BÀI TIỂU LUẬN CÁC NỀN VĂN MINH TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 43

ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
KHOA DU LỊCH
Ngành: Quản Trị Dịch Vụ Du lịch Và Lữ Hành

TIỂU LUẬN
Học Phần: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới
Đề tài:
QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ CỦA ĐẠO PHẬT Ở ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

GVHD: TS. NGUYỄN THÀNH ĐẠO
NHÓM 5

Tháng 4 năm 2017


ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
KHOA DU LỊCH
Ngành: Quản Trị Dịch Vụ Du lịch Và Lữ Hành

TIỂU LUẬN
Học Phần: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới
Đề tài:
QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ CỦA ĐẠO PHẬT Ở ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

GVHD: TS. NGUYỄN THÀNH ĐẠO
NHÓM 5

Tháng 4 năm 2017
2



Trong quá trình làm bài nhóm em đã sử dụng những phương pháp s ưu t ầm,
tìm kiếm tài liệu, phân tích, chọn lọc và hệ thống các tài liệu đã tìm.

4


I.

Vị trí địa lý, hoàn cảnh ra đơi, lịch sư hinh thành.

1. Vị trí địa lý.

Về địa lý, phía Bắc của Ấn Độ là dãy Himalaya cao l ớn và dài tạo nên
một hàng rào cô lập các vùng bình nguyên của xứ này với các vùng
còn lại. Để liên lạc với bên ngoài thì chỉ có con đường núi xuyên qua
Afghanistan. Nền văn hóa chính ngự trị thời bấy giờ là văn hóa Vệ Đà
(Veda). Các bộ lạc du mục người Aryan đã mở mang và xâm chi ếm
các vùng lãnh thổ Tây Bắc Ấn và lan rộng ra h ầu hết bán đ ảo Ấn Đ ộ
khoảng 1000 năm trước công nguyên
Địa lý Ấn Độ đa dạng, bao gồm nhiều miền khí hậu khác bi ệt từ
những dãy núi phủ tuyết cho đến các sa mạc, đồng bằng, rừng mưa
nhiệt đới, đồi, và cao nguyên. Ấn Độ bao gồm một phần l ớn của ti ểu
lục địa Ấn Độ nằm trên mảng kiến tạo Ấn Độ, phần phía Bắc của
mảng Ấn-Úc. Ấn Độ có bờ biển dài 7.516 km, phần lớn Ấn Độ n ằm ở
bán đảo Nam A vươn ra Ấn Độ Dương. Ấn Độ giáp Biển A Rập v ề
phía Tây Nam và giáp Vịnh Bengal về phía Đông và Đông Nam. Ấn Độ
có diện tích 3.287.263 km², xếp thứ 7 trên thế giới về di ện tích,
trong đó phần đất liền chiếm 90,44%, diện tích mặt nước chi ếm
9,56%. Ấn Độ có biên giới trên đất liền giáp với Bangladesh(4.053
km), Bhutan (605 km), Myanma (1.463 km), Cộng hòa Nhân dân


Đạo Phật ra đời vào cuối thế k ỉ th ứ VI tr ước Công nguyên ở Ấn Độ
trên vùng đất thuộc Neepan ngày nay. Đây là thời kì phát triển cực
thịnh của đạo Bà la môn cả về mặt tôn giáo lần vị trí chính trị xã hội.
Dân cư trong xã hội Ấn Độ cổ đại lúc này chia thành 4 đẳng cấp là Bà
la môn (Brahmanas), Sắt đế lị (Ksastryas), Vệ xá (Vaisyas) và Th ủ đà
la (Soudras).
Bà la môn là đẳng cấp có địa vị cao nhất, bao g ồm nhũng ng ười ho ạt
động tôn giáo chuyên nghiệp.
Sắt đế lị là đẳng cấp của vua quan và tầng lớp võ si.
Vệ xá là đ ẳng cấp của những người bình dân làm nghề nh ư chăn
nuôi, làm ruộng, buôn bán, thợ thủ công,…
6


Thủ đà la là đ ẳng cấp thấp nhất, chi ếm đa số, là con cháu c ủa
những bộ lạc bại trận, những người bị phá sản, không có tư liệu sản
suất.
Sự ra đ ời đạo Phật còn gắn liền với tên tuổi người sáng lập là thái
tử C ổ đàm T ất Đạt Đa (Siddharta Gautama), sinh năm 563 tr ước
Công nguyên, con vua Tinh Phạm (Sutdodana) nước Ca ty la vệ
(Capilavaxtu) ở chân núi Hymalaya – mi ền đất bao g ồm m ột ph ần
miền Nam nước Neepan và một phần của Ấn Độ ngày nay.
3. Lịch sư hinh thành.

