class="bi x0 y0 w1 h1"
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các đô thị
khôngvấn đề riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành vấn
đềtoàn cầu.Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới
trong thời gian qua đã có những tác động lớn đến môi trường, và đã làm cho môi
trường sống của con người bị thay đổi và ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Những năm
gần đây nhân loại đã phải quan tâm nhiều đến vấn đề ô nhiễm môi trường không
khí đó là: sự biến đổi của khí hậu – nóng lên toàn cầu, sự suy giảm tầng ôzôn và
mưa axít.
Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với
môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề. Ô nhiễm môi trường không khí
không chỉ tác động xấu đối với sức khỏe con người(đặc biệt là gây ra các bệnh
đường hô hấp)mà còn ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu như: hiệu
ứng nhà kính, mưa axít và suy giảm tầng ôzôn,… Công nghiệp hóa càng mạnh, đô
thị hóa càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng
nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn. Ở
Việt Nam, tại các khu công nghiệp, các trục đường giao thông lớn đều bị ô nhiễm
với các cấp độ khác nhau, nồng độ các chất ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩn cho
phép. Và sự gia tăng dân số, gia tăng đột biến của các phương tiện giao trong khi
cơ sở hạ tầng còn thấp làm cho tình hình ô nhiễm trở nên trầm trọng.
Xuất phát từ vấn đề trên, nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Ô nhiễm môi trường
không khí” để nghiên cứu và qua đó em đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu
ô nhiễm môi trường không khí.
NỘI DUNG
!"#$#$%
1.1.1. Khái niệm
-Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các chất lạ có mặt trong không khí hay là sự
biến đổi quan trọng trong thành phần khí quyển gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe
con người, sinh vật và các hệ sinh thái khác.
ở các đô thị, đặc biệt là thường xảy ra ở các đô thị lớn.
Ở nước ta trong thời gian khoảng ¼ thế kỷ qua, quá trình đô thị hóa tương đối
nhanh do quá trình với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.2.2. Phương tiện giao thông, cơ giới tăng nhanh,và nhu cầu tiêu thụ ngày
càng lớn.
Đất nước phát triển đồng nghĩa với việc đời sống nhân dân được nâng cao, dẫn
đến các vấn đề lớn : phương tiện cơ giới tăng nhanh, nhu cầu tiêu thụ càng lớn,….
Theo nguồn: Chi cục BVMT Tp. Hồ Chí Minh, 2007 cho biết, ở Tp. Hồ Chí Minh
có tới 98% hộ dân thành phố có sở hữu xe máy.
Và tại Hà Nội, xe máy chiếm hơn 87% tổng lưu lượng xe hoạt động trong nội
thành Hà Nội ( Theo nguồn: Sở TNMT&NĐ Hà Nội, 2006).
Phương tiện giao thong và cơ giới tăng nhanh dẫn đến nhu cầu tiêu thụ xăng
dầu trong nước ngày càng tăng. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân
phát thải các chất độc hại như CO, hơi xăng dầu (HmCn, VOC), SO2, chì, …
1.2.3.Hoạt động giao thông vận tải.
,-%./01234
Những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở các khu đô thị bao gồm hoạt động
giao thông vận tải, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và hoạt động xây
dựng. Theo đánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông
gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%.
Xét các nguồn thải gây ra ô nhiễm không khí trên phạm vi toàn quốc (bao gồm
cả khu vực đô thị và khu vực khác), theo ước tính cho thấy, hoạt động giao
thông vận tải đóng góp tới gần 85% lượng khí CO, 95% lượng VOCs(Volatile
Organic Compounds). Trong khi đó, các hoạt động công nghiệp là nguồn đóng góp
khoảng 70% khí SO2. Đối với NO2, hoạt động giao thông và hoạt động sản xuất
công nghiệp có tỷ lệ đóng góp xấp xỉ nhau .
1.2.4. Hoạt động xây dựng sửa chữa công trình cùng với đường sá mất vệ sinh
Nước ta đang diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh nên ở tất cả các đô thị đều có
nhiều công trường xây dựng đang hoạt động :xây dựng, sửa chữa nhà cửa,
đường xá, vận chuyển nguyên vật liệu,…. và phát sinh rất nhiều bụi, bao gồm cả
truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí,gây ô nhiễm cho môi trường
- Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và gió
thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt mang
theo bụi muối lan truyền vào không khí.
- Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát thải nhiều
chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí sunfua,
nitrit, các loại muối v.v Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí.
