BÁO CÁO THU HOẠCH THỰC TẬP THIÊN NHIÊN: VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA KHU VỰC TAM ĐẢO ĐỐI VỚI BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ, VIỆT NAM - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
-----------

BÁO CÁO THU HOẠCH THỰC TẬP THIÊN NHIÊN

CHUYÊN ĐỀ: VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA KHU VỰC TAM
ĐẢO ĐỐI VỚI BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CỦA ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ, VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện: Nhóm 1
1.
2.
3.
4.
5.

Bùi Duyên Hải
Lê Khánh Hiền
Phạm Thị Minh Nguyệt
Lê Thị Quỳnh Như
Đinh Thị Vy
Lớp: ĐH5QM1

Hà Nội, 06/2017
MỤC LỤC

MỤC LỤC BẢNG
Bảng 1: Tình hình đất đai của huyện Tam Đảo 2005-2010……………………………...13




MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài đối với sinh viên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi
trường
Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh
học cao nhất thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô... tạo nên môi
trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Hệ sinh thái
của Việt Nam rất phong phú, bao gồm 11.458 loài động vật, hơn 21.000 loài thực vật và
khoảng 3.000 loài vi sinh vật, trong đó có rất nhiều loài được sử dụng để cung cấp vật liệu
di truyền. Và vườn quốc gia Tam Đảo (VQG Tam Đảo) cũng là một phần nhỏ góp nên sự
đa dạng đó. VQG Tam Đảo nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo, chạy dài trên 80 km theo
hương Tây Bắc – Đông Nam, từ huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) đến thị xã Phúc Yên
(Vĩnh Phúc). Diện tích hiện nay của VQG Tam Đảo là 34.995 ha. VQG Tam Đảo được
biết đến như một trog các khu vực có giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) cao ở Việt Nam,
với nhiều loài có ý nghĩa quan trọng bảo tồn cấp quốc gia, khu vực và thế giới, đặc biệt là
các loài đặc hữu và quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng ở các cấp độ khác nhau, với 1436
loài thực vật và 1141 loài động vật. Tuy nhiên, đối mặt với hiện trạng ngày càng suy thoái
đa dạng sinh học ở Việt Nam các năm gần đây thì số loài động vật ở Tam Đảo có: 8 loài
đang nguy cấp, 17 loài sẽ nguy cấp, 13 loài hiếm có và 18 loài đang bị đe dọa và thực vật
có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái này, trong đó phải kể đến nguyên nhân
trực tiếp là khai thác quá mức tài nguyên rừng (khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ, săn bắt,
buôn bán động vật hoang dã,..) và việc lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp trong
nhiều năm qua. Việc khai thác đó đã làm mất đi nơi cứ trú của nhiều loại động, thực vật
và gây ô nhiễm môi trường. Suy thoái đa dạng sinh học làm mất cân bằng hệ sinh thái,
ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống cũng như sức khỏe của con người, động thực vật
và đe dọa sự phát triển bền vững tại VQG Tam Đảo. Mặt khác, hệ động thực vật và hệ
sinh thái là nguôn cung cấp lương thực, thực phẩm, dược liệu và công cụ cho con người.
Do vậy, hệ sinh thái suy thoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực, thực phẩm
làm cho người dân nơi đây phải đối diện với sự nghèo đói, suy giảm nguồn gen và đặc



gồm 50km theo quốc lộ 2 và 24km theo quốc lộ 2B trong đó có 13km đường đèo. 14h30,
xe bắt đầu chuyển bánh, bắt đầu cuộc hành trình 3 ngày 2 đêm của chúng tôi.

(Hình ảnh trên đường đến Tam Đảo- Người chụp: Lê Thị Quỳnh Như)