Từ khi đức Phật đản sinh đến thành đạo
Thân thế của Đức Phật như thế nào?
Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất-Đạt-Đa,
dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát-đế-l ợi,
con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da.

-Vào lúc nửa đêm, Thái tử vào phòng từ giã vợ đẹp con ngoan.
-Ngài cùng Xa Nặc hướng về phía Đông vượt thành xuất gia.
- Vượt dòng sông A-Nô-Ma, Ngài tự cạo bỏ râu tóc và khoác áo Sa
môn.
- Ngài xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch.
Từ khi đức Phật thành đạo đến Niết Bàn
Quá trình năm năm tầm đạo của đức Phật?
- Tại Ty Xá Ly, Thái tử tham học với Đạo sư A-La-La. Ngài đã ch ứng
thiền Vô Sở Hữu Xứ.
- Tại Vương Xá Thành, Thái tử tham học với Đạo sư U ất-Đầu-LamPhất. Ngài đã chứng quả vị Phi Tưởng phi Phi Tưởng Xứ.
Còn sáu năm tu khổ hạnh?
Có hai phương pháp khổ hạnh:
- Phương pháp hướng nội: Nghiến răng, chặn lưỡi trên nóc họng,
kiềm hãm ý niệm bất thiện bằng ý niệm thiện
- Phương pháp hướng ngoại: Chỉ đứng và ngồi chứ không nằm. Khi
cần nằm thì nằm trên gai nhọn.
Mùa đông: Mặc toàn giẻ rách, vải lượm tử thi, rơm cỏ, da súc v ật
khô,…

8


Mùa hè: Ban ngày sống dưới ánh nắng mặt trời, ban đêm s ống trong
rừng rậm…

Đức Phật tu khổ hạnh
/>tu-dao16.jpg
Phương pháp sống lúc này của đức Phật?
Nhận thấy hành khổ hạnh không kết quả, Ngài đã thọ dụng bát
cháo sữa của cô bé Sujata, trở lại con đường trung đạo để tu hành.

Người cúng dường sau cùng cho đức Phật là ai?
Ông Thuần Đà là người sau cùng dâng cúng dường Đức Phật một bát
cháo nấm.
Bài Pháp đầu tiên mà đức Phật thuyết giảng là bài nào?
Bài Pháp đầu tiên của Đức Phật là Tứ Diệu Đế, thuyết cho năm
người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Tứ Diệu Đế: nhận định
đời là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt
khổ.
Bài pháp cuối cùng?
Bài thuyết Pháp cuối cùng của đức Phật là bài Kinh Di Giáo.
Năm thời Kinh đức Phật thuyết giảng là gì?
- Kinh Hoa Nghiêm
- Kinh A Hàm
- Kinh Phương Đẳng
- Kinh Bát Nhã
- Kinh Pháp Hoa
10


Sự hóa độ của đức Phật bao gồm những gì?
- Hóa độ theo thứ lớp căn cơ
- Hóa độ tùy phương tiện
- Hóa độ theo tinh thần bình đẳng
Hình thành Tam Bảo được hình thành khi nào?
Tam Bảo được hình thành từ khi Đức Phật thuyết pháp và thâu
nhận năm vị đệ tử đầu tiên tại Vườn Nai. Lúc bấy giờ có Phật, Pháp
và Tăng.