-Ô nhiễm không khí là một phần gây ra bởi các hạt bụi được hình thành bởi một
loạt các chất, chẳng hạn như phấn hoa, bụi và các chất hữu cơ khác.
&&#BC6>>)1
,F-$%4(G+(($B(##@
-Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt động công
nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phương tiện giao thông.
Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá trình sản xuất gây ra:
+ Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc khi đi qua các ống khói của các
nhà máy vào không khí.
+ Do sự bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và trên các
đường ống dẫn tải. Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể được hút và
thổi ra ngoài bằng hệ thống thông gió.
-Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: nhiệt điện; vật
liệu xây dựng; hoá chất và phân bón; dệt và giấy; luyện kim; thực phẩm; các xí
nghiệp cơ khí; Các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ; Giao thông vận tải; bên
cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.
-Tăng mức độ carbon dioxide trong khí quyển là một trong những nguyên nhân
chính của ô nhiễm không khí. Các nhà máy điện, khí thải của ô tô, máy bay và các
hoạt động khác của con người liên quan đến việc đốt xăng dầu và khí tự nhiên gây
ảnh hưởng đến việc ô nhiễm không khí.
-Các chlorofluorocarbons (CFCs), một lớp của các hóa chất tổng hợp được sử dụng
trong các chất làm lạnh và đẩy aerosol, đã gây ra lỗ hổng trên tầng ozone của Trái
đất. Việc sử dụng của hóa chất bị cấm có liên quan với sự gia tăng mức độ ô nhiễm
-Ðối với động vật, nhất là vật nuôi, thì fluor gây nhiều tai họa hơn cả. Chúng bị
nhiễm độc do hít trực tiếp và qua chuỗi thức ăn.
-Các chất gây ô nhiễm không khí có tính acid sẽ kết hợp với các giọt nước trong
đám mây làm cho nước có tính acid. Khi những giọt nước rơi xuống mặt đất sẽ gây
hại cho môi trường : giết chết cây cối, động vật, cá,….Mưa acid cũng làm thay đổi
tính chất của nước ở các sông, suối,…làm tổn hại đến những sinh vật sống dưới
nước.
5&H=8(1#!"
Hình 6:Các chất đặc trưng gây ô nhiễm không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe
con người :
3.2.1.Tác hại của bụi:
- Tiếp xúc với bụi trong thời gian dài có thể gây ảnh hưởng đến các cơ quan nội
tạng.
-Ảnh hưởng của bụi vào sức khỏe phụ thuộc vào tính chất, nồng độ và kích thước
hạt bụin
- Mức độ bụi trong bộ máy hô hấp phụ thuộc vào kích thước, hình dạng, mật độ hạt
bụi và cá nhân từng người.
M Bụi vào phổi gây kích thích cơ học, xơ hóa phổi dẫn đến các bệnh về hô hấp : ho
ra đờm, ho ra máu, khó thở,….
- Bụi đất đá không gây ra các phản ứng phụ: không có tính gây độc,…. Kích thước
lớn (bụi thô), nặng, ít có khả năng đi vào phế nang phổi, ít ảnh hưởng đến sức
khỏe.
- Bụi than: thành phần chủ yếu là hydrocacbon đa vòng (VD:3,4_benzenpyrene),
có độc tính cao, có khả năng gây ung thư, phần lớn bụi than có kích thước lớn hơn
5 micromet bị các dịch nhầy ở các tuyến phế quản và các lông giữ lại. Chỉ có các
hạt bụi nhỏ, có đường kính khoảng 5mm mới đi vào được phế nang.
3.2.2.Sulfur Điôxít (SO
2
)và Nitrogen Điôxít (NO
2
- Độc tính chung của SO2 thể hiện ở rối loạn chuyển hóa protein và đường,
thiếu vitamin B và C, ức chế enzim oxydaza.
- Giới hạn gây độc tính của SO2 là 20 – 30 mg/m3, giới hạn gây kích thích hô
hấp, ho là 50 mg/m3.
3.2.2.2. Nitrogen Điôxít (NO
2
):
-Nitrogen Điôxít (NO
2
): là chất khí màu nâu, được tạo ra bởi sự ôxy hóa Nitơ ở
nhiệt độ cao. NO
2
là một chất khí nguy hiểm, tác động mạnh đến cơ quan hô hấp
đặc biệt ở các nhóm mẫn cảm như trẻ em, người già, người mắc bệnh hen. –Nếu
tiếp xúc với NO
2
sẽ làm tổn thương niêm mạc phổi, tăng nguy cơ mắc các bệnh về
hô hấp, tổn thương các chức năng của phổi, mắt ,mũi , họng,….