7


Sau hơn 2h đồng hồ ngồi trên xe ô tô chúng tôi đã có mặt ở Tam Đảo. Tam Đảo cao
hơn mực nước biển 1000m. Tam Đảo có khí hậu nhiệt đới gió mùa; lượng mưa trung bình
hàng năm đạt đến 2.800 mm và tập trung
trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10
với khoảng 90% tổng lượng mưa của cả
năm. Trong mùa khô, lượng mưa và độ ẩm
ở các đai cao rất thấp làm cho những vùng
này rất dễ bị cháy. Nhiệt độ ở Tam Đảo
thấp hơn Hà Nội từ 4-5OC. Không khí mát
mẻ khiến cho mọi người đều cảm thấy vui
vẻ, thoải mái vì thoát khỏi cái nóng oi bức
ở Hà Nội. Sau khi đến chúng tôi nhận
phòng và nghỉ ngơi tại khách sạn Tuấn
Anh nằm ở Trung tâm Tam Đảo. Sáng
ngày 6/6/2017, chúng tôi nhận thông báo
tập trung, đoàn chúng tôi sẽ chia làm 2
nhóm đi khảo sát tại 2 điểm chính là tại đỉnh Rùng Rình tìm hiểu về đa dạng sinh học và
đi xung quanh Thị trấn Tam Đảo để tìm hiểu về các mô hình sinh kế của người dân tại
đây. Và ngay sau đấy, nhóm chúng tôi đi tìm hiểu về mô hình sinh kế nơi đây. Điểm dừng
chân đầu tiên là tại vườn cây su su. Tại đây, chúng tôi được a Lực hiện đang công tác tại

Hình ảnh trên đường lên đỉnh Rùng Rình (Người chụp: Lê Thị Quỳnh Như)
Sau đó, khoảng 11h30 chúng tôi quay về khách sạn ăn uống và nghỉ ngơi. Đến chiều,
chúng tôi đi tham quan một vài địa điểm du lịch tại đây, sau đó trở về khách sạn trả phòng
và trở về trường lúc 18h.
PHẦN 2: Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa (Field research) hay còn được gọi là nghiên
cứu điền dã là phương pháp truyền thống của địa lý học và được sử dụng rộng rãi trong
du lịch để tích lũy tài liệu về lịch sử hình thành, phát triển và đặc điểm của tổ chức lãnh
thổ nghỉ ngơi du lịch. Các phương pháp quan sát tham dự (participant research), thu thập
dữ liệu (data collection) và nghiên cứu khảo sát (servey research) là ví dụ về nghiên cứu
thực địa tương phản với phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.
Để thực hiện việc nghiên cứu ngoài thực địa, chúng ta cần có một số kĩ năng nhất
định cần chú ý cụ thể là kĩ năng chụp hình, điều tra và ghi chép thông tin trên các tuyến
đường khảo sát.
2.1.Phương pháp và chú ý chụp ảnh khu vực rừng núi
+ Trước hết cần hiều rõ phạm vi khu vực điều tra, các loại hình ảnh cần thu thập, từ
đó chụp những bức hình mang tính chọn lọc, sử dụng cho mục đích nghiên cứu, tránh
lãng phí thời gian, công sức.
11


+ Hiểu biết được các yếu tố ảnh hưởng đến khu vực điều tra như lượng ánh sáng, địa
hình, thời thiết bất thường có thể xảy ra, thú hoang, côn trùng, nấm độc,….
+ Khi chụp hình cần chọn đúng độ phơi sáng, giữ chắc tay máy, sử dụng chế độ chụp
tay
+ Sử dụng chân máy để lấy sáng lâu hơn và giúp bức ảnh sắc nét, không bị rung tay.
+ Chụp nhiều bức ảnh tại một địa điểm sẽ giúp chúng ta thu được bức ảnh tốt nhất
+ Ghi nhớ rằng những gì xuất hiện trên ống kính mới là bức ảnh ta thu được, vì vậy
cần chọn góc máy, bố cục khung hình hợp lý để thể hiện được tất vả những gì ta nhìn
thấy.

ha rừng và đất rừng, nằm trên địa giới hành chính của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và
Tuyên Quang. Có chiều dài hơn 80km chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
- Diện tích vườn quốc gia Tam Đảo được phân bố tại 3 tỉnh như sau:
+ Địa phận tỉnh Vĩnh Phúc: 15.579,0 ha;
+ Địa phận tỉnh Tuyên Quang: 6.744,0 ha;
+ Địa phận tỉnh Thái Nguyên: 12.672,0 ha.