Đức Phật nhập Niết Bàn khi nào?
Khi phước duyên hoàn mãn, Đức Phật đã 80 tuổi. Ngài quyết định

nhưng không phải là mất đi mà là trở l ại với ngũ uân. Ngay các yếu
tố của ngũ uân cũng luôn biến hóa theo luật nhân qu ả không ng ừng
nên vạn vật,con người cứ biến hóa vụt mất, vụt còn, không có sự vật
riêng biệt tồn tại mãi mãi do đó không có cái tôi thường định (An Atman).
Và cũng từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Đức Phật
đã đưa ra thuyết "Tứ di ệu đế" và "Thập nhị nhân duyên" đ ể gi ải
thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và ki ếp nghiệp báo, luân h ồi.
Đây là triết lý nhân sinh chủ yếu của đạo Phật.
"Tứ di ệu đế" là bốn chân lý chắc chắn, hiển nhiên, hoàn toàn cao
hơn hết, gồm:
+ Khổ đ ế : Ph ật giáo coi " đời là bể kh ổ". Có trăm ngàn n ỗi khổ,
nhưng có 8 nỗi khổ trầm luân, bất tận mà bất cứ ai cũng ph ải gánh
chịu là: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ bi ệt ly (Yêu thương mà phải chialìa),
Oán tăng hội (Oán ghét nhau mà phải sống với nhau), sở c ầu bất đắc
(Cầu mong mà khôngđược), ngũ thụ u ân (năm yếu tố vô th ường
nung nấu làm nên sự đau khổ).
+ Tập đế: Giải thích những nguyên nhân gây nên đau khổ cho chúng
sinh. Đó là12 nguyên nhân (Thập nhị nhân duyên): 1. Vô minh; 2.
Hành; 3. Thức; 4. Danh sắc; 5. Lục nhập; 6.Xúc; 7. Th ụ; 8. ái; 9. Th ủ;
10. Hữu; 11. Sinh và 12. Lão, tử. Trong 12 nhân duyên ấy thì Vô
minhtức là ngu tối, không sáng suốt là nguyên nhân đầu tiên.
12


+ Diệt đế : Là l ần theo Thập nhị nhân duyên, tìm ra c ội nguồn của
nỗi khổ, tiêu diệt nó và đưachúng sinh thoát khỏi nghiệp ch ướng,
luân hồi, đạt tới cảnh trí Niết bàn.
+Đạo đế : Ch ỉ ra con đ ường diệt khổ đ ạt tới giải thoát. Đó là con
đường "tu đạo", hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc (bát
chính đạo): Chính kiến; Chính tư duy; Chính ng ữ; Chính nghi ệp;
t9vmClmJ1eoZXiwCLcB/s640/truyen%2BPHAT%2B25.jpg
Khi đức Phật còn tại thế, ngài đã đi nhiều nước trong xứ Ấn Độ đ ể
giáo hóa chúng sanh, trước tiên ngài độ cho các ông Kiều Tr ần Như,
sau đó Phật độ cho ba anh em ông Ca Diếplà Ưu Lâu Tần La Ca Di ếp,
Na Đề Ca Diếp, Già Da Ca Diếpcùng 1000 đồ đệ của họ, vua Tần Bà
Xa La nước Ma Kiệt Đà xây Trúc Lâm Tịnh Xá ở ngoài V ương Xá
thành và Linh Thứu Tịnh Xá ở núi Ky Xà Quật để Phật giảng đạo, nơi
đây ngài đã độ cho ông Đại Ca Diếp, Xá Lợi Phất và ông Mục Ki ền
Liên với 250 đồ đệ của hai ông Xá Lợi Phất và Mục Ki ền Liên. Lúc
nầy đã có trên 1250 vị đệ tử xuất gia trong Giáo đoàn của Phật.
Sau đức Phật đi tới Vương Xá thành, nước Kiều Tất La, có Thái Tử Ky
Đà và Trưởng Giả Tu Đạt Đa cùng xây Ky viêntịnh xá cũng còn g ọi là
Ky Đà Cấp Cô Độc viên để cúng dường Phật làm nơi thuyết pháp,
còn nhiều nước khác cũng xây Tịnh xá cho Phật thuyết pháp, nhưng
hai nơi ngài thường An cư Kiết hạ và thuyết pháp đó là Trúc Lâm
Tịnh xávà Ky Viên Tịnh xá.
Có 10 đệ tử trứ danh của Phật gọi là Thập đại đệ tử, đó là Xá L ợi
Phất bậc đại trí tuệ, Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất, Đại Ca Di ếp
15