3.2.3. Cacbon mônôxít (CO)
- Cacbon mônôxít (CO)là chất khí hình thành do ôxy hóa lưu huỳnh (S) khi đốt
cháy các nhiên liệu như than, dầu, sản phẩm của dầu, quặng sunfua,… SO
2
là chất
khí gây kích thích đường hô hấp mạnh, khi hít thở phải khí SO
2
thậm chí ở nồng độ
thấp có thể gây co thắt các cơ thẳng của phế quản. Nồng độ SO
2
lớn có thể gây
tăng tiết nhầy ở niêm mạc đường hô hấp trên và ở các nhánh khí phế quản. SO
do ngạt thở.
- Dấu hiệu nhiễm độc cấp tính: buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, mũi họng
khô và có mùi hôi, mắt có biểu hiện phù mi, viêm kết mạc nhãn cầu, tiết dịch mủ
và giảm thị lực.
- Thường xuyên tiếp xúc với H2S ở nồng độ dưới mức gây độc cấp tính có thể gây
nhiễm độc mãn tính. Các triệu chứng có thể là: suy nhược, rối loạn hệ thần kinh, hệ
tiêu hóa,mất ngủ, viêm phế quản mãn tính,…
3.2.6.Các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs)
-Các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs) gồm nhiều hóa chất hữu cơ trong đó quan
trọng nhất là benzen, toluene, xylene, VOCs có thể gây nhiễm độc cấp tính nếu
tiếp xúc ở liều cao, gây viêm đường hô hấp cấp, rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần
kinh, rối loạn huyết học, gây tổn thương gan – thận, gây kích da,…và là tác nhân
gây suy tủy, ung thư máu.
3.2.7.Chì (Pb):
Chì (Pb): khói xả từ động cơ của các phương tiện tham gia giao thông có chứa một
hàm lượng chì nhất định. Ngoài ra, chì có thể sinh ra từ các mỏ quặng, từ nhà máy
sản xuất pin, chất dẻo tổng hợp, sơn, hóa chất, Chì xâm nhập vào cơ thể qua
đường hô hấp, thức ăn, nước uống, qua da, qua sữa mẹ, Chì sẽ tích đọng trong
xương và hồng cầu gây rối loặn tủy xương, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp, tai
biến não, gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và ngoại biên, phá vỡ hồng cầu
gây thiếu máu, làm rối loạn chức năng thận. Phụ nữ có thai và trẻ em rất dễ bị tác
động của chì (gây sẩy thai hoặc tử vong ,làm giảm trí thông minh, ).
3.2.8.Khí Radon.
Hình 7Không khí ô nhiễm gây hại cho tim
-Khí Radon sinh ra do phân rã hạt nhân Urani trong tự nhiên, là loại khí nặng nên
thường tồn tại trong lớp không khí sát mặt đất. Trong tự nhiên, radon có trong đất
đá, xỉ than, bãi thải vật liệu xây dựng, trong bùn. Radon có thể bám qua các hạt bụi
nhỏ, xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp hoặc thấm qua da,qua các vết
thương hở gây nên bệnh ung thư phổi ,ung thư máu,….
- Tuyên truyền mọi người cùng nhau giữ gìn vệ sinh chung.
- Thực hiện đúng các luật giữ gìn môi trường.
V. MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN KHẮC PHỤC Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ.
QRS($#$%.T#@!U#@@9S(<S(
,V-W!U#@@9S(
Lọc sinh học là một biện pháp xử lý ô nhiễm tương đối mới, đây là một phương
pháp hấp dẫn để xử lý các chất khí có mùi hôi và các hợp chất bay hơi có nồng độ
thấp.
Hình dạng phổ biến của một hệ thống lọc sinh học giống như một cái hộp lớn,
một vài hệ thống có thể lớn bằng sân bóng rổ, một vài hệ thống có thể nhỏ độ một
yard khối (0,76 m3). Nguyên tắc chính của hệ thống xử lý là tạo điều kiện cho vi
khuẩn tiếp xúc với các chất ô nhiễm trong khí thải. Hệ thống lọc khí thải này là nơi
chứa các nguyên liệu lọc và nơi sinh sản cho các vi sinh vật. Trong hệ thống này,
các vi sinh vật sẽ tạo thành một màng sinh học, đây là mọt màng ẩm, mỏng bao
quanh các nguyên liệu lọc.