- Tọa độ địa lý của Vườn quốc gia Tam Đảo: 21°21'-21°42' vĩ Bắc và 105°23'-105°44'
kinh Đông.
- Địa giới hành chính VQG được giới hạn như sau:
13


+ Phía Bắc là đường quốc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua đèo Khế.
+ Phía đông – bắc được giới hạn bởi đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến
gặp quốc lộ 13A tại xã Phú Xuyên huyện Đạt Từ.
+ Phía nam được giới hạn bởi ranh giới các huyện Tam Đảo, Mê Linh thuộc Vĩnh
Phúc; Phô Yên, Đại Từ thuộc Thái Nguyên.
+ Phía tây – nam giáp đường ô tô phía trái song Phó Đáy nối từ Đường 13A tại xã
Kháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân Tam Đảo gặp sông Bà Hanh tại xã
Mỹ Khê bên hồ Đại Lải.
3.1.2. Địa hình, địa mạo
VQG Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình khối đồ sộ, nằm ở
phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, chạy dài theo hướng tây- bắc- đông- nam. Cả khối núi có đặc
điểm chung là đỉnh nhọn, sườn dốc, độ chia cắt sâu và dày. Chiều dài khối núi gần 80km,
có gần 20 đỉnh cao sàn sàn trên 1000m được nối với nhau bằng đường dông núi sắc, nhọn.
Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1592m) là ranh giới địa chính của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên
Quang và Thái Nguyên. Chiều ngang biến động trong khoảng 10-15km. Núi cao, bề
ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25-35 độ, nhiều nơi trên 35 độ nên rất
hiểm trở và khó đi.

- Đất Feralit mùn vàng: phát triển trên đá Macma axit, loại đất này xuất hiện ở độ
cao từ 700 m trở lên, có diện tích là 8968ha, chiếm 24,31% diện tích của vườn.
- Đất Feralit mùn vàng đỏ: phân bố trên núi thấp, phát triển trên đá Macma kết tinh,
loại đất này có diện tích 9292ha, chiếm 25,19% diện tích và xuất hiện ở độ cao từ 400m700m.
- Đất Feralit đỏ vàng: phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, loại đất này thường
thấy ở độ cao từ 100 (400m, có diện tích là 17606 ha, chiếm 47,33% diện tích Vườn).
- Đất dốc tụ và phù sa: loại đất này ở độ cao từ 100m trở xuống, thường thấy ở ven
chân núi, thung lũng hẹp, ven sông suối lớn, có diện tích là 1017ha, chiếm 2,76% diện
tích Vườn.
3.1.4. Khí hậu
Do địa hình phức tạp, nhất là sự khác biệt về địa hình giữa vùng núi cao với đồng
bằng thấp ven sông nên khí hậu, thời tiết của huyện Tam Đảo được chia thành 2 tiểu vùng
rõ rệt (các tiểu vùng về khí hậu, không trùng với địa giới hành chính cấp xã). Cụ thể:
- Tiểu vùng miền núi, gồm toàn bộ vùng núi Tam Đảo thuộc trị trấn Tam Đảo và các
xã Minh Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù... có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ
trung bình 18oC-19oC, độ ẩm cao, quanh năm có sương mù tạo cảnh quan đẹp. Khí hậu
tiểu vùng miền núi mang sắc thái của khí hậu ôn đới, tạo lợi thế trong phát triển nông
nghiệp với các sản vật ôn đới và hình thành các khu nghỉ mát, phát triển du lịch sinh thái,
du lịch nghỉ dưỡng vào mùa hè.
- Tiểu vùng khí hậu vùng thấp, bao gồm phần đồng bằng của các xã Minh Quang, Hồ
Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù và toàn bộ diện tích của các xã còn lại. Tiểu vùng khí
hậu của vùng mang các đặc điểm khí hậu gió mùa nội chí tuyến vùng Đông Bắc Bắc Bộ.
15


Nhiệt độ của tiểu vùng trung bình ở mức 22 oC-23oC, độ ẩm tương đối trung bình khoảng
85-86%, lượng mưa trung bình 2.570 mm/năm và thường tập trung vào tháng 6 đến tháng
9 trong năm.
- Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc nên chịu ảnh hưởng của
chế độ nhiệt đới gió mùa ẩm. Mưa bão có sự tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống.


nguồn dự trữ nước khá phong phú phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của nhân dân
trong vùng.
3.2. Tài nguyên thiên nhiên
3.2.1. Tài nguyên đất
- Về số lượng: Theo số liệu kiểm kê năm 2010, tổng diện tích tự nhiên của huyện
Tam Đảo là 23.587,62. Đất nông, lâm, thủy sản là 19.020,42 ha chiếm 82,64% tổng diện
tích đất tự nhiên. Đáng lưu ý là, trong đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm
có 3.179,21 ha, chiếm 72,68%, trong đó đất trồng lúa là 2.618,96 ha, chiếm 82,38%, đất
trồng cây hàng năm. Đất cây lâu năm là 1.194,86 ha, chiếm 27,32% diện tích đất sản xuất
nông nghiệp. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản chỉ có 28,00 ha trong khi diện tích
mặt nước chuyên dùng lên đến 1.624,82 ha.
Bảng 1: Tình hình đất đai của huyện Tam Đảo 2005-2010
Đơn vị: ha
TT Loại Đất