Benarès và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo
pháp của Ngài.
16


/>Rồi Đức Phật lên đường đi Benarès. Tại đây, ở vườn Nai gần
Benarès, Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho 5 người bạn đồng
tu ngày trước của mình. Sự kiện đáng ghi nhớ này diễn ra vào một
ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau Đức Phật thành đạo. Sau n ầy, nó
được biểu trưng một cái bánh xe, có 2 con nai nâng đỡ hai bên.
Hai con nai biểu trưng cho địa điểm thuyết pháp, V ườn Nai, cũng g ọi
là Lộc Uyển. Bánh xe – Dhammacakka – tức là bánh xe Pháp, sách
Hán

dịch



Pháp

luân.

Cả

đầu

đề

bài


đều tụ tập về đây xin xuất gia theo Đức Phật, và sau một th ời gian,
tất cả đều chứng quả A la hán.
Đoàn tăng si thuyết pháp đầu tiên
Bấy giờ, Đức Phật có sáu mươi đệ tử đều là A la hán. Ngày quy ết
định phái họ đi khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Trước khi h ọ lên
đường, Đức Phật đã động viên họ với lời lẽ như sau:
“Hỡi các Ty kheo, Ta đã được giải thoát khỏi mọi ràng bu ộc th ế gian
và xuất gian”.
“Các ngươi cũng vậy, hỡi các Ty kheo, cũng đã được giải thoát kh ỏi
mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian”.
“Hãy đi! Hỡi các Ty kheo, vì lợi lạc của s ố đông, vì h ạnh phúc c ủa s ố
đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì h ạnh phúc c ủa
loài Trời và loài người. Các người hãy đi, nhưng đừng đi hai người
18


cùng một hướng. Hãy truyền bá đạo pháp, hỡi các Ty kheo. Đạo pháp
toàn thiện, ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ
và lời văn, hãy tuyên bố về cuộc sống Thánh, toàn thi ện và thanh
tịnh…” (Mahavagga 19).

/>huyet-phap224.jpg
Ty kheo, dịch âm từ chữ Pali “Bhikkhu”, nghia là “Người kh ất th ực”.
Đức Phật, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, với 60 người học trò đã
chứng quả A la hán, tổ chức thành một tăng đoàn những tu si kh ất
thực, không có nhà ở cố định, không có của cải vật chất nào khác
ngoài tấm áo vàng che thân và bình bát để xin ăn… Thuy ết gi ảng v ề
đạo lý cứu khổ và cuộc sống thánh hạnh, tự mình nêu gương sáng về
cuộc sống Thánh hạnh và giải thoát, đó là sự nghi ệp, là n ội dung
công tác chủ yếu của Tăng đoàn đầu tiên, do Đức Phật đích thân

Gần Uruvela, có ba tu si khổ hạnh là ba anh em ông Kassapa: Uruvela
Kassapa, Nadi Kassapa, và Gaya Kassapa. Người anh l ớn, Uruvela
Kassapa có 500 đệ tử, hai người em có 300 và 200 đệ tử. Ba anh em
ông Kassapa đều là những đạo si có danh vọng lớn ở xứ Magadha,
đặc biệt là người anh cả Uruvela Kassapa, ông này th ờ thần l ửa, và
tự cho mình đã chứng quả A la hán. Đức Phật lại gặp ông đầu tiên và
xin được phép ngủ qua đêm tại phòng riêng của ông này, ở đây có
thờ một con rắn thiêng rất độc. Ông Kassapa tưởng rằng Đức Phật
thế nào cũng bị con rắn thiêng cắn chết, nào ngờ chính con r ắn b ị
Đức Phật hàng phục bằng sức thần thông của Ngài. Cả ba anh em với
số học trò đông đảo đều xin xuất gia theo Đức Phật.
Sau đó, cả đoàn người cùng đi với Đức Phật đến m ột n ơi gọi là Gaya
Sisa, không cách xa Uruvela mấy. Ơ đây, Phật gi ảng kinh
Adittapariyaya Sutta. Nghe xong kinh này, tất cả các Ty kheo có m ặt
đều chứng quả A la hán.

