sau:
(1) Chất lượng đầu vào: Trình độ đầu và thoả mãn các tiêu chí, mục tiêu đề ra.
(2) Chất lượng quá trình đào tạo: Mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy
và học và các quá trình đào tạo khác.
(3) Chất lượng đầu ra: Mức độ đạt được của đầu ra (sinh viên tốt nghiệp, kết
quả nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác) so với Bộ tiêu chí hoặc so với
các mục tiêu đã định sẵn.
(4) Chất lượng sản phẩm: Mức độ đạt và yêu cầu công tác của các sinh viên
tốt nghiệp qua đánh giá của chính bản thân sinh viên, của cha mẹ, của các cơ
quan công tác và xã hội.
Học viên: Phan Thị Thanh Lan

22

Lớp: Cao học QTKD Nam Định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status