2005

2006

2008

2010

Tổng diện tích tự nhiên

23.573,10

23.573,10


Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ
sản
30,99

34,03

33,59

3

Đất sản xuất lâm nghiệp

14.822,21

14.804,90

14.704,33

14.618,35

II

Đất phi nông nghiệp

3.882,79

3.943,12

4.114,94


1,82

1,84

1,82

3

Đất bằng chưa sử dụng

45,13

45,38

44,03

20,56

28,00

Phòng Thống kê huyện Tam Đảo - Tài liệu phục vụ Quy hoạch.
Trong 14.618,35 ha đất lâm nghiệp, đất rừng sản xuất chỉ có 1.752,28 ha, đất rừng
phòng hộ có 537,66 ha, đất rừng đặc dụng lên đến 12.328,41 ha. Đây là tiềm năng quý,
nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề bảo vệ trong phát triển kinh tế.
17


Với quỹ đất như trên, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người khá thấp
(khoảng 0,36 ha). Nhưng do đã giao cho VQG Tam Đảo, Lâm trường Tam Đảo và các tổ
chức khác trên địa bàn nên thực tế diện tích sản xuất bình quân đầu người ở Tam Đảo

Năm 2010 dân số của toàn huyện Tam Đảo là 71.528 người, mật độ dân số trung bình
là 303 người/km2, trong đó dân tộc thiểu số chiếm khoảng 44,5% (chủ yếu là dân tôc Sán
Dìu).
Bảng 2: Biến động nguồn lao động huyện Tam Đảo giai đoạn 2004-2010
Đơn vị: người
Chỉ tiêu
1.Tổng dân số
2. Tổng LĐ đang làm việc
- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

2004
67.235
31.197
20.23
5
- Công nghiệp, TTCN, xây dựng 5.269

2005
67.990
32.002
19.92
1
5.588

2009
70.694
34.136
17.95
6
7.305

20.04
7
10.03
3
10.05
2

3. Chất lượng nguồn lao động
- Lao động chưa qua đào tạo

30.14 30.82 31.16 29.39 26.07 24.07
9
1
6
2
6
9
- Công nhân kỹ thuật
225
320
1.092 2.974 5.588 7.224
- Trình độ trung cấp
490
512
922
1.176 2.608 4.013
- Cao đẳng, đại học trở lên
333
349
956

giáo vào Việt Nam.
- Hiện nay, Tam Đảo còn lưu giữ được một làn điệu dân ca truyền thống của dân tộc
Sán Dìu, đó là hát Soọng Cô. Bên cạnh hát Soọng Cô, khu vực xã Đạo Trù còn có “Chợ
tình”, do thời gian và sự phát triển của Kinh tế - Xã hội, chợ tình Đạo Trù hiện nay đã mai
một, nhưng có thể khôi phục lại.
- Tam Đảo là huyện miền núi có 3 xã thuộc Chương trình 135. Vì vậy, Tam Đảo đã
và đang tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước qua các Chương
trình phát triển kinh tế đối với các xã vùng cao, các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn.

Thiền viện trúc lâm Tây Thiên-Người chụp: Đinh Thị Vy

20


PHẦN 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1.Kết quả tìm hiểu
- Đa dạng sinh học và môi trường khu VQG Tam Đảo
- Vai trò và tầm quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.
4.2.Phân tích kết quả thu được
4.2.1 Tổng quan giá trị về đa dạng sinh học của VQG Tam Đảo
Tam Đảo là một trong các địa danh nổi tiếng trên thế giới và đặc biệt được giới khoa
học quan tâm bởi những giá trị to lớn về mặt đa dạng sinh học.
a.Đa dạng loài và giá trị về mặt bảo tồn
VQG Tam Đảo có số loài vô cùng đa dạng, thu hút được rất nhiều sự quan tâm của
các nhà khoa học trong và ngoài nước. Rất nhiều nghiên cứu về động thực vật Tam Đảo
đã được tiến hành từ đầu thế kỷ 20, cho đến nay vẫn được lại đi lặp lại liên tục, nhiều loài
mới vẫn còn được phát hiện. Bên cạnh đó, VQG vẫn đang là điểm đến cho rất nhiều công
trình nghiên cứu khoa học về đa dạng sinh học khác.
Ví dụ như: “Đánh giá trạng thái Voọc Francois và các loài linh trưởng khác” (CeREC)
Hay như năm 2014, TS. Haruki Karube (Nhật Bản) và TS. Matti Hämäläinen (Phần Lan)