/>
21


Đức Phật về thăm hoàng cung

/>%20Duc%20Phat%20%20phapamthuongchuyen/PhapAmTC_full8.jpg.html
Thân phụ Đức Phật, vua Suddhodana bây giờ đã già y ếu, nghe tin
Đức Phật thành đạo và đang thuyết pháp ở thành Rajagaha (V ương
Xá), vua rất nóng lòng được gặp lại con. Vua liền phái sứ giả đến
Rajagaha (Vương xá), thỉnh cầu Đức Phật trở về thăm c ố đô và gia
đình. Nhưng các sứ giả của Vua, đến Vương xá, đuợc nghe Phật
thuyết pháp, đều xin xuất gia làm Ty kheo và chứng quả A la hán.
Vị sứ giả thứ mười là Kaludayi, vốn là người bạn thân cũ của Đức

Vì trong lòng được an tịnh”. (Tương Ưng I, 273).

23


IV.

Quá trinh truyền bá của đạo Phật sau khi Niết bàn.

Sau một năm ngày Phật tích, Đại hội tăng đoàn lần I được tri ệu tập
với 500 tì kheo, kéo dài 7 tháng. Chủ to ạ đ ại hội là Maha Ca di ếp. A
nan đa đọc (kể) lại lời Phật nói về giáo lí. Ưu bà ly đọc (kể) lại lời
Phật nói về gi ới luật tu hành. Maha Ca diếp đọc (kể) về nh ững l ời
luận giải của Phật về giáo lí và giới luật.
Đại hội tăng đoàn lần thứ II đ ược triệu tập vào kho ảng thế k ỉ IV
trước Công nguyên (100 năm sau cuộc kết tập l ần thứ I) v ới khoảng
700 tì kheo, kéo dài 8 tháng. Nội dung chủ y ếu là gi ải quyết nh ững
bất đồng về thực hành giới luật và luận giải kinh điển. Hình thành 2
phái Trưởng lão bộ (Tiểu thừa) gồm các tì kheo cao tuổi chiếm thiểu
số và Đ ại chúng bộ (Đ ại thừa), gồm những người trẻ tu ổi chi ếm đa
số.
Đại hội tăng đoàn lần III tiến hành vào giữa thế k ỉ III tr ước Công
nguyên do Vua A – dục (A sô ka) triệu tập với 1000 tì kheo, kéo dài 9
tháng. Kết quả đ ược ghi thành văn bản. Nhà vua bảo hộ Ph ật giáo,
các tăng đoàn phát triển nhanh.
Đại hội tăng đoàn lần IV (tiến hành vào khoảng 125-150 sau Công
nguyên) dưới triều Vua Ca nhị s ắc ca (Kaniska) có 500 tì kheo đ ến
dự. Kết quả l ần kết tập này là hoàn chỉnh kinh đi ển Phật giáo, g ồm
Kinh, Luật, Luận (gọi là Tam tạng kinh điển).
Phật giáo phát triển thịnh hành khắp Ấn Độ thời A sô ka cho đến thời

Ngược lại, Phật giáo Tiểu thừa cho rằng chỉ khi não thoát kh ỏi vòng
luân hồi sinh tử, con người mới có thể đ ạt đến được cảnh giới Niết
bàn.
Phật giáo Đại thừa chủ tr ương “tự đ ộ t ự tha, t ự giác giác tha”, nghia
là vừa tự giác ng ộ, tự gi ải thoát, vừa giác ngộ, giải thoát cho chúng
sinh. Trong khi đó, Phật giáo Tiểu thừa cho rằng chỉ có “t ự đ ộ, tự
tha”. Chính vì quan niệm này mà có tên gọi là “Đại th ừa” (con đ ường
cứu vớt rộng, hay cỗ xe l ớn, chở đ ược nhiều người) và “Tiểu thừa”
(con đường cứu vớt hẹp, chở được ít người).

25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status