Trong quá trình lọc, khí thải được bơm chậm xuyên qua hệ thống lọc, các chất ô
nhiễm trong khí thải sẽ bị các nguyên liệu lọc hấp thụ. Các chất khí gây ô nhiễm sẽ
bị hấp phụ bởi màng sinh học, tại đây, các vi sinh vật sẽ phân hủy chúng để tạo nên
năng lượng và các sản phẩm phụ là CO
2
và H
2
O theo phương trình sau:
Chất hữu cơ gây ô nhiễm + O
2
à CO
2
+H
2
O + nhiệt + sinh khối.
thạch nam (heather), plastic và các phụ phẩm gỗ. Các nguyên liệu lọc nhằm cung
cấp diện tích bề mặt lớn để hấp thụ và hấp phụ các chất ô nhiễm. Ngoài ra nó còn
làm nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng cho các vi sinh vật. Một vài loại nguyên
liệu lọc không đáp ứng được về nhu cầu dưỡng chất cho vi sinh vật, do đó chúng ta
phải hiệu chỉnh bằng cách cho thêm vào các hợp chất đạm và phospho.
- Các nguyên liệu lọc thường có tuổi thọ từ 5-7 năm trước khi phải thay mới.
Q&ZE9%$%4.T#(##[1\93 8#]^0_+
Công nghệ Biofilter (lọc sinh học) là một biện pháp xử lý ô nhiễm khí thải có chi
phí đầu tư thấp, vận hành rẻ và thân thiện môi trường, nó phương pháp thích hợp
để xử lý các chất khí có mùi hôi và các hợp chất hữu cơ bay hơi có nồng độ thấp
như nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, tinh bột sắn,…
X4YB ,-
Hệ thống lọc sinh học cung cấp môi trường cho vi sinh vật phát triển và phân hủy
các chất khí có mùi hôi và các chất hữu cơ gây ô nhiễm trong khí thải. Hệ thống
lọc là một bể kín dựng vỏ dừa cho các vi sinh vật trú ẩn và hấp thụ hơi nước, giữ
chúng lại trong nguyên liệu lọc. Vỏ dừa có khả năng hấp thụ nước lớn, độ bền cao,
và ít làm suy giảm áp lực luồng khí đi ngang qua nó. Các đơn vị nguyên liệu lọc
này gọi là "khối sinh học" (Biocube) . Việc sử dụng nhiều lớp vỏ dừa lọc khí kiểu
này hạn chế được việc các nguyên liệu lọc bị dồn nén lại và việc các luồng khí
xuyên thành những đường thoát qua lớp nguyên liệu lọc. Hơn nữa, nó còn tạo sự
thuận lợi trong việc bảo trì hay thay mới nguyên liệu lọc. Nguyên tắc chính của hệ
thống xử lý là tạo điều kiện cho sinh khối tiếp xúc với các chất ô nhiễm trong khí
thải càng nhiều càng tốt. Vỏ dừa là nguyên liệu lọc và nơi sinh sản cho các vi sinh
vật. Trong hệ thống này, các vi sinh vật sẽ tạo thành một màng sinh học (biofilm),
đây là một màng mỏng và ẩm bao quanh các vỏ dừa. Trong quá trình lọc, khí thải
được bơm chậm xuyên qua hệ thống lọc, các chất ô nhiễm trong khí thải sẽ bị các
nguyên liệu lọc hấp thụ cơ chế của quá trình lọc sinh học bao gồm quá trình hấp
phụ, hấp thụ và phân hủy bởi các vi sinh vật. Các vi sinh vật trong màng sinh học
liên tục hấp thụ và biến dưỡng các chất ô nhiễm. Các chất khí gây ô nhiễm sẽ bị
hấp phụ bởi màng sinh học, tại đây, các vi sinh vật sẽ phân hủy chúng để tạo nên
-Thành phần hóa học và hàm lượng của chất ô nhiễm trong khí thải: Phân tích
thành phần hóa học và hàm lượng của nó trong khí thải cần thiết để xác định xem
biện pháp xử lý khí thải sinh học có thích hợp hay không. Các hệ thống lọc sinh
học hoạt động tốt khi các hợp chất ô nhiễm (không hoà tan trong nước) có nồng độ
thấp (<1000 ppm). Một số hợp chất khó phân hủy sinh học (như các hợp chất clo)
chimes diện tchs lọc sinh học lớn hơn.