Bảng 5: Tính đa dạng của các bộ côn trùng tại VQG Tam Đảo

Theo nghiên cứu chuyên về Bướm (Bộ Cánh vẩy - Lepidoptera) ở VQG Tam Đảo
do Monatyrski A.L., Vũ Văn Liên và Bùi Xuân Phương thực hiện (2005), nơi đây có tới 6
loài và 2 phân loài mới cho khoa học, 22 loài được ghi nhận lần đầu tiên cho Việt Nam, ít
nhất 3 loài được ghi nhận là mới cho miền Bắc Việt Nam. Như vậy, số loài côn trùng
VQG Tam Đảo đã lên tới gần 700 loài, trên 30 loài mới bổ sung cho VQG Tam Đảo (8
loài và phân loài mới cho khoa học + 22 loài mới cho Việt Nam + ít nhất 3 loài mới cho
Miền Bắc). Trong một thời gian rất dài, nhất là trước những năm 2003, tình trạng đánh bắt
và buôn bán côn trùng ở Tam Đảo tập trung chủ yếu vào hai bộ Cánh cứng (Coleoptera,
vd. Cua bay) và Cánh vẩy (Lepidoptera, vd. Bướm phượng 6 kiếm) cũng vì giá trị đa
dạng sinh học lớn của các bộ này tai VQG này.
*Đa dạng động vật có xương sống:

23


Loài Sa Giông tại Tam
Đảo

- Lưỡng cư: là nhóm động vật đặc sắc đối với VQG Tam Đảo. Trên logo của VQG
Tam Đảo có in hình một loài lưỡng cư, chính là Sa Giông (còn gọi là cá cóc Tam Đảo).
Đây là loài động vật đặc hữu hẹp, chỉ có ở Tam Đảo, được phát hiện từ năm 1934, là một
biểu tượng của VQG này.
Trong phạm vi dãy núi Tam Đảo Cá cóc sống chủ yếu trong các suối nhỏ trong
vùng rừng tự nhiên ở sườn tây, suốt từ Xã Kháng Nhật (Sơn Dương, Tuyên Quang) đến
xã Hồ Sơn,Thị trấn Tam Đảo, ở độ cao từ 500m trở lên tới 1200m.Phần lớn các loài khác
gặp được chủ yếu ở vùng thấp dưới 900m.Số lượng loài Lưỡng cư được ghi nhận tại
VQG Tam Đảo ngày càng tăng. Khi lập Dự án khả thi xây dựng VQG Tam Đảo (19921995) mới chỉ biết đến 19 loài thuộc 7 họ, 2 bộ; 1993 đã phát hiện tới 27 loài, và hiện nay
đã lên tới 57 loài thuộc 8 họ, 3 bộ. Điều này có thể hứa hẹn rằng vẫn còn khả năng phát

này. Đây là nhóm động vật bị tổn thương mạnh nhất do các tác động của con người vào
môi trường. Những nghiên cứu giám sát sự phát triển của nhóm động vật này đã được đặc
biệt chú ý ở VQG Tam Đảo. Kết quả mới nhất của những nghiên cứu theo hướng này cho
biết hiện nay ở VQG Tam Đảo đang sinh sống 77 loài thuộc 24 họ và 8 bộ, theo đó bộ Dơi
(Chiroptera) có số loài cao nhất (25 loài), tiếp đến là các bộ Gặm nhấm (Rodentia) – 18
loài, Khỉ hầu (Primates) – 5 loài, Guốc chẵn (Artiodactyla) – 5 loài, Ăn sâu bọ
(Insectivora) – 2 loài; Nhiều răng (Scandentia) và Tê tê (Pholidota) - mỗi bộ 1 loài. Mặc
dù đã đưa ra khỏi danh sách một số loài bị coi làkhông còn tồn tại ở VQG như Vượn đen
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status