-Thời gian lưu khí: Thời gian lưu khí càng dài sẽ cho hiệu suất xử lý càng cao,
song giá thành sản phẩm sẽ tăng cao. Tính toán chính xác nồng độ các chất gây ô
nhiễm, vận tốc khí thoát ra, là thước đo để thiết kế hệ thống xử lý khí thải bằng
công nghệ biofilter. Thông thường, thời gian lưu trú của các hệ thống lọc sinh học
biến động trong khoảng 30 giây đến 1 phút.
-Độ ẩm trong hệ thống: Ẩm độ của luồng khí thải cần phải xử lý rất quan trọng vì
nó giữ ẩm độ cần thiết cho các màng sinh học. Do đó, luồng khí thải thường được
bơm qua một hệ thống phun sương trước khi bơm vào hệ thống lọc sinh học để
đảm bảo ẩm độ của luồng khí thải đi vào hệ thống lọc sinh học phải lớn hơn 95%.
-Kiểm soát pH trong hệ thống: Các sản phẩm phụ của quá trình phân hủy sinh học
là các acid hữu cơ. Để duy trì pH từ 6-7,5 cho các vi sinh vật hoạt động tốt, chúng
ta cần có hệ thống pH controller.
-Giảm áp cho hệ thống: Việc giảm áp của luồng khí khi đi ngang lớp nguyên liệu
lọc nên được hạn chế tối đa. Nếu lớp nguyên liệu lọc gây trở lực lớn cho nguồn
khí, ta cần tiêu tốn thêm năng lượng cho máy thổi khí, gây tăng giá thành xử lý.
Khả năng gây trở lực cho nguồn khí phụ thuộc vào ẩm độ và độ rổng của lớp
nguyên liệu lọc. Độ ẩm tăng, độ rổng lớp nguyên liệu giảm là nguyên nhân gây
tăng trở lực cho nguồn khí. Đối với các hệ thống điển hình mức độ giảm áp nằm
trong khoảng 1-10 hPa.
-Bảo trì hệ thống: Khi bắt đầu đưa vào hoạt động, hệ thống cần được bổ sung chất
dinh dưỡn cho vi sinh một lần/ngày. Sau khi hệ thống đã hoạt động ổn định và đã
giải quyết tất cả các vấn đề có thể xảy ra. Tần số thăm có thể giảm xuống 1 lần/nửa
tháng hoặc hàng tháng.
-Ưu điểm:
QFgE0/#C9S($#$%
Dựa trên nguyên tắc các phần tử mang điện tích trái dấu sẽ hút nhau, máy sử
dụng công nghệ phát ra các điện tích âm vào không khí, trung hoà với các điện tích
đối xứng là những ion dương có hại trong môi trường và tạo hiệu ứng thu hút bụi
bẩn, vi khuẩn, nấm mốc… Các ion âm này cũng bám dính vào các phần tử độc hại
trong không khí và màng tĩnh điện tích điện dương trong máy sẽ hút và giữ các
phần tử này lại. Trong các phòng kín, nơi sử dụng nhiều thiết bị máy móc như máy
tính, máy in, ti vi, đèn neon… là những thiết bị toả ra nhiều ion dương gây hại cho
cơ thể, máy lọc không khí sẽ cung cấp ion âm và điều hoà không khí.
Môi trường nhiều bụi bẩn, ẩm mốc, không khí không được lưu thông cũng là nơi
phát sinh và ẩn chứa của nhiều loại vi khuẩn, phin lọc O2 và phin lọc than hoạt
tính sẽ có tác dụng tăng cường oxy, thu giữ vi khuẩn và lọc sạch bụi bẩn.
hRij
Qua bài tiểu luận, chúng ta có thể thấy được sơ lược tình trạng ô nhiểm môi
trường không khí trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Biết được
những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí và những tác hại do không
khí ô nhiễm gây ra, từ đó rút ra biện pháp khắc phục tình trạng,góp phần bảo vệ
môi trường sống.
Môn học hóa môi trường đã cung cấp cho chúng em những kiến thức cơ bản về
môi trường,giúp chúng em hoàn thiện bài tiểu luận, cũng như cho chúng em biết
được tầm quan trọng của môi trường sống đối với con người. Từ đó, sinh viên
chúng em càng thêm yêu quê hương đất nước và thêm ý thức bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên môi trường,tài nguyên khoáng sản quốc gia.
Rkilmn
1. Sự hướng dẫn,gợi ý từ giáo viên bộ môn.
2. />%E1%BB%85m_kh%C3%B4ng_kh%C3%AD_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB
%87t_Nam
3. />muc-nguy-hai.html
4. />hang-trieu-nguoi-moi-nam.html
5. />4